Thomas Mann

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thomas Mann
Sinh 6 tháng 6 năm 1875
Lübeck, Đức
Mất 12 tháng 8, 1956 (81 tuổi)
Zürich, Thụy Sĩ
Công việc Nhà văn


Paul Thomas Mann (6 tháng 6 năm 1875 – 12 tháng 8 năm 1955) là nhà văn Đức đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1929 và Giải Goethe năm 1949. Ông được coi là nhà văn lớn nhất của Đức thế kỷ 20.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thomas Mann sinh ở Lübeck, Đức, là con trai thứ hai của Thomas Johann Heinrich Mann (thương gia và thành viên Hội đồng thành phố), và Júlia da Silva Bruhns (một người Brasil sang Đức năm lên 7 tuổi). Thomas có anh trai Henrich, cũng là một nhà văn nổi tiếng, một em trai và hai em gái. Thời nhỏ gia đình Mann sống sung túc, các con được học hành đến nới đến chốn. Năm 1891, cha Thomas Mann mất vì bệnh ung thư. Theo di chúc của cha ông, gia đình bán công ty và nhà ở Lübeck, mẹ ông và các con chỉ sống bằng tiền gửi tiết kiệm. Từ đây cả gia đình chuyển đến sống ở München - một trung tâm văn hóa và tri thức của nước Đức. Năm 19 tuổi Thomas Mann đã bắt đầu viết báo nhưng luôn mơ ước trở thành nhà văn như anh trai mình. Những truyện ngắn đầu tiên của ông in trong tập Der kleine Herr Friedemann (Ngài Friedemann bé nhỏ) xuất bản năm 1898. Năm 1901, Mann xuất bản tiểu thuyết đầu tiên Buddenbrooks - Verfall einer Familie (Gia đình Buddenbrooks) - kể về sự suy sụp của một gia đình ba đời buôn bán ở Lübeck trong bối cảnh cạnh tranh của chủ nghĩa đế quốc. Bộ tiểu thuyết đặc sắc này đã mang lại cho ông giải Nobel năm 1929.

Thomas Mann là nhà văn có tư tưởng nhân đạo dân chủ tư sản, chống phát xít, đại diện cho truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đức. Ông tập trung miêu tả quá trình suy sụp của giai cấp tư sản với một ngòi bút hiện thực, mỉa mai, chú trọng phân tích tâm lí, đi sâu vào các khía cạnh bệnh hoạn, cái phù du và cái chết. Văn của Mann chính xác, từ ngữ gọt giũa kĩ lưỡng, đòi hỏi người đọc phải tập trung suy nghĩ, ông dùng nhiều từ ngữ nước ngoài, sử dụng nhiều kiến thức về triết học, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, y học, xã hội học, phân tâm học.

Năm 1905, Thomas Mann cưới vợ, sinh 6 người con (trong đó có ba người sau này cũng trở thành nhà văn). Cuộc hôn nhân không phải là cách giải quyết cho ông về vấn đề đồng tính luyến ái. Đó cũng là một đề tài mà Mann say mê thể hiện trong sáng tác của mình, tiêu biểu là Der Tod in Venedig (Cái chết ở Venezia, 1913) - một trong những truyện dài xuất sắc nhất của văn chương thế giới.

Thế chiến thứ nhất đã đẩy nhà văn vào một cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Ông viết tập kí 600 trang Betrachtungen eines Unpolitischen (Những suy ngẫm ngoài chính trị, 1918) trong thời gian này. Sau chiến tranh ông trở lại với văn học nghệ thuật, hoàn thành một trong những đỉnh cao sáng tác của mình là Der Zauberberg (Ngọn núi phù thủy). Năm 1929 ông được nhận giải Nobel, chủ yếu vì bộ tiểu thuyết vĩ đại Buddenbrooks - Verfall einer Familie. Từ những năm 1930, Thomas Mann tích cực tham gia các hoạt động chính trị, chống chủ nghĩa phát xít; dưới thời Đức quốc xã sách của ông bị cấm và bị đốt ở Đức, ông bị tước quốc tịch Đức (1936), phải sống lưu vong. Năm 1938 ông sang Mỹ và trở thành công dân Mỹ (1944). Sau chiến tranh ông về thăm cả Đông và Tây Đức, được đón tiếp long trọng nhưng ông không ở lại Đức mà sang định cư ở Zürich (Thụy Sĩ) cho đến khi mất.

Những năm cuối đời, Thomas Mann tiếp tục sáng tác những tác phẩm lớn dựa vào đề tài lịch sử. Sau khi qua đời, sáng tác của Thomas Mann tiếp tục nhận được sự đánh giá rất cao, đặc biệt là của nhà thơ Rainer Maria Rilke.

Ngoài giải Nobel, ông được cả Đông và Tây Đức trao tặng giải thưởng Goethe năm 1949 và bằng danh dự của Đại học OxfordĐại học Cambridge.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Thomas Mann ở Nida, (tiếng Đức: Nidden)
  • Der kleine Herr Friedemann (Ngài Friedemann bé nhỏ, 1898), tập truyện
  • Buddenbrooks - Verfall einer Familie (Gia đình Buddenbrooks, 1901), tiểu thuyết
  • Tristan (1903), tập truyện
  • Der Tod in Venedig (Cái chết ở Venezia, 1913), truyện ngắn
  • Betrachtungen eines Unpolitischen (Những suy ngẫm ngoài chính trị, 1918), tập kí
  • Goethe und Tolstoi (Goethe và Tolstoi, 1923), tiểu luận
  • Der Zauberberg (Ngọn núi phù thủy, 1924), tiểu thuyết
  • Mario und der Zauberer (Mario và người phù thủy, 1929), truyện
  • Joseph und seine Brüder (Joseph và những người anh em, 1933), tiểu thuyết
  • Lotte in Weimar (Lotte ở Weimar, 1939), tiểu thuyết
  • Joseph, der Ernährer (Joseph, người nuôi sống, 1943), tiểu thuyết
  • Doktor Faustus (Bác sĩ Faustus, 1947), tiểu thuyết
  • Der Erwählte (Người được lựa chọn, 1951), tiểu thuyết
  • Versuchuber Tschechow (Tiểu luận về Trekhov, 1954), tiểu luận
  • Bekenntnisse des Hochstaplers Felix Krull. Der Memoiren erster Teil (Lời thú nhận của tay lừa đảo Felix Krull, 1954), tiểu thuyết

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]