Thống nhất nước Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Political map of central Europe showing the 26 areas that became part of the united German Empire in 1891. Germany based in the northeast, dominates in size, occupying about 40% of the new empire.
Bản đồ Đế chế Đức 18711918, không chứa một nước nói tiếng Đức là Đế quốc Áo

Sự chính thức nhất thống của nước Đức thành một quốc gia hợp nhất về chính trịhành chính chính thức diễn ra vào ngày 18 tháng 1 năm 1871 tại Phòng Gương của Cung điện VersaillesPháp. Các Vương hầu trên khắp đến Đức đã tụ tập về đây để tuyên bố Quốc vương nước PhổWilhelm I lên làm Hoàng đế của Đế chế Đức sau khi quân Pháp đầu hàng trong Chiến tranh Pháp-Phổ. Thực chất, trong nhiều năm trước sự kiện này người Đức đã nỗ lực tiến hành thống nhất hầu hết các nước nói tiếng Đức thành một tổ chức Liên bang các quốc gia. Việc thống nhất các khác biệt rõ ràng về tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa giữa các dân cư của quốc gia mới, cho nên năm 1871 chỉ thực sự chiếm một khoảnh khắc trong một tiến trình liên tục của các quá trình thống nhất lớn hơn.

Sau năm 1648, trong Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức, cả dân tộc bị chia cắt thành 350 tiểu quốc độc lập về chính trị, mà mạnh nhất là nước Áo.[1] Ông vua thiên tài Friedrich II Đại Đế nước Phổ đã đưa Vương quốc của mình lên thành một liệt cường tranh hùng tranh bá với người Áo.[2] Một số nhà sử học coi công cuộc thống nhất nước Đức mở đầu với sự kiện ông thiết lập "Liên minh các Vương hầu" chống Áo vào năm 1785.[3] Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức đã bị giải thể khi Hoàng đế Franz II thoái vị (vào ngày 6 tháng 8 năm 1806) trong các cuộc Chiến tranh Napoleon. Mặc dù có sự gián đoạn pháp lý, hành chính, và chính trị liên quan đến việc kết thúc của đế quốc, người dân của các khu vực nói tiếng Đức trong đế chế cũ đã có một truyền thống ngôn ngữ, văn hóa và pháp lý phổ biến tăng cường hơn nữa thông qua chia sẻ kinh nghiệm của họ trong cách mạng Pháp và các cuộc chiến tranh Napoleon. Chủ nghĩa tự do châu Âu đưa ra một cơ sở tri thức cho sự thống nhất bằng cách thách thức các mô hình triều đại và tuyệt đối của các tổ chức xã hội và chính trị; biểu hiện của nó ở Đức nhấn mạnh tầm quan trọng của truyền thống, giáo dục, và sự thống nhất ngôn ngữ của các dân tộc trong một khu vực địa lý. Về kinh tế, việc tạo ra Liên Minh Thuế Quan Phổ (Zollverein) vào năm 1818, và mở rộng tiếp theo của nó để bao gồm các tiểu bang khác của Liên bang Đức, giảm cạnh tranh giữa và trong các bang. Các phương thức vận tải tạo điều kiện và du lịch vui chơi giải trí, dẫn đến liên hệ và đôi khi mâu thuẫn giữa những người nói tiếng Đức giả từ khắp Trung Âu. Mô hình của lĩnh vực ảnh hưởng ngoại giao là kết quả của Hội nghị Viên trong giai đoạn 1814-15 sau khi các cuộc chiến tranh Napoleon đã thông qua sự thống trị của Áo ở Trung Âu. Tuy nhiên, các nhà đàm phán tại kinh thành Viên đã không mang lại ảnh hưởng sức mạnh ngày càng tăng của nước Phổ trong và giữa các bang của Đức, không tiên lượng rằng Phổ sẽ thách thức Áo trong vai trò lãnh đạo các tiểu bang Đức. Tính nhị nguyên Đức đã trình bày hai giải pháp cho vấn đề thống nhất đất nước: Kleindeutsche Lösung, các giải pháp nước Đức nhỏ (Đức mà không có Áo), hoặc Großdeutsche Lösung, giải pháp lớn của Đức (Đức với Áo).

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1850 Liên minh Đức (Deutscher Bund) được tái thành lập. Sau khi tổ chức chính trị được phép thành lập năm 1860, nhiều đảng phái và công đoàn đã thành hình. Năm 1863 Ferdinand Lassalle thành lập Liên hiệp Công nhân Đức Phổ thông (Allgemeine Deutsche Arbeiterverein), đảng mà cuối cùng đã hòa nhập vào Đảng Xã hội Dân chủ Đức (Sozialdemokratische Partei Deutschlands – SPD) vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Xung đột Hiến pháp Phổ bắt đầu vào năm 1859, dẫn đến việc bổ nhiệm Otto von Bismarck vào cương vị thủ tướng Phổ và tăng cường quyền lực của nhà vua đối với quốc hội năm 1862.

Năm 1864 cuộc chiến tranh của Phổ và Áo chống lại Đan Mạch bùng nổ do Đan Mạch xâm chiếm Schleswig. Với sự đồng ý của các thế lực lớn châu Âu, hai quốc gia Đức tái chiếm lĩnh các công quốc Holstein và Schleswig.

Phổ giành phần thắng lợi trong cuộc Chiến tranh chống lại nước Áo tiếp theo đấy vào năm 1866, thôn tính Hannover, Nassau, Kurhessen, Hessen-Homburg, Schleswig-HolsteinFrankfurt. Thêm vào đó, Liên minh Bắc Đức (Norddeutscher Bund) dưới sự lãnh đạo của Phổ được thành lập. Vì thế nước Áo ly khai ra khỏi Đức. Nền độc lập của Bayern, WürttembergBaden được công nhận dưới áp lực của Pháp.

Tiếp theo đấy là căng thẳng giữa PhápPhổ. Leopold của Hohenzollern-Sigmaringen ứng cử ngai vàng Tây Ban Nha là nguyên cớ cho cuộc Chiến Tranh Đức-Pháp 1870/1871. Napoléon III khiêu khích cuộc chiến bằng cách đòi các vùng đất ở sông Rhein và Bismarck phản ứng với bức Điện báo Ems (Emser Depesche). Sau khi Pháp tuyên chiến, Phổ đã có thể lôi kéo tất cả các quốc gia Đức và các thế lực lớn còn lại của châu Âu về phía mình. Nước Pháp của Napoléon III bị bắt buộc phải đầu hàng qua chiến thắng của Phổ ở Sedan. Sau đấy, một chính phủ cộng hòa được thành lập tại Paris, phủ nhận các yêu sách của Phổ.

Cuộc chiến vì thế mà lại được tiếp tục và chỉ chấm dứt vào năm 1871 khi Pháp đầu hàng. Trong Hòa ước Frankfurt am Main, nước Pháp buộc phải từ bỏ vùng Elsass-Lothringen và phải trả tiền bồi thường chiến tranh.

Nhờ vào một số nhân nhượng, Bismarck đã có thể thúc đẩy được các quốc gia Nam Đức gia nhập Liên minh Bắc Đức. Lễ thành lập Đế chế Đức được tiến hành vào ngày 18 tháng 1 năm 1871 trong Đại Sảnh Gương của Lâu đài Versailles. Vua Phổ nhận danh hiệu Hoàng đế Đức.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Henk Bekker, Adventure Guide Germany, trang 6
  2. ^ George Peabody Gooch, Frederick the Great, the ruler, the writer, the man, trang X
  3. ^ Robert B. Asprey, Frederick the Great: the magnificent enigma, trang 628

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Bản mẫu:Germany topics Bản mẫu:GermanUnification Bản mẫu:National revivals