Schleswig-Holstein

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này viết về bang Schleswig-Holstein của nước Cộng hòa Liên bang Đức. Xem các nghĩa khác tại Schleswig-Holstein (định hướng)
Bang tự do Schleswig-Holstein
Cờ bang Huy hiệu bang
Cờ vạch ngang Schleswig-HolsteinCờ vạch ngang
Huy hiệu lớn của Schleswig-HolsteinHuy hiệu lớn
Số liệu cơ bản
Thủ phủ: Kiel
Diện tích: 15.799,38 km²
Dân số: 2,814 triệu (31/10/2013)
Mật độ dân số: 178 người / km²
GDP
 - Tổng cộng
 - Tỷ lệ trong GDP Đức

 tỉ €
Nợ trên đầu người:
Nợ tổng cộng: 31,359 tỷ EUR (31/12/2012)
ISO 3166-2: DE-SH
Trang Web chính thức: schleswig-holstein.de
Chính trị
Thủ hiến: Torsten Albig (SPD)
Chính phủ: SPD, Đảng Xanh, SSW
Phân chia số ghế trong quốc hội tiểu bang
(69 ghế):
Bầu cử lần cuối: Ngày 6 tháng 5 năm 2012
Bầu cử lần tới: 2017
Đại diện trong Hội đồng Liên bang
Số phiếu trong Hội đồng Liên bang Đức: 4
Vị trí trong nước Đức
Vị trí bang Schleswig-Holstein trong nước Đức
Cổng Holstentor ở Lübeck là một biểu tượng của Schleswig-Holstein và là một trong những công trình tiêu biểu của kiến trúc gạch nung theo phong cách Gô-tích.

Schleswig-Holstein là bang cực Bắc của Cộng hoà Liên bang Đức. Thủ phủ của bang là Kiel. Thành phố lớn duy nhất tiếp theo là Lübeck. Bang này nằm giữa hai biển là biển Bắcbiển Ban Tích, có diện tích 15.800 km², xếp thứ 12 trong 16 bang của Đức; dân số 2,8 triệu, xếp thứ 9. Bang có nguồn gốc từ tỉnh Schleswig- Holstein thuộc Phổ sau chiến tranh thế giới thứ 2. Phía Bắc giáp vùng Nam Đan Mạch của Đan Mạch, phía Nam giáp các bang HamburgNiedersachsen, phía Đông Nam giáp Mecklenburg-Vorpommern.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Schleswig-Holstein nhìn từ không gian

Về địa lý, Schleswig-Holstein bao gồm khu vực phía Nam của bán đảo Jylland và một phần của hạ du Bắc Đức. Schleswig-Holstein được bao bọc bởi biển Bắc ở phía Tây, biển Ban Tích và bang Mecklenburg-Vorpommern ở phía Đông, HamburgNiedersachsen ở phía Nam,Đan Mạch ở phía Bắc. Thành phố nhỏ Nortorf nằm ở trung tâm địa lý của Schleswig-Holstein.

Ở góc độ lịch sử, Schleswig-Holstein bao gồm phần phía Nam của Công quốc Schleswig, thành phố Hanse Lübeck và hai công quốc HolsteinLauenburg. Sông Eider và sông Levensau phân chia ranh giới giữa các công quốc SchleswigHolstein cho tới năm 1806 hay là 1864 (Chiến tranh Đức-Đan Mạch) là biên giới phía Bắc của Đế quốc La Mã Thần thánh hay Liên minh các quốc gia Đức. Sau khi tỉnh Schleswig-Holstein của Phổ được thành lập từ hai công quốc SchleswigHolstein vào năm 1870 thì Công quốc Lauenburg được nhập vào thành 1 huyện của tỉnh này. Chiếu theo "Luật về Đại Hamburg và các điều chỉnh khu vực", vào năm 1937, các khu vực sau được nhập vào tỉnh Schleswig-Holstein: Pháo đài Lübeck (huyện Eutin) của Nhà nước Cộng hoà Oldenburg, thành phố Hanse Lübeck và các khu vực được sát nhập vào Hamburg trước đây là Geesthacht, GroßhansdorfSchmalenbeck. Đổi lại, các thành phố của Holstein gồm Altona (lúc đó là thành phố lớn nhất Holstein) và Wandsbek cũng như nhiều làng xã khác, gồm cả Blankenese được nhập vào Hamburg.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Các vùng địa hình ở Schleswig-Holstein

Từ Tây sang Đông, địa hình của Schleswig-Holstein được phân chia ra thành các vùng đầm lầy, vùng cát cao, vùng cát thấp và vùng đồi Schleswig-Holstein (còn gọi là vùng đồi miền Đông). Địa hình này cũng như các vùng cát là địa hình băng tích được tạo ra trong Kỷ Băng hà cuối cùng. Phía Đông có đảo Flemarn là vùng băng tích được tạo ra trong Kỷ Băng hà cuối cùng. Sông lớn nhất của bang là sông Eider, điểm cao nhất là núi Bungsberg (168m).

Bờ biển phía Tây được đặc trưng bằng bãi triều (Wattenmeer), trong đó hướng Bắc có bán đảo Eiderstedt vươn ra biển, được bao bọc bởi quần đảo Nordfriesische Inseln cùng vô số cù lao bên ngoài. Cho tới nay, các địa danh gọi theo cách phân chia các khu vực hành chính cũ như WiedinghardeBökingharde (khu Wieding và khu Böking) vẫn được sử dụng để đặt tên cho các công sở. Phía Nam của vùng này là vùng Nordergoesharde với một phần thuộc địa hình bãi cát, vùng Sudergoesharde là vùng địa hình bãi cát. Thuộc địa hình đảo và cù lao có các đảo Helgoland.

Phía Nam của vùng Nordfriesland, giữa hai cửa sông Eider và Elbevùng đầm lầy (Marschland), được hình thành từ vùng đầm lầy Bắc Norderdithmarsch và vùng đầm lầy Nam Süderdithmarsch. Tiếp theo là vùng đầm lầy Erbmarschen bao gồm đầm lầy WilstermarschKremper Marsch. Bờ biển phía Đông cũng rất phì nhiêu, được phân chia ra thành các bán đảo Angeln, Schwansen, Dänischer WohldWagrien bởi các vịnh lớn nhỏ. Các vùng đất bao quanh các hồ ở Holstein được gọi là vùng Thuỵ Sĩ của Holstein (Trong thế kỷ 19 thời đại Lãng mạn Thụy Sĩ tượng trưng cho vùng đất thơ mộng, phong cảnh đẹp mắt). Vùng đồi Hüttener Berge nằm trong lục địa và giáp với vùng cát. Vùng cát do đất đai ít phù hợp cho canh tác nên được khai phá muộn hơn. Những nỗ lực khai hoang vùng cát và đầm lầy vào thế kỷ XVIII có thể xem là đã thất bại. Đặc biệt ở đây cần nhắc tới vùng cát Schleswigsche Geest trên 1 dải đất hẹp đã sớm giữ vai trò quan trọng cho giao thông giữa vùng SchleiEider với Süđergoesharde và vùng Stapelholm. Gần Neumünster có vườn thiên nhiên Naturpark Aukrug. Phía Đông Hamburg là vùng Stormarn mà phần phía Tây là huyện Stormarn. So với các bang khác thì bang Schleswig-Holstein là bang nghèo rừng, bởi rừng ở đây chỉ che phủ 10% diện tích.

Các vùng miền[sửa | sửa mã nguồn]

Các vùng miền và sông ngòi Schleswig-Holstein

Bảo tồn thiên nhiên và cảnh quan[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn quốc gia và vườn thiên nhiên ở Schleswig-Holstein

Vườn quốc gia Nationalpark Schleswig-Holsteinisches Wattenmeer là vườn lớn nhất ở Trung Âu, cũng được xem phần nào là khu dự trữ sinh quyển. Ngoài ra, các khu bảo tồn thiên nhiên "Hohes Elbufer zwischen Tesperhude und Lauenburg""Lauenburger Elbvorland" với đặc điểm là vùng lõi cũng chiếm 1 phần nhỏ của khu dự trữ sinh quyển sông Elbe Biosphärenreservat Flusslandschaft Elbe tại Schleswig-Holstein. Trong 80 năm qua bang đã xác định 189 khu bảo tồn thiên nhiên. Ngoài vườn quốc gia thì những khu này chiếm một diện tích là 2000 km², trong đó có 1600 km² là biển và bãi triều. Các hội bảo tồn thiên nhiên chăm sóc các khu bảo tồn theo thoả thuận với bang. Ngoài ra còn có 6 vườn thiên nhiên: Schlei, Hüttener Berge, Westensee, Aukrug, Holsteinische Schweiz, Lauenburgische Seen. Không có vườn nào trong số này ở biển hoặc bờ biển. Giáp nối với vườn thiên nhiên Lauenburgische Seen là khu dự trữ sinh quyển Schaalsee của bang Mecklenburg-Vorpommern. Một điều đặc biệt là khu bảo tồn động thực vật Haseldorfer Graureiherkolonie ở huyện Pinneberg. Đây là vùng sinh sản lớn và quan trọng nhất của diệc xám ở Schleswig-Holstein.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Schleswig-Holstein có 2,81 triệu dân. Mật độ dân số 179 người/km², ít hơn 1/5 so với mật độ dân số trung bình toàn liên bang. Kết cấu độ tuổi và giới tính tương ứng mặt bằng chung trong liên bang. Nữ có 45,7% kết hôn, 12,9% goá bụa và 6,4% ly hôn. Tỉ lệ này ở nam là 47,7%; 2,6% và 5,4%. Dân cư phân bố không đều theo vùng miền. Ngoài các thành phố trực thuộc bang thì khu vực xung quanh Hamburg, đặc biệt là các huyện PinnebergStormarn có mật độ dân cư cao; phần miền quê của Schleswig và huyện Dithmarschen thì mật độ dân cư so ra còn thưa thớt.

Cư dân gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư gốc gác lịch sử có nguồn gốc từ người Hạ Xắc-xông, Ăng-lô, Giút-lan. Cho tới Thời kỳ Di cư thì người Ăng-lô còn định cư ở Bắc Schleswig-Holstein. Tên gọi vùng Angeln (Ăng-lô) còn chứng tỏ điều này.Trong thời kỳ Viking thì người Đan Mạch định cư ở miền Trung và Đông của Schleswig, người Xắc-xông ở khu vực Trung và Tây Nam của Holstein, các bộ tộc của người Sla-vơWagrierPolaben ở miền Đông của HolsteinLauenburg.

Các dân tộc thiểu số[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Schleswig-Holstein có cộng đồng thiểu số người Đan Mạch (ở phần đất Schleswig), người Fri-dơ (ở bờ biển Nordfriesland và trên các đảo) và một cộng đồng người thiểu số truyền thống Sinti và Roma (người Di-gan) tập trung trước hết ở các thành phố lớn như Kiel, Lübeck cũng như vùng xung quanh Hamburg. Các dân tộc thiểu số này được sự bảo vệ đặc biệt theo Điều 5 của Hiến pháp Bang Schleswig-Holstein. Tiếng của các dân tộc thiểu số cũng như tiếng Đức thổ ngữ hạ du được Hiến chương Châu Âu về Tiếng thiểu số và địa phương bảo vệ.

Những người di tản và những người bị xua đuổi[sửa | sửa mã nguồn]

Do đặc điểm dân số ít nên Schleswig-Holstein tiếp nhận người di tản và những người bị trục xuất trong và sau Chiến tranh Thế giới 2 nhiều nhất so với các bang khác của Tây Đức. Những người này có gốc gác ở HinterpommernĐông Phổ. Do vậy, dân số từ 1944 đến 1949 đã tăng thêm 1,1 triệu người. Quá trình hoà nhập của những người di tản đã rất xung khắc, nhất là ở những vùng miền quê.

Di cư từ nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

Do vị trí địa lý xa xôi và hẻo lánh cũng như kinh tế phát triển còn yếu nên Schleswig-Holstein có thành phần người nước ngoài ít nhất so với các bang khác của Tây Đức (1999: 5,1%). Trong số 140.000 người nước ngoài sống ở đây thì có 3/4 là người châu Âu, trong đó 22% trong tổng số người nước ngoài đến từ các nước thuộc Liên minh Châu Âu. Cộng đồng người nước ngoài lón nhất gồm 30.000 người đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, thứ 2 là người Ba Lan với 15.400 người.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các khu vực định cư từ năm 800 đến 1100 ở Schleswig-Holstein ngày nay

Quá trình định cư và sự ra đời của Schleswig và Holstein[sửa | sửa mã nguồn]

Những người làm nghề săn bắn hái lượm đã sinh sống ở Schleswig-Holstein từ sau Thời kỳ Băng hà cuối cùng. Khoảng từ năm 4000 trước Công Nguyên thì những người nông dân canh tác đã tới vùng đất này và đã xây dựng nên những công trình bằng đá ghép (cự thạch) ở đây vào khoảng thời gian từ 3500- 2800 trước Công Nguyên, tới nay có khoảng 100 công trình còn tồn tại. Có thể là từ Thời đại Đồ đồng đã có tuyến đường xuyên qua vùng đất này, phục vụ cho việc buôn bán gia súc của các vùng chăn nuôi ở Bắc Giút-lan, tuyến đường này còn có tên gọi là đường Ochsenweg (đường bò kéo). Trong Thời kỳ Di cư đã có rất nhiều cư dân các tộc người German rời bỏ vùng đất này. Như vậy, từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5 thì người Angles ở vùng đất có cùng tên gọi ở phía Bắc của eo biển Schlei đã rời bỏ vùng đất này tới Britannien và hợp nhất với các tộc người khác thành người Anglo-Saxon tạo nên nguồn gốc tên gọi của nước Anh sau này. Thời kỳ này dân cư ở Schleswig-Holstein rất thưa thớt.

Cho tới Sơ kỳ Trung cổ đã hình thành 4 cộng đồng dân tộc và ngôn ngữ: Ở phần phía Bắc cho tời đường ranh giới sông Eider- sông Treene- Eckernförde là người Giút-lan German và Đan Mạch Bắc German, ở phần phía Tây Bắc là người Fri-dơ Tây German từ thế kỷ thứ 7, ở phần phía Đông là người Abodrit Sla-vơ; ở phần Tây Nam cho tới đường ranh giới sông Eider- Kiel- Preetz- Eutin- sông Elbe là người Xắc-xông Tây German mà tổ tiên của họ là người Holsten là nguồn gốc tên gọi của vùng đất Holstein phía Nam. Sau làn sóng di cư của người Ăng-lô ra khỏi vùng đất này thì người Đan Mạch và Giút-lan đã xâm nhập vào đây ở phía Đông Nam. Họ đã thiết lập nên vào khoảng năm 770 thành phố Harthabu là một trong những nơi buôn bán có ý nghĩa nhất ở Sơ kỳ Trung cổ và xây dựng hệ thống thành luỹ phòng thủ Danewerk để chống lại người Xắc-xông. Trong thời kỳ của các cuộc chiến tranh Xắc-xông thì phần phía Nam của vùng đất đã rơi vào ảnh hưởng của Pháp. Từ 768 đến 811 thường xuyên xảy ra sự đối đầu giữa vua Pháp với Hoàng đế Cơ đốc giáo Karl Đại đế sau này và người Bắc German đa thần giáo, do đó hệ thống thành luỹ phòng thủ Danewerk cũng đã được mở rộng. Năm 811 thì một hiệp ước hoà bình đã được ký kết, lấy sông Eider làm biên giới giữa Vương quốc Francia và Đan Mạch.

Cùng với sự gia tăng của quá trình định cư trong thế kỷ thứ 12 và 13 thì biên giới sông Eider đã mất đi ý nghĩa của đường ranh giới, nhưng cho tới khi kết thúc của Đế quốc La Mã Thần thánh vào năm 1806 hoặc tới năm 1864 vẫn là biên giới giữa Schleswig và Holtein. Cho tới khi ban hành Luật Công dân vào năm 1900 thì con sông này còn là biên giới Giút-lan bởi vì ở Schleswig cho tới lúc đó vẫn tuân thủ Luật Giút-lan của Đan Mạch. Từ năm 1111 thì ở hai bờ sông Eider đã hình thành nên các công quốc Schleswig và Holstein (khi đó vẫn còn là lãnh địa bá tước). Đồng thời giữa hai khu vực luôn có các mối quan hệ chặt chẽ về chính trị và kinh tế.

Sự thống trị của dòng họ Schauenburg[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm đầu của thế kỷ thứ 13 thì vua Đan Mạch đã tìm cách sát nhập Holstein vào vương quốc của mình. Sau những kết quả ban đầu thì ông ta đã gặp thất bại do sự phản kháng của các thân vương Bắc Đức ở trận Bornhöved.

Từ năm 1250, Liên minh Hanse đã phát triển thành một yếu tố kinh tế và quyền lực quan trọng và Lübeck đã trở thành một trong những thành phố quan trọng nhất Bắc Âu. Từ năm 1286, lần đầu tiên, Schleswig và Holstein đã thể hiện sự thống nhất trên huy hiệu, khi mà các bá tước Schauenburg được nhận Schleswig là đất phong tặng của Đan Mạch và đã kết nối lãnh địa miền Nam cùng công quốc miền Bắc vào tay một thống lĩnh. Vào thế kỷ thứ 14, sau khi các bá tước ở Holstein mở rộng được tầm ảnh hưởng về phía Giút-lan, Nữ hoàng Margrete I đã giành được sự bá quyền của Đan Mạch ở Schleswig. Song bà ta cũng phải chấp nhận những yêu sách về sở hữu của giới quý tộc Holstein ở Schleswig.

Do có nhiều sự phân chia quyền thừa kế và tài sản nên lịch sử lãnh thổ của Schleswig và Holstein rất rắc rối. Tuy nhiên, triều đại Schauenburg vẫn tạo lập được một quyền thống trị ở Schleswig-Holstein. Do vậy, có thể nói Schleswig-Holstein vào Hậu kỳ Trung cổ thực tế là một lãnh thổ thống nhất. Năm 1474, từ Lãnh địa bá tước Holstein đã hình thành Công quốc Holstein.

Schleswig-Holstein vào năm 1559
Schleswig-Holstein vào năm 1650; các công quốc được chia ra như một tấm thảm chắp vá, các phần đất của quốc vương, công tước và các điền trang chung chiếm phần lớn diện tích

Sự bá quyền của Đan Mạch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1460, sau sự diệt vong của dòng họ Schauenburg thì giới hiệp sĩ ở Schleswig-Holstein đã bầu trực tiếp quốc vương Đan Mạch Christian I của Nhà Oldenburg làm thống lĩnh, ông ta là một người cháu trong họ của người cuối cùng của dòng họ Schauenburg là Adolf VIII. Hiệp ước được ký ở Ripen đã xác định cho các công quốc là "vĩnh viễn không bị chia cắt", một dòng văn bản đã bị vi phạm ngay sau đó. Quốc vương Đan Mạch không tự cai trị Schleswig và Holstein với tư cách của một quốc vương mà là công tước của 2 vùng, khi mà Công quốc Schleswig là vùng đất phong của Đan Mạch trong lúc Công quốc Holstein thuộc về Đế quốc La Mã Thần thánh của Dân tộc Đức và là đất phong của đế chế.

Christian I và người kế vị ngai vua của ông là quốc vương Đan Mạch đồng thời là thân vương Đức trong một Liên minh cá nhân. Sự bá quyền của Đan Mạch tồn tại đến năm 1864. Christian III đã tiến hành cải cách giáo hội với Bộ quy tắc Giáo hội của Johannes Bugenhagen. Ngay từ năm 1544, nhà vua đã từ bỏ Hiệp ước Ripen và chuyển giao một số phần của các công quốc ở Schleswig-Holstein cho những người em trai cùng cha khác mẹ Johann và Adolf I, qua đó mà các công quốc Schleswig-Holstein-GottorfSchleswig-Holstein-Hadersleben ra đời. Năm 1564, con trai của ông là quốc vương Fridrich II cũng đã chuyển giao một số phần lãnh thổ của ông cho em trai Johann, qua đó, một công quốc tiếp theo ở Schleswig-Holstein ra đời là Công quốc Schleswig-Holtein-Sonderburg. Lần này thì các đẳng cấp trong xã hội đã phản đối sự vi phạm mới đối với Hiệp ước Ripen và không phục tùng ông, do vậy mà công tước của Sonderburg đã trở thành người đầu tiên trong số các lãnh chúa được chia quyền không có quyền thống trị. Phần lãnh thổ của Sonderburg tiếp sau đó bị phân chia ra thành các tiểu công quốc. Công quốc Hadersleben bị xoá bỏ và năm 1580 do không có người thừa kế. Công quốc Schleswig-Holstein-Gottorf thì lại phát triển thành một yếu tố quyền lực về chính trị và văn hoá quan trọng. Dưới thời của các công tước Gottorf nhiều lâu đài đã được xây dựng như lâu đài ở Husum, ReinbekTönning; các lâu đài ở Kiel và Gottorf được mở rộng và Trường Đại học Tổng hợp Kiel được thành lập. Dòng họ của công tước cũng đảm nhận vị trí tổng giám mục ở Lübeck. Sự đối lập giữa phần đất của quốc vương và công tước -công tước Gottorf- đặc trưng cho đường lối chính trị của các công quốc ở 2 thế kỷ tiếp theo. Các khu vực hành chính của các lãnh địa khác nhau -được gọi là tổng, quận, châu- được phân chia theo tiềm năng thu thuế; bởi vậy phần đất của quốc vương hay công tước không bao gồm được những khu vực liên hoàn và Schleswig-Holstein được chia ra những đơn vị vùng miền nhỏ như một tấm thảm chắp vá. Trong khi phần đất của công tước được quản lý bởi dòng họ Gottorf từ lâu đài Gottorf (là nguồn gốc tên gọi dòng họ) thì quốc vương lại cử các đại diện để quản lý các phần đất của mình. Các điền trang thì lại có quy chế ngoại lệ. Đây là các khu vực độc lập và đa phần là tài sản của các gia đình quý tộc gốc gác, các điền trang này luân phiên chịu sự phục tùng quốc vương hay công tước và đã đạt được sự phát triển kinh tế thịnh vượng, giới quý tộc địa chủ được tận hưởng trong thời kỳ này ở Schleswig-Holstein thời kỳ vàng son. Ngoài ra, giáo phận Lübeck, Lãnh địa bá tước Holstein-Pinneberg và lãnh địa bá tước có nguồn gốc từ đây Rantzau cũng như vùng đầm lầy Dithmarsch (xâm chiếm được từ năm 1559) cũng như Công quốc Sachsen-Lauenburg (khi đó chưa thuộc Holstein) thì có vai trò đặc biệt trong quy chế nhà nước.

Trong khi ở phần phía Nam của đế chế nổ ra cuộc Chiến tranh 30 năm vào năm 1618 thì Schleswig-Holstein ban đầu không bị ảnh hưởng và đã đạt được thời kỳ phát triển cao nhờ năng suất nông nghiệp. Năm 1625 thì Đan Mạch cũng tham gia cuộc chiến, qua đó thì các trận chiến cũng xảy ra ở các công quốc từ năm 1627. Đặc biệt các thành luỹ ở Holstein như Krempe, GlückstadtBreitenburg đã là mục tiêu của các cuộc tấn công. Cuộc Chiến tranh 30 năm kết thúc ở Schleswig-Holstein vào năm 1629 với Hoà ước Lübeck. Các công quốc vốn ít bị tàn phá hơn các vùng khác ở Đế chế Đức lại được hồi sinh, cho tới bắt đầu từ năm 1643 lại bị cuốn vào cuộc chiến tranh Torstenssonkrieg và lại bị tàn phá.

Sự đối lập giữa phần đất quốc vương và công tước trong thế kỷ thứ 17 đã dẫn đến những xung đột giữa 2 thế lực. Công quốc của dòng họ Gottorf đòi hỏi nhiều chủ quyền hơn và đã tách khỏi Đan Mạch đứng về phía Vương quốc Thuỵ Điển. Điều đó đã dẫn tới sự chiếm đóng một phần rộng lớn của Đan Mạch đối với phần đất công quốc. Vào đầu thế kỷ thứ 18 đã xảy ra cuộc chiến tranh Große Nordische Krieg, Công quốc Gottorf đứng về phía Thuỵ Điển; do vậy, vào năm 1773, khi Thuỵ Điển bị thất bại trong cuộc chiến thì toàn bộ phần đất của Công quốc Gottorf ở Schleswig đã bị Đan Mạch thôn tính. Công quốc ngày nào của dòng họ Gottorf chỉ còn quyền sở hữu ở Holstein. Sự thôn tính Schleswig được hợp thức bằng Hòa ước Frederiksborg vào năm 1720. Trong suốt thế kỷ thứ 18 thì Đan Mạch đã cố gắng để hoàn thành việc thống nhất một nhà nước tổng thể. Nhiều tiểu công quốc của Schleswig-Holstein đã từng xuất hiện từ phần đất của Công quốc Sonderburg không được sử dụng để phong đất tiếp trong trường hợp không có thừa kế mà phải sát nhập vào Vương quốc Đan Mạch. Sau khi phần đất của Công quốc Gottorf ở Holstein qua quá trình thừa kế đã được thống nhất vào Liên minh cá nhân với tước Nga Hoàng, vào năm 1773, Hiệp ước Zarskoje Selo được thoả thuận, theo đó thì Schleswig-Holstein hầu như hoàn toàn rơi vào tay Vương quôc Đan Mạch. Vào năm 1779 thì công quốc được chia tách cuối cùng là Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg bị giải tán. Một ít quyền tự chủ vẫn còn lại khi mà sự điều hành các công quốc tập trung vào một văn phòng Đức ở Kopenhagen và vào năm 1789 thì đồng tiền riêng được đưa vào lưu hành.

Đài kỷ niệm ở Hohenlockstedt.

Chủ nghĩa dân tộc và các cuộc chiến tranh thống nhất nước Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1800 thì toàn bộ Schleswig-Holstein, với ngoại lệ là Thân vương quốc Lübeck và Công quốc Sachsen-Lauenburg(lúc này còn là công quốc độc lập), nằm dưới sự quản lý của Đan Mạch. Thành phố Altona(nay là một quận của Hamburg) lúc đó là thành phố lớn thứ 2 của vương quốc sau Kopenhagen. Vào lúc cuối của Chiến tranh Napoleon thì Đan Mạch thuộc về phe thất bại với hệ thống tài chính đổ nát. Sự phá bỏ những điều cam kết đã làm cho đồng tiền riêng trở thành nạn nhân của sự vỡ nợ của nhà nước. Vào năm 1813, một loại thuế bắt buộc được áp đặt một cách hà khắc cho các công quốc càng làm tăng thêm sự bất mãn. Chủ nghĩa dân tộc đã trỗi dậy không chỉ ở Đan Mạch mà còn ở Đức đã dẫn tới những quan điểm đối lập về sự trực thuộc của cái được gọi là các công quốc sông Elbe(Elbherzogtümer) và dẫn tới 2 cuộc chiến tranh. Tranh cãi không xảy ra với Holtein, nơi mà chỉ có người Đức định cư và thuộc về Đế quốc La Mã Thần thánh từ Sơ kỳ Trung cổ và Liên hiệp Đức từ sau 1815 và Đan Mạch chỉ có quản lý vùng này, mà về Công quốc Schleswig. Những người theo chủ nghĩa dân tộc tự do ở Đức cũng như ở Đan Mạch đều cho là phần đât này hoàn toàn thuộc về mình, tuy rằng phần đất này được chia ra thành miền Bắc, nơi chủ yếu nói tiếng Đan Mạch và có đặc tính Đan Mạch và miền Nam, nơi chủ yếu nói tiếng Đức và mang đặc tính Đức.

Uwe Jens Lornsen là người Bắc Fri-dơ ở đảo Sylt đã tích cực đấu tranh cho miền Nam tiếng Đức của Schleswig, ông và những người cùng chí hướng thường viết liền "Schleswigholstein" để nhấn mạnh bằng văn bản sụ trực thuộc không thể tách rời của hai khu vực. Từ năm 1840 thì những người theo chủ nghĩa dân tộc tự do của Đức cũng như Đan Mạch đều tìm cách gây ảnh hưởng ở Schleswig, điều đó đã dẫn đến xung đột. Năm 1848, xung đột đã nổ ra công khai trong mối liên quan với Cách mạng Tháng 3. Một chính phủ lâm thời được thành lập ở Kiel đã đòi tiếp nhận toàn bộ Schleswig-Holstein vào Liên hiệp Đức; trong khi đó thì ở Kopenhagen một chính phủ dân tộc tự do được bổ nhiệm, thành phần gồm nhiều thành viên là người được gọi là Đan Mạch sông Eider(Eiderdänen), mục tiêu của những người này là sát nhập Schleswig vào Vương quốc Đan Mạch và tách vùng Holstein thuộc Đức ra theo hiến pháp.

Sự không thoả thuận được của hai đòi hỏi trên đã dẫn đến cuộc nổi dậy ở Schleswig-Holstein, những người Schleswig-Holstein đặc tính Đức đã uổng công tìm cách kết thúc sự thống trị của Đan Mạch. Theo ý muốn của các nhà dân tộc tự do Đức thì Schleswig phải là thành viên của Liên hiệp Đức và thống nhất với Holstein thành một nhà nước có chủ quyền với sự nhiếp chính của công tước Christian August thuộc dòng họ Augustenburg. Theo quan điểm của Đức thì Luật Salic cũng có giá trị ở Schleswig, theo đó thì công tước của dòng họ Augustenburg là người thừa kế hợp pháp của 2 công quốc sau khi quốc vương Đan Mạch và công tước Friedrich VII không có người nối dõi. Theo quan điểm của Đan Mạch thì công tước của dòng họ Augustenburg có thể là người kế vị ở Holstein, nhưng không thể ở Schleswig, nơi mà theo luật của Đan Mạch thì phụ nữ có quyền kế vị. Ban đầu thì cuộc nổi dậy ở Schleswig-Holstein nhận được sự ủng hộ của quốc hội Liên hiệp Đức (Paulkirchenversammlung), nhưng do áp lực của các thế lực lớn ở châu Âu nên quân đội Phổ và quân của Liên hiệp Đức đã rút lui phó mặc chính phủ tự phong ở Kiel cho số phận của họ. Chiến thắng của Đan Mạch ở Idstedt năm 1850 đã kết thúc hy vọng của Đức vào một Schleswig-Holstein thuộc Đức, trạng thái "không thể thay đổi" lại được thiết lập- cũng do áp lực quốc tế. Vào ngày 2 tháng 7 năm 1850 thì Hoà ước Berlin đã được ký kết giữa Liên hiệp Đức và Đan Mạch. Một lời giải cho câu hỏi Schleswig-Holstein vẫn chưa tìm ra được.

miniatur| Schleswig-Holstein 1898 Năm 1849, nhà nước tổng thể Đan Mạch ban hành Hiến pháp 1849, theo đó thì ở vương quốc tuân theo chế độ quân chủ lập hiến và ở Holstein tuân theo chế độ chuyên chế, tuy nhiên với một hội đồng nhà nước chung và việc này đã gây khó khăn cho việc ban hành luật lệ. Vào tháng 11 năm 1863, Đan Mạch ban hành một hiến pháp có giá trị cho những vấn đề chung của vương quốc và công quốc Schleswig bên cạnh những hiến pháp riêng lẻ khác ở 2 khu vực. Theo đó thì Hòa ước 1851 bị vi phạm nên Thủ tướng Phổ đã có cơ hội để giải quyết vấn đề Schleswig theo tinh thần Đức. Sau khi bị từ chối một tối hậu thư rất ngắn thì Phổ và Áo đã tuyên bố chiến tranh với Đan Mạch. Phổ và Áo đã chiến thắng dễ dàng chiến tranh Đan Mạch vào tháng 4 năm 1864. Các cuộc đàm phán về chia tách Schleswig không có kết quả cho nên Schleswig và Holstein chịu sự quản lý chung của phe chiên thắng. Theo Hiệp ước Gastein năm 1865 thì Schleswig và Lauenburg thuộc Phổ và Hostein thuộc Áo, chỉ còn những phần nhỏ ở Bắc Schleswig vẫn còn thuộc Đan Mạch là đảo Ahorn, bảy giáo phận phía Nam Kolding và một số giải đất xung quanh Ribe, đổi lại thì Đan Mạch từ bỏ quyền đối với những vùng đất lọt giữa ở bờ biển phía Tây của Schleswig.

Sau chiến tranh thì vào năm 1867 toàn bộ Schleswig-Holstein đã trở thành 1 tỉnh của Phổ. Đối lập với mục tiêu chính ban đầu là tách khỏi Đan Mạch và trở thành một nhà nước thành viên độc lập trong Liên hiệp Đức thì các công quốc chỉ đạt được mục tiêu tách khỏi Đan Mạch nhưng không có độc lập. Năm 1877, Đế chế Đức được thành lập. Vấn đề Schleswig-Holstein đã là vấn đề trung tâm của đường lối chính trị của thủ tướng Bismarck, đường lối đã dẫn đến thống nhất đế chế.

Bản đồ bán đảo Krimbische Halbinsel.

Sự chia cắt dứt điểm Schleswig[sửa | sửa mã nguồn]

Những tranh cãi về công pháp quốc tế với Đan Mạch chỉ chấm dứt vào mãi năm 1920. Trong Hoà ước Prag năm 1866 thì Phổ và Áo với sự can thiệp của Napoleon III đã thoả thuận ở điều 5 một cuộc trưng cầu dân ý ở Bắc Schleswig. Theo đó thì người dân Bắc Schleswig có quyền tự quyết định là trực thuộc Đan Mạch hay Phổ/Áo. Hai nước ký hiệp ước đã thoả thuận huỷ bỏ điều khoản này vào năm 1879. Đan Mạch tất nhiên phải chống lại việc làm sai hiệp ước kể trên. Trước đó thì Phổ đã tự sát nhập các công quốc thành tỉnh của mình. Đan Mạch đã không nhất trí. Cuộc trưng cầu dân ý đã được xác định trước đây sau đó được tiến hành vào sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất dưới áp lực và sự kiểm soát của các thế lực chiến thắng. Một uỷ ban quốc tế với đại diện của Anh, Pháp, Thuỵ Điển và Na Uy được thành lập để quản lý các khu vực trưng cầu dân ý. Uỷ ban này đóng ở Flensburg, có bộ máy cảnh sát được xây dựng mới và được sự hậu thuẫn của quân đội Anh, Pháp. Kết quả trưng cầu dân ý là số đông ở phần phía Bắc theo Đan Mạch, ở phía Nam theo Đức. Khu vực miền Trung (với cả Flensburg) thì còn tranh cãi gay gắt nhưng sau đấy thì cũng tự quyết định được là trực thuộc Đức. Theo đó thì vào ngày 6 tháng 7 năm 1920, một hiệp ước chuyển giao được ký ở Pari, hiệp ước này phân định Bắc Schleswig thuộc Đan Mạch và Nam Schleswig thuộc Đức.

Chủ nghĩa quốc xã và Chiến tranh Thế giới thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả bầu cử quốc hội của Đảng NSDAP
Bầu cử Schleswig-Holstein Đế chế Đức
1924(I) 7,4% 6,6%
1924(II) 2,7% 3,0%
1928 4,0% 2,6%
1930 27,0% 18,3%
1932(I) 51,0% 37,4%
1932(II) 45,7% 33,1%
1933 53,2% 43,9%

Schleswig-Holstein đã một thành trì ban đầu của chủ nghĩa quốc xã. Đảng NSDAP đã giành được kết quả cao trong bầu cử năm 1928 ở Dithmarschen. Những sự kiện mà lực lượng quốc xã gọi là "Đêm đổ máu ở Wöhrden" 1929 và "Chủ nhật đổ máu ở Altona" 1932 đã bị Đảng NSDAP lợi dụng để tuyên truyền cả ra ngoài phạm vi của địa phương. Một số học giả quen thuộc của Schleswig-Holstein là người dọn đường cho chủ nghĩa quốc xã: Julius Langbehn(gốc gác Bắc Schleswig) cũng như Adolf Bartels(Dithmaschen) và một phần nào đó Gustav Frenssen.

Đã có một số trại bên ngoài trực thuộc Trại Tập trung KZ Neuengamme ở Schleswig-Holstein: Một số đó là Trại KZ Kalzenkirchen, Trại KZ Außenlager Kiel, Trại KZ Ladelund và Trại KZ Neustadt ở Holstein. Một trong những trại tập trung đầu tiên là Trại KZ Wittmoor: Vào ngày 10 tháng 3 năm 1933, những tù nhân đầu tiên, số đông là đảng viên Đảng KPD, bị giam cầm ở đây. Những trại tập trung ban đầu khác (cũng được xem là những trại dã man) được xây dựng năm 1933 ở Eutin, Glückstadt, Rickling/Kuhlen, Ahrenbök, AtonaWandsbek.Trong "Đêm tàn sát của đế chế" vào mồng 9/10 tháng 11 năm 1933 các giáo đường Do Thái và cửa hàng của người Do Thái ở Lübeck, Elmshorn, Rendsburg, Kiel, Bad Segeberg, Friedrichstadt, KappelnSatrup đã bị "Lực lượng Bão táp" SA và "Đội Cận vệ" SS tấn công, phá hoại - với sự làm ngơ hoặc hỗ trợ của cảnh sát.

Những tù binh Xô-viết đã đến Schleswig-Holstein trong trạng thái thảm hại, bởi vì họ đã không được nuôi dưỡng đầy đủ. Các nhà tù đã được xây dựng ở Heldkaten, gần katenkirchen(từ mùa thu 1941 đến tháng 4 năm 1944) và Gudendorf(tháng 4 năm 1941 đến cuối chiến tranh), Gerhard Hoch đã gọi những nhà tù này là "trại chết". Trong các năm 1944, 1945 có 3000 tù binh Xô-viết bị chết ở Gudendorf.

Tại chi nhánh trẻ em ở Schleswig từ 1939 đến 1945 có ít nhất 216 trẻ em bị giết.

Cuộc chiến đường không trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 ít ảnh hưởng tới những vùng dân cư thưa thớt. Thành phố Kiel là căn cứ hải quân và có 3 xưởng đóng tàu lớn ở bờ Đông eo biển Förde thì đã là mục tiêu tấn công của máy bay ném bom của Không quân Anh (RAF) và Không quân Mỹ (USAAF). Cuộc không kích Lübeck của Không quân Anh vào cuối tháng 3 năm 1942 là cuộc ném bom rải thảm đầu tiên vào trung tâm lớn của một thành phố lịch sử của Đức. Trong Chiến dịch "Operation Gomorrha" tấn công Hamburg mùa hè 1943 thì các địa điểm như WedelElmshorn ở Schleswig-Holstein cũng đã bị ảnh hưởng nặng. Xưởng đóng tàu Flensburg và Nhà máy Lọc dầu Hemmingstedt của Công ty DEA gần Heide đã bị oanh tạc nhiều lần. Vào ngày 3 tháng 5 năm 1943, máy bay Không quân Anh đã oanh kích nhầm 3 tàu không có khả năng chiến đấu ở vịnh Neustadt là các tàu Cap Arcona, Thielbek và Deutschland. Khoảng 7000 người bị chết. Trước đó, Đội Cận vệ đã dồn khoảng 10.000 tù nhân các trại tập trung lên những con tàu đó. Rất có thể đó là ý định của Đội Cận vệ để dìm chết tù nhân.

Vào ngày 7 tháng 5 năm 1945, vào lúc 12 giờ 45, Đài Phát thanh Flensburg đã phát đi tuyên bố của Lutz von Schwerin-Krosigk về kết thúc của Chiến tranh Thế giới thứ 2 (lần đầu tiên từ phía Đức). Sự đầu hàng vô điều kiện của quân đội Đức có hiệu lực vào 23 giờ 01 ngày 8 tháng 5 năm 1945. Vào thời điểm này thì Schleswig-Holstein còn nằm dưới sự kiểm soát của các đơn vị quân đội Đức.

Thời kỳ sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ cuối năm 1944 thì Schleswig-Holstein đã là nơi đến chính của những người di tản và những người bị xua đuổi trong Chiến dịch Sơ tán Hannibal, sơ tán khoảng 2,5 triệu người từ vùng Ban Tích (Memelland), Đông/Tây Phổ, PommernMecklenburg. Cư dân của những thành phố lớn đã bị ném bom tan hoang là Kiel, Lübeck và Hamburg cũng chuyển về các vùng quê. Dân số vào năm 1939 còn là 1,6 triệu, đã tăng lên đến 2,7 triệu vào năm 1949. So với các bang khác ở Tây Đức thì thành phần di tản so với dân sở tại ở Schleswig-Holstein là lớn nhất.

Vào thời gian chuyển tiếp năm 1945/1946, chính phủ quân quản của vùng chiếm đóng thuộc Liên hiệp Anh đã chỉ định những ủy ban thanh lọc quốc xã Đức để giúp việc. 406.500 người đã bị thanh lọc quốc xã theo phương pháp đám đông. Ở Schleswig-Holstein không có ai bị xếp vào Hạng I của nhóm tội phạm chính và Hạng II của nhóm tội phạm. 2217 người bị xếp vào Hạng III của nhóm có gây hại, trong đó có người phụ trách địa hạt Hinrich Lohse. 66.500 người bị xếp vào Hạng IV của nhóm cộng sự và 206.000 người vào Hạng V của nhóm được giảm tội.

Lâu đài Altenhof, dinh thự uỷ viên Liên hiệp Anh của vùng/bang

Sau chiến tranh thì về hình thức, Schleswig-Holstein vẫn là một tỉnh của Phổ. Nhà hoạt động Dân chủ Cơ đốc giáo Theodor Steltzer, người đã đứng về phía cuộc đấu tranh quân sự chống lại chính thể độc tài quốc xã, được bổ nhiệm làm chủ tịch đứng đầu bộ máy quản lý, sau đó làm thủ hiến đầu tiên. Vào ngày 26 tháng 2 năm 1946, quốc hội bang đầu tiên nhóm họp, quốc hội này không được bầu mà được chính phủ quân quản chỉ định, chính phủ này được đại diện bằng "Ủy viên vùng Schlewig-Holstein" mà quyền quyết định cuối cùng thuộc về Nguyên soái Không quân Hugh Vivian Champion de Crespigny(đang nghỉ hưu). Với Quy định số 46 của Chính phủ Quân quản Liên hiệp Anh vào ngày 23 tháng 8 năm 1946 "về giải thể các tỉnh thuộc Phổ trước đây trong vùng chiếm đóng của Liên hiệp Anh và lập thành các bang độc lập" thì bang Schleswig-Holstein đã nhận được các cơ sở pháp lý. Thủ phủ được chọn là Kiel mà không phải là Schleswig. Trụ sở của "ủy viên vùng", sau này được gọi là "ủy viên bang" của Liên hiệp Anh là tòa nhà được gọi là Somerset-House ở Kiel, dinh thự là lâu đài Altenhof (gần Eckernförde). Trong cuộc bầu cử quốc hội bang vào ngày 20 tháng 4 năm 1947, lần đầu tiên quốc hội bang đã được bầu. Với Quy định năm 1949 được quốc hội bang ban hành, có hiệu lực bắt đầu vào ngày 12 tháng 1 năm 1950, thì Schleswig-Holstein đã trở thành một bang thuộc liên bang. Mãi tới ngày 30 tháng 5 năm 1990, theo văn bản cải cách hiến pháp được quốc hội bang ban hành trong kỳ họp quốc hội bang ở Kiel thì quy định này cũng được gọi là Hiến pháp bang.

Vào ngày 29 tháng 3 năm 1955, Tuyên bố Bonn-Copenhagen được ký kết, trong đó Cộng hoà Liên bang Đức và Đan Mạch đã thống nhất với nhau về quyền được bảo hộ của mỗi dân tộc thiểu số trên lãnh thổ của mình, đồng thời xác định quyền tự do của mỗi công dân được tự mình nhận là thuộc nhóm cộng đồng dân tộc nào mà không bị phản đối hay kiểm tra của các cơ quan nhà nước. Hiệp ước này vẫn có giá trị đến ngày nay như là một hình mẫu về sự giải quyết được thoả thuận thống nhất đối với vấn đề dân tộc thiểu số.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh thì Schleswig-Holstein trên cơ sở có tầm quan trọng chiến lược đối với NATO là một địa điểm đóng quân trọng điểm của Quân đội Liên bang Đức, được thành lập vào năm 1955. Thuộc quyền chỉ huy của sở chỉ huy quân đoàn được thiết lập riêng của NATO LANDJUT có Sư đoàn Bộ binh cơ giới 6 là sư đoàn trực thuộc NATO có biên chế quân đông nhất, sư đoàn này chủ yếu cơ động ở bang cực Bắc, ngoài ra còn có Căn cứ Ban Tích của Hải quân Liên bang. Cho tới năm 1959 thì Werner Heyde, người phụ trách chương trình Chết không đau đớn của quốc xã nhằm giết người hàng loạt còn hành nghề thầy thuốc ở Flensburg dưới cái tên Fritz Sawade. Năm 1961, Uỷ ban Kiểm tra đã nêu lên trong 1 bản báo cáo 18 người ở các ngành Tư pháp, Hành chính và Y là những người biết rõ sự thật về Sawade.

Huy động cảnh sát chống biểu tình ở Công trường Nhà máy Điện hạt nhân Brokdorf, tháng 2/1981

Một số các cuộc phản đối mạnh mẽ nhất chống lại việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân từ 1976 đến đầu những năm 1980 diễn ra tại Công trường Xây dựng Nhà máy Điên hạt nhân Brokdorf. Hiện tượng tự nhiên tiêu biểu nhất trong lịch sử bang là thảm hoạ tuyết rơi vào thời điểm cuối 1978 đầu 1979.

Vụ bê bối lớn nhất của lịch sử sau chiến tranh là vụ việc Barschel mùa thu năm 1987. Vụ bê bối này được tiếp nối bằng vụ việc Schubladen-Affäre, mà kết quả là Björn Engholm ở cương vị thủ hiến phải từ chức và thay thế là Heide Simonis, người phụ nữ đầu tiên ở cương vị lãnh đạo một bang. Sau đấy thì Schleswig-Holstein trở thành tâm điểm của dư luận, khi mà việc bầu lại Simonis ở quốc hội bang bị thất bại một cách ấn tượng vào tháng 3 năm 2005. Đại liên minh sau đó của Thủ hiến Peter-Harry-Carstensen (CDU) tồn tại chỉ tới tháng 7 năm 2009. Cuộc bầu cử mới vào tháng 9 năm 2009 đã dẫn tới kết quả thành lập một liên minh Đen-Vàng của Thủ hiến cũ và mới Carstensen vào ngày 27 tháng 10 năm 2009.

Vào ngày 29 tháng 8 năm 2010, Toà án Hiến pháp bang Schleswig-Holstein đã phán quyết là luật bầu cử giành cho quốc hội bang có sự vi phạm hiến pháp. Quốc hội bang sau đó được yêu là phải ban hành luật mới tới thời hạn tháng 5 năm 2011; tiếp theo là bầu cử mới được quy định là chậm nhất đến tháng 9 năm 2012.

Tại cuộc bầu cử quốc hội bang ở Schleswig-Holstein vào ngay 6 tháng 5 năm 2012, lần đầu tiên, một liên minh của SPD, B'90/GrüneSSW được thành lập do Torsten Albig đứng đầu, liên minh này được gọi là Dänen Ampel.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chính thức chung là tiếng Đức, về mặt pháp lý ở đây cũng không rõ là điều đó có nghĩa là tiếng Đức phổ thông (Hochdeutsch) hay là tiếng Bắc Đức (Niederdeutsch). Căn cứ vào Hiến chương châu Âu về Ngôn ngữ địa phưong và thiểu số thì tiếng Bắc Đức, hay còn gọi là tiếng Hạ Đức (Plattdeutsch) theo Phần III của Hiến chương đã xác định là tiếng địa phương (ít ra là như vậy), tiếng Đan Mạch (ở dạng tiếng Đan Mạch Nam Schleswig) và tiếng Fri-dơ (ở dạng khẩu ngữ địa phương Bắc Fri-dơ) là ngôn ngữ thiểu số; tiếng Digan theo Phần II là ngôn ngữ thiểu số được công nhận ở bang Schleswig-Holstein. Ở các xã gần biên giới giữa Niebüll và Frensburg người ta còn nói tiếng Nam Giút-lan (Hạ Đan Mạch), tiếng này được xem là tiếng địa phương của Đan Mạch, tiếp theo đó, ở trong vùng Frensburg còn có các thổ ngữ pha trộn giữa các thứ tiếng là PetuhMissingsch. Như vậy, Schleswig-Holstein là bang giàu nhất về các loại tiếng truyền thống. Các loại ngôn ngữ không còn tồn tại ở đây nữa là tiếng Hà Lan đã từng được nói ở Friedrichstadt và tiếng Yiddish, là thứ tiếng vẫn được nói ở một số thành phố cho tới thời kỳ Quốc xã; có bao nhiêu người còn nói tiếng Yiddish trong số khoảng gần 2000 người theo tín ngưỡng Do Thái là không thể biết được.

Thành phần ngôn ngữ: Tiếng Đức khoảng 2,7 triệu người, Bắc Đức 1,2 triệu, Đan Mạch (phổ thông, địa phương) 65.000, Fri-dơ 10.000, Digan 5000.

Sau khi Luật Friisk Gesäts được quốc hội bang phê chuẩn vào năm 2004 thì tiếng Fri-dơ là ngôn ngữ chính thức ở huyện Nordfriesland và trên đảo Helgoland (thuộc huyện Pinneberg). Ở huyện Nordfriesland có thể thấy các bảng chỉ dẫn địa điểm bằng 2 thứ tiếng, ví dụ như thành phố Niebüll còn được viết là Naibel.

Phần Đông Nam của bang cho tới thế kỷ thứ 12 là nơi định cư của các tộc người Sla-vơ mà ngày nay ta còn có thể nhận ra qua những tên địa phương có gốc Sla-vơ như Lübeck, Laboe, Eutin, Preetz, Ratzeburg.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo Cơ Đốc[sửa | sửa mã nguồn]

Schleswig-Holstein là một bang có đặc tính Tin Lành. Năm 2006 có 54,3% dân cư theo đạo Tin Lành. Năm 2007 có 6,7% dân cư theo đạo Công giáo La Mã. Trên 39% dân cư không thuộc về một cộng đồng tôn giáo lớn nào.

Giáo phái Tin Lành Tự do có 15.000 tín đồ. Giáo phái Tin Lành Cải cách được đại diện bằng 1 giáo phận riêng ở Lübeck. Giáo phái Tin Lành của các tín đồ Remonstranten có một giáo phận ở Friedrichstadt.

Giáo hội Tin Lành Luther[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hội Tin Lành Luther của bang từ ngày 27 tháng 5 năm 2012 được gọi là Giáo hội Tin Lành Luther Bắc Đức, gọi tắt là Giáo hội Bắc Đức. Giáo hội này được lập nên từ Giáo hội Bắc Elbe, Giáo hội Tin Lành Luther MecklenburgGiáo hội Tin Lành Pommern sau một quá trình sát nhập lâu dài, được kết thúc bằng một hiệp ước sát nhập vào ngày 5 tháng 2 năm 2009 . Ở khu vực Schleswig-Holstein có 2 giáo khu là giáo khu Schleseig và Holstein cũng như giáo khu Hamburg-Lübeck; đứng đầu mỗi giáo khu là giám mục. Giáo hội Bắc Elbe là một tổ chức được sát nhập từ 3 giáo hội Tin Lành Luther địa phương vào năm 1977.

Bên cạnh Giáo hội Bắc Đức thì ở Schleswig-Holstein còn có Giáo phái Tin Lành Độc lập theo tôn giáo cũ và ở miền Bắc của bang có Giáo hội Đan Mạch ở Nam Schleswig. Giáo hội Đan Mạch ở Nam Schleswig có 6.500 tín đồ.

Công giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo hội Công giáo La Mã ở Schleswig-Holstein trực thuộc địa phận Tổng giám mục Hamburg. Bên cạnh Giáo hội Công giáo La Mã thì trên đảo Norđstrand có một cộng đồng Công giáo cổ.

Các giáo hội, giáo phái Tin Lành Tự do[sửa | sửa mã nguồn]

Các giáo hội, giáo phái Tin Lành Tự do ở Schleswig-Holstein là Giáo hội Tin Lành Tự do Bap-tit, [[Giáo hội Tin Lành Giám Lý, Giáo phái Tin Lành Tự do của tín đồ Mennoniten, Hội Tin Lành Tự do Đức, Giáo phái Tin Lành Cứu Thế quân, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, nhiều giáo phận thuộc Giáo hội Ngũ Tuần. Vào thế kỷ thứ 16 đã có những giáo phận đầu tiên của tín đồ Tin Lành Mennoniten. Giáo phận đầu tiên của tín đồ Bap-tit được thành lập vào tháng 2 năm 1849 ở Pinneburg thuộc Holstein.

Giáo phái Neuapostolische Kirche[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo phái Neuapostolische Kirche ở Schleswig-Holstein trực thuộc giáo khu Hamburg, trên lãnh thổ Schleswig-Holstein có 5 giáo phận với khoảng 10.000 tín đồ.

Đạo Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Các giáo phận Do Thái có 1.900 tín đồ được chia thành 2 hội là Hội Do Thái giáo Chính thống Schleswig-HolsteinHội Do Thái giáo Tự do bang Schleswig-Holstein.

Đạo Hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Có 25.000 người Schleswig-Holstein tự nhận theo đạo Hồi. Thánh đường Hồi giáo lớn nhất của bang là Thánh đường Trung tâm Rendsburg.

Chế độ nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

Hiến pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Chương 1 của Hiến pháp bang ngày 12 tháng 1 năm 1950 thì Schleswig-Holstein là một thành viên nhà nước của Cộng hoà Liên bang Đức. Do có Vụ bê bối Barschel năm 1987 nên Uỷ ban Kiểm tra đã kiến nghị nhiều sự thay đổi cấu trúc của hiến pháp. Một ban khảo sát được thành lập đã đưa ra nhiều đề nghị về cải cách hiến pháp, quốc hội và trình bản báo cáo kết luận vào năm 1989. Tiếp theo đó thì hiến pháp đã được sửa đổi và đổi tên từ Điều lệ bang thành Hiến pháp bang. Hiến pháp được quốc hội bang ban hành vào ngày 30 tháng 5 năm 1990. Kể từ đó, hiến pháp cũng đã có quy định những nội dung định hướng nhà nước, ví dụ như bảo vệ các dân tộc thiểu số Fri-dơ và Đan Mạch tại bang (Chương 5), tập trung xây dựng sự bình đẳng giữa nam và nữ (Chương 6), bảo vệ các nền tảng đời sống tự nhiên (Chương 7) hay là bảo vệ và khuyến khích phát triển văn hoá trong đó có ngôn ngữ Hạ Đức (Chương 9). So sánh với các hiến pháp của các bang khác của Đức thì bản hiến pháp này có những yếu tố có tầm thế giới của nền dân chủ trực tiếp. Cũng như ở các bang khác của Đức thì quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân, có nghía là nhân dân thể hiện nguyện vọng qua bầu cử và biểu quyết ở bang, các xã và liên xã. Hiến pháp được xác định trước theo quy định pháp luật của liên bang là sẽ không còn giá trị vào thời điểm một khu vực của liên bang được sát nhập mới vào bang.

Quốc hội bang[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Quốc hội bang với hội trường

Quốc hội bang Scheswig-Holstein là cơ quan tối cao thiết lập nguyện vọng chính trị được nhân dân bầu và thực thi quyền lập pháp. Quốc hội bang bầu ra thủ hiến bang. Quốc hội bang theo nguyên tắc bao gồm 69 đại biểu (không tính đại biểu trội), các đại biểu được bầu bằng phương pháp kết hợp giữa bầu trực tiếp cá nhân và bầu tỉ lệ tham gia theo đảng phái.

Chính phủ bang[sửa | sửa mã nguồn]

miniatur| Bộ Tư pháp Schleswig-Holstein ở Kiel

Chính phủ bang là cơ quan lãnh đạo, quyết định và thực thi tối cao trong phạm vi chính quyền. Chính phủ bang gồm thủ hiến bang và các bộ trưởng.

Thủ hiến bang được quốc hội bang bầu không có sự thảo luận. Thủ hiến bang bổ nhiệm hay miễn nhiệm các bộ trưởng của bang và chọn trong số này 1 người phó của mình. Thủ hiến bang trúng cử khi nhận được đa số phiếu bầu của quốc hội bang (đa số tuyệt đối). Nếu như ở vòng bầu cử đầu tiên không có ai có được số phiếu đa số này thì quốc hội bang tiến hành bầu lại, nếu bầu lại lần 1 chưa có kết quả thì ở lần bầu lại tiếp theo ai có số phiếu bầu cao nhất sẽ trúng cử.

Hệ thống tư pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Quyền tư pháp được giao cho các thẩm phán, quyền này được thay mặt nhân dân để thực thi. Các thẩm phán thực hiện nhiệm vụ độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Là một bang nhỏ nên Schleswig-Holstein chỉ có 1 toà án cấp cao duy nhất của bang có trụ sở ở Schleswig. Năm 1991 thì Toà án Hành chính Cấp cao được thành lập ở Schleswig. Cho tới thời điểm trên thì Toà án Hành chính Cấp cao Lüneburg là toà án hành chính cấp cao chung cho cả 2 bang Niedersachsen và Schleswig-Holstein trên cơ sở 1 hiệp định nhà nước giữa 2 bang chiếu theo Chương 3, Điều 2, Luật Toà án Hành chính Liên bang VwGO.

Schleswig-Holstein là bang cuối cùng có toà án hiến pháp bang riêng từ ngày 1 tháng 5 năm 2008. Trước đó thì việc giải quyết những tranh chấp thuộc về hiến pháp trong bang được chuyển giao cho Toà án Hiến pháp Liên bang, căn cứ vào Chương 44 của Hiến pháp bang và Chương 99 của Hiến pháp Liên bang.

Nền dân chủ trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Đề xuất của dân[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các công dân đều có quyền đề xuất ý kiến với quốc hội bang trong khuôn khổ thẩm quyền quyết định của quốc hội bằng những phương thức nhất định của thiết chế nguyện vọng chính trị. Một dự thảo luật có thể có những nội dung xuất phát từ đề xuất của dân. Nội dung dự thảo không được mâu thuẫn với những quy định cơ bản của nhà nước pháp quyền dân chủ xã hội. Các đề xuất phải có chữ ký của ít nhất 20.000 cử tri. Đại diện của họ có quyền được lắng nghe và ghi nhận. Không được phép có những đề xuất về ngân sách bang, các khoản trợ cấp xã hội và hưu trí cũng như các khoản thu nộp công ích.

Nguyện vọng của dân[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu quốc hội bang không nhất trí với dự thảo luật hay một văn kiện nào đó trong một thời hạn là 4 tháng thì những người đại diện cho đề xuất của dân có thể đề nghị tiến hành thăm dò nguyện vọng của dân. Quốc hội bang quyết định là có được tiến hành thăm nguyện vọng của dân theo đề nghị hay không. Một cuộc thăm dò nguyện vọng của dân có giá trị khi trong thời hạn nửa năm có ít nhất 5% cử tri nhất trí với nội dung thăm dò nguyện vọng.

Trưng cầu dân ý[sửa | sửa mã nguồn]

Khi một cuộc thăm dò nguyện vọng của dân đã có giá trị thì trong vòng 9 tháng phải tiến hành thực hiện trưng cầu dân ý về dự thảo luật hay là một văn kiện. Quốc hội bang có thể đưa ra thêm một dự thảo luật riêng hay là mội văn kiện khác để lấy ý kiến đồng thời. Không tiến hành trưng cầu dân ý khi luật đã được quốc hội bang thông qua, do vậy trưng cầu dân ý là thừa và nếu Toà án Hiến pháp Liên bang trên cơ sở kiến nghị của quốc hội bang và chính phủ bang xác định cuộc thăm dò dân ý là vi phạm hiến pháp.

Dự thảo luật hay là một văn kiện nào khác được cuộc trưng cầu dân ý thông qua khi đa số những người tham gia ý kiến đồng ý, tuy nhiên tối thiểu phải một phần tư số lượng cử tri. Một sự thay đổi hiến pháp qua trưng cầu dân ý cần có sự nhất trí của 2/3 số người tham gia ý kiến, tuy nhiên đó phải là 1 nửa số cử tri. Quá trình lấy ý kiến chỉ tính những ý kiến Nhất trí (Có) hay Không nhất trí (Không) là có giá trị.

Ban hành luật[sửa | sửa mã nguồn]

Các dự thảo luật được chính phủ bang, một số hay nhiều đại biểu quốc hội đề xuất họăc là xuất phát từ đề xuất của dân. Các luật được quôc hội bang hay cuộc trưng cầu dân ý thông qua. Những luật thay đổi hiến pháp cần có sự nhất trí của 2 phần 3 đại biểu quốc hội bang cũng như sự nhất trí của dân. Ngoài ra, từng câu chữ của đoạn văn bản hiến pháp được sửa đổi phải được thể hiện một cách rõ ràng và khúc chiết.