Erich Honecker

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Erich Honecker
Bundesarchiv Bild 183-R1220-401, Erich Honecker.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 1971 – 1989
Tiền nhiệm Walter Ulbricht
Kế nhiệm Egon Krenz
Nhiệm kỳ 1976 – 1989
Tiền nhiệm Willi Stoph
Kế nhiệm Egon Krenz
Nhiệm kỳ 1971 – 1989
Tiền nhiệm Walter Ulbricht
Kế nhiệm Egon Krenz
Thông tin chung
Đảng Đảng Thống nhất Xã hội Chủ nghĩa Đức
Sinh 25 tháng 8, 1912(1912-08-25)
Neunkirchen (Saar), Đức
Mất 29 tháng 5, 1994 (81 tuổi)
Santiago, Chile

Erich Honecker (25 tháng 8 năm 191229 tháng 5 năm 1994) là một chính trị gia người Đức, từng nắm vị trí lãnh đạo Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) từ 1971 tới 1989.

Xuất thân và buổi đầu sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Erich Honecker sinh tại Max-Braun-Straße ở Neunkirchen, hiện là Saarland, là con trai một người thợ mỏ, Wilhelm Erich, với bà Caroline Catharina Weidenhof. Hai người cưới nhau năm 1905 và có được sáu người con: Katharina (Käthe), Wilhelm (Willi), Frieda, Erich, Gertrud (sinh 1917; m. Hoppstädter), và Karl-Robert.

Chịu ảnh hưởng từ cha mình, một người hoạt động tích cực trong phong trào Công đoàn, năm 1922 Erich Honecker gia nhập tổ chức Liên đoàn Spartacus khi mới 10 tuổi, và sau đó là Liên đoàn Cộng sản Thanh niên Đức (KJVD), tổ chức thanh niên của Đảng Cộng sản Đức (KPD) vào năm 1926 và gia nhập KPD năm 1929. Từ 1928 tới 1930 ông làm thợ lợp nhà, nhưng không qua được bậc học nghề. Sau đó ông sang Moscow để học tại Trường Quốc tế Lenin và trong suốt cuộc đời còn lại luôn làm một chính trị gia chuyên nghiệp.

Ông quay trở lại Đức năm 1931 và bị bắt giữ năm 1935, hai năm sau khi phe Phát xít lên nắm quyền. Năm 1937, ông bị kết án 10 năm tù vì các hoạt động cộng sản và tiếp tục ở tù cho tới khi Thế chiến II chấm dứt. Sau khi chiến tranh kết thúc, Honecker nối lại các hoạt động trong đảng dưới sự lãnh đạo của Walter Ulbricht, và, vào năm 1946, trở thành một trong những thành viên đầu tiên của Đảng Thống nhất Xã hội chủ nghĩa Đức (Sozialistische Einheitspartei Deutschlands, SED), được hình thành sau sự hợp nhất của KPD và Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) trong vùng chiếm đóng Xô viết của Đức.

Sau chiến thắng của SED trong cuộc bầu cử tháng 10 năm 1946, Honecker có vị trí là một trong số những lãnh đạo đầu tiên của SED trong nghị viện Đông Đức thời hậu chiến, Đại hội Nhân dân Đức (Deutscher Volkskongress). Cộng hòa Dân chủ Đức được tuyên bố thành lập ngày 7 tháng 10 năm 1949 với việc thông qua một hiến pháp mới, thành lập một hệ thống chính trị giống với hệ thống chính trị Liên Xô. Honecker là một ứng viên cho chức Bí thư Ủy ban Trung ương năm 1950; tới năm 1958, ông đã là một ủy viên chính thức của Bộ chính trị.

Lãnh đạo Đông Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Erich Honecker

Vào năm 1961, Honecker, với tư cách Bí thư Ủy ban Trung ương về các vấn đề an ninh, chịu trách nhiệm xây dựng Bức tường Berlin. Vào năm 1971, ông khởi động cuộc đấu tranh quyền lực, với sự hỗ trợ của Liên Xô, dẫn tới việc ông trở thành nhà lãnh đạo mới, thay thế Walter Ulbricht trong chức vụ Bí thư thứ nhất Ủy ban Trung ương SED và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Năm 1976, ông cũng trở thành Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Vorsitzender des Staatsrats der DDR) và vì thế trên thực tếnguyên thủ quốc gia.

Dưới thời Honecker, Cộng hòa Dân chủ Đức tiến hành một chương trình "chủ nghĩa xã hội tiêu dùng", dẫn tới sự cải thiện đáng kể tiêu chuẩn sống vốn đã cao trong các nước thuộc khối Đông Âu. Ông đặt chú ý nhiều vào sự sẵn có của hàng tiêu dùng, và việc xây dựng nhà cửa được đẩy nhanh, với lời hứa của Honecker "đặt vấn đề nhà cửa như một vấn đề của xã hội"[1]. Tuy thế, dù có tiêu chuẩn sống được cải thiện, sự bất đồng nội bộ không được khoan dung. Khoảng 125 công dân Đông Đức [cần dẫn nguồn] đã bị bắn chết trong giai đoạn này khi tìm cách vượt biên trái phép vào Tây Đức hay Tây Berlin.

Trong một cuộc huấn luyện Quân đội Nhân dân Quốc gia ở phía nam Đông Đức: Ivan Yakubovsky, Otto Grotewohl, Erich Honecker, Heinz Hoffmann

Về quan hệ nước ngoài, Honecker từ bỏ mục tiêu thống nhất nước Đức và chấp nhận một quan điểm "phòng thủ" của ý thức hệ Abgrenzung (phân chia ranh giới). Ông kết hợp sự trung thành với Liên Xô cùng sự mềm dẻo với tình trạng giảm căng thẳng, đặc biệt trong quan hệ với Tây Đức. Tháng 9 năm 1987, ông trở thành lãnh đạo nhà nước đầu tiên của Đông Đức viếng thăm Tây Đức.

Cuối thập niên 1980, lãnh đạo Xô viết Mikhail Gorbachev đưa ra các cải cách glasnostperestroika, để tự do hóa chủ nghĩa Cộng sản. Tuy nhiên, Honecker và chính phủ Đông Đức từ chối áp dụng các cải cách tương tự tại Cộng hòa Dân chủ Đức, theo thông báo Honecker đã nói với Gorbachev: "Chúng tôi đã tiến hành cải tổ của mình, chúng tôi chẳng có gì phải cơ cấu lại"[2]. Mặt khác, chế độ của ông cũng khôi phục lại tượng đài vị vua nước Phổ xưa Friedrich II Đại Đế (1712 - 1786) - vốn bị dán nhãn là biểu tượng của "chủ nghĩa quân phiệt Phổ" và bị gỡ đi sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai - tại đại lộ Unter den Linden. Kể từ năm 1980, ông tuyên bố vua Friedrich II Đại Đế là người có công lớn với đất nước và nhân dân, và từ khi ấy giới học giả theo chủ nghĩa Marx-Lenin bắt đầu nghiên cứu về vị anh quân có tư tưởng tiến bộ này[3].[4] Khi phong trào cải cách lan rộng khắp Trung và Đông Âu, những cuộc tuần hành lớn chống chính phủ Đông Đức diễn ra, đáng chú ý nhất là cuộc tuần hành thứ 2 năm 1989 tại Leipzig. Đối mặt với tình trạng bất ổn dân sự, các thành viên khác trong Bộ chính trị của Honecker kết luận cần phải thay thế ông. Honecker khi ấy đã già và ốm yếu bị buộc phải từ chức ngày 18 tháng 10 năm 1989, và được thay thế bởi Egon Krenz.

Sau năm 1989[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Cộng hòa Dân chủ Đức bị giải tán tháng 10 năm 1990, vợ chồng Honecker ở với gia đình vị mục sư Giáo hội Luther Uwe Holmer. Sau đó Honecker sống trong một bệnh viện quân sự Liên Xô gần Berlin trước khi bỏ trốn với Margot Honecker tới Moskva, để tránh bị truy tố vì các trách nhiệm thời Chiến tranh Lạnh. Ông bị chính phủ Đức buộc tội liên quan tới những cái chết của 192 người Đông Đức tìm cách bỏ trốn trái phép sang Cộng hòa Liên bang Đức. Sau sự sụp đổ của Liên Xô tháng 12 năm 1991, Honecker vào tị nạn trong đại sứ quán Chile tại Moskva, nhưng đã bị chính phủ Yeltsin trục xuất về Đức năm 1992. Tuy nhiên, khi phiên toà chính thức mở ra đầu năm 1993, Honecker đã được thả vì sức khoẻ kém ngày 13 tháng 1 và cũng trong năm ấy ông sang Chile sống cùng con gái Sonja, người con rể Chile Leo Yáñez, và con trai Roberto. Ông chết trong cảnh lưu vong vì ung thư gan tại Santiago de Chile ngày 29 tháng 5 năm 1994. Thi thể của ông được hỏa táng và tro được tin là thuộc sở hữu của bà quả phụ Margot.

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Honecker đã cưới vợ 3 lần. Sau khi được phóng thích vào năm 1945 ông đã lấy bà cai tù Charlotte Schanuel[5], mà đã chết vào năm 1947. Từ năm 1947 cho tới khi ly dị vào năm 1953 ông ở với vợ mới là cán bộ FDJ Edith Baumann. Họ có một con gái, Erika (sinh vào năm 1950), mà đã đẻ cho ông một đứa cháu ngoại, tên là Anke. Sau khi bà đại biểu quốc hội Margot Feist sinh cho ông một người con gái không hôn thú vào tháng 12 năm 1952, Sonja, bà Edith Baumann đã làm đơn li dị ông vào năm 1953. Cùng năm đó bà Margot Feist trở thành người vợ thứ ba của ông. Margot Honecker có hơn 20 năm làm Bộ trưởng Giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức. Từ cuộc hôn nhân của Sonja với ông Leonardo Yáñez Betancourt năm 1974 Honecker có được thêm một người cháu ngoại, Roberto Yáñez Betancourt y Honecker.[6] Margot, vợ của Honecker, con gái ông, bà Sonja, con rể ông, Leonardo Yáñez Betancourt, mà đã lị dị vợ vào năm 1993, cùng cháu ngoại ông, Roberto bây giờ sống ở Santiago de Chile.[7]

Có tin cho rằng Tổng bí thư Honecker đam mê săn bắn và đã trực tiếp tham gia săn bắn một số loại thú. Vì ý thích của ông các loại thú ở các nước cộng sản lân cận được cung cấp cho những bữa tiệc đi săn thường xuyên của ông.[8]

Những câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Bức Tường sẽ đứng trong 50 thậm chí 100 năm, nếu các lý do cho nó không được giải quyết." (Berlin, 19 tháng 1 năm 1989) (Nguyên văn: "Die Mauer wird in 50 und auch in 100 Jahren noch bestehen bleiben, wenn die dazu vorhandenen Gründe noch nicht beseitigt sind")
  • "Cả bò và lừa đều không thể chấm dứt quá trình xã hội chủ nghĩa." (Hai con vật trong văn vần Đức nguyên bản: "Den Sozialismus in seinem Lauf hält weder Ochs noch Esel auf", Berlin, 7 tháng 10 năm 1989)
  • "Tương lai thuộc về chủ nghĩa xã hội" (Nguyên văn: Die Zukunft gehört dem Sozialismus) (đầu thập niên 1980)
  • "Luôn tiến về phía trước, không bao giờ lùi lại." (Nguyên bản: Vorwärts immer, rückwärts nimmer) (đầu thập niên 1980)

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Tự truyện Honecker Aus meinem Leben đã được dịch sang tiếng Anh Từ cuộc đời tôi. New York: Pergamon, 1981. ISBN 0080245323

  • Fulbrook, Mary, The people's state: East German society from Hitler to Honecker, Yale University Press, c2005.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The GDR: A State of Peace and Socialism, Erich Honecker, German Propaganda Archive, Calvin College
  2. ^ [1]
  3. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 288
  4. ^ Giles MacDonogh, Frederick the Great: A Life in Deed and Letters, các trang 7-9.
  5. ^ Ed Stuhler: Margot Honecker. Eine Biografie, Ueberreuther, Wien 2003, S. 59–61, Faksimile der Heiratsurkunde S. 60.
  6. ^ Hartmut Kascha: Das geheime Leben von Honeckers Tochter in Dresden. In: Bild vom 25. Februar 2011 (online, Zugriff am 8. August 2012)
  7. ^ Marian Blasber: Honeckers Enkel. „Ein Rebell bin ich erst heute". In: ZEITmagazin vom 3. März 2011 (online, Zugriff am 8. August 2012).
  8. ^ "The Lost World of Communism", Episode 2 - A Socialist Paradise: East Germany, BBC 1, broadcast 14 tháng 3 năm 2009

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]