Salvatore Quasimodo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Salvatore Quasimodo
Sinh 20 tháng 8, 1901
Sicilia, Italy
Mất 14 tháng 7, 1968
Nạpoli, Italy
Công việc Nhà thơ
Quốc gia người Ý

Salvatore Quasimodo (20 tháng 8 năm 1901 - 14 tháng 7 năm 1968) là nhà thơ người Ý đoạt giải Nobel Văn học năm 1959.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Salvatore Quasimodo sinh tại Sicilia, học ở các trường kỹ thuật theo ý muốn của cha mẹ nhưng từ năm 1938 dạy văn học ở Nhạc viện Milano. Năm 1916, Quasimodo vào học trường kỹ thuật ở Palermo và sau đó theo học trường bách khoa ở Roma với mong muốn trở thành một kĩ sư. Ngoài ra, ông còn học tiếng Latintiếng Hy Lạp tại đó. Tuy nhiên, vì lý do kinh tế, ông không thể hoàn thành việc học tập. Từ khi là học sinh ông đã say mê và đọc nhiều sách văn học, bắt đầu đăng báo những bài thơ đầu tiên, nhưng thời gian đầu do không tự tin lắm với khả năng văn học của mình nên ông đã vào làm việc ở Bộ Xây dựng. Năm 1930 Quasimodo xuất bản tập thơ đầu tiên Acque e terre (Nước và Đất).

Trong giai đoạn từ 1930 tới 1938, ông làm quen với rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức nổi tiếng của Ý, xuất bản hàng loạt tập thơ được chú ý. Năm 1938, ông xin thôi việc ở Bộ Xây dựng và làm biên tập viên cho tạp chí Tempo, 3 năm sau trở thành giáo sư văn học Ý ở Nhạc viện Milano.

Salvatore Quasimodo

Thơ của ông cũng có nhiều sự thay đổi: đầu tiên theo chủ nghĩa hiện thực, thập niên 1930 theo trường phái Hermetic, khi Thế chiến thứ hai nổ ra lại hướng về những đề tài xã hội. Năm 1946 Salvatore Quasimodo gia nhập Đảng Cộng sản Ý nhưng sau đó đã ra khỏi đảng vì không muốn làm thơ về chính trị. Đối với Quasimodo, vai trò của nhà thơ phải mang tính tích cực: nhà thơ dùng tài năng của mình để tham gia vào cuộc đấu tranh trong xã hội hiện đại. Các tác phẩm về sau của Quasimodo càng thể hiện sự thay đổi, đi từ phản ánh nội tâm cá nhân sang tính xã hội, và hơn nữa còn khẳng định đặc điểm tích cực của cuộc sống thậm chí trong một thế giới mà cái chết là nỗi ám ảnh thường trực. Trong tập thơ La terra impareggiabile (Đất vô song, 1958) ông đã phát triển một ngôn ngữ mới thể hiện hoạt động mới của con người và các khám phá mới.

Năm 1953 ông được trao giải thưởng Thơ quốc tế Etna Taormina, bằng danh dự Đại học Oxford và nhiều giải văn chương khác. Năm 1959, Quasimodo được trao giải Nobel vì "những tác phẩm thơ trữ tình xuất sắc phản ánh kinh nghiệm bi thảm của thời đại bằng một nghệ thuật trác tuyệt".

Ngoài sáng tác, Quasimodo còn là một dịch giả thơ nổi tiếng. Ông dịch thơ trữ tình Hy Lạp (I lirici greci), thơ của William Shakespeare và của nhiều nhà thơ đương đại của thế giới. Salvatore Quasimodo mất tại Napoli.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Acque e terre (Nước và đất, 1930), thơ
  • Oboe sommerso (Kèn ô boa, 1932), thơ
  • Odore di eucalyptus e altri versi (Hương khuynh diệp và các bài thơ khác, 1933), tập thơ
  • I lirici greci (Thơ trữ tình Hy Lạp, 1940), thơ dịch
  • Nuove poesie (Các bài thơ mới, 1942), thơ
  • Con il piede straniero sopra il coure (Bàn chân kẻ xa lạ đặt trên trái tim tôi, 1945), tập thơ
  • Giorno dopo giorno (Ngày lại ngày, 1946), thơ
  • La vita non è sogno (Cuộc đời không phải là giấc mộng, 1949), thơ
  • Il fallo e vero verde (Màu xanh giả và màu xanh thật, 1956), tập thơ
  • Discorso sulla poesia (Bàn về thơ, 1956), tiểu luận
  • La terra impareggiabile (Đất vô song, 1958), thơ
  • Il poeta, e il politico e altrri saggi (Nhà thơ, nhà chính trị và các tiểu luận khác, 1960), tiểu luận
  • Dare e avere (Cho và có, 1966), tập thơ

Một số bài thơ được dịch sang tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Alle fronde dei Salici
 
Е come potevamo noi cantare con il
piede straniero sopra il cuore, fra i
morti abbandonati nelle piazze sull'erba
dura di ghiaccio, al lamento d'agnello
dei fanciulli, all'urlo nero della madre
che andava incontro al figlio crocifisso
sul palo del telegrafo? Alle fronde dei
salici, per voto, anche le nostre cetre
erano appese, oscillavano lievi al triste
vento.
 
Neve
 
Scende la sera: ancora ci lasciate
immagini care della terra, alberi,
animali, povera gente chiusa
dentro i mantelli dei soldati, madri dal
ventre inaridito dalle lacrime. E la neve
ci illumina dai prati come luna. Oh
questi morti. Battete sulla fronte,
battete fino al cuore. Che urli almeno
qualcuno nel silenzio, in questo cerchio
bianco di sepolti.
 
Colore di Pioggia e Ferro
 
Dicevi: morte silenzio solitudine;
come amore, vita. Parole
delle nostre provvisorie immagini.
E il vento s'e levato leggero ogni mattina
e il tempo colore di pioggia e di ferro
ё passato sulle pietre,
sul nostro chiuso ronzio di maledetti.
Ancora la verita ё lontana.
E dimmi, uomo spaccato sulla croce,
e tu dalle mani grosse di sangue,
come rispondero a quelli che domandano?
Ora, ora: prima che altro silenzio
entri negli occhi, prima che altro vento
saiga e altra ruggine fiorisca.
Trên những rặng liễu
 
Chẳng lẽ ta có thể hát lên dưới gót dày
của ngoại bang, khi mà trên những quảng
trường mùa đông chất đầy xác chết
đã nhiều ngày, và con tim tan nát
vì không im tiếng khóc, tiếng nức nở của
những mẹ già có những đứa con trai bị treo
trên dây thép? Lúc này ta phải hát làm sao?
Trên những rặng liễu, giữa đồng hoang và
những cây đàn của ta nhẹ tênh, đung đưa
trong ngọn gió giá băng vô cùng buồn bã.
 
Tuyết
 
Ngọn gió cúi xuống, chia tay với các ngươi
những bóng hình yêu quí của đất đai – cây cối
con người, súc vật
trùm lên những chiếc áo khoác
những bà mẹ không biết làm sao khóc lên
và như trăng, tuyết chiếu sáng cho ta từ những cánh đồng.
Ôi những linh hồn chết trong con tim gõ nhịp.
Dù cho ai đấy phá vỡ sự lặng im bằng tiếng khóc
nức nở của mình, như áo quan
màu tuyết trắng khắp nơi như màu chết.
 
Màu mưa và rỉ sắt
 
Ngươi nói rằng: sự im lặng, cái chết, sự cô đơn
cũng như người ta nói tình yêu và cuộc sống
đó là những lời trung chuyển.
Và ngọn gió mỗi buổi sáng rung lên
và màu mưa, rỉ sắt của thời gian
mang về trên đá
trên những lời nguyền rủa
đến sự thật hãy còn quá xa xôi.
Thì hãy nói cho ta nghe, con người
con người bị đóng đinh trên thập ác
và ngươi - đôi bàn tay máu còn dính chặt
ta biết trả lời làm sao những câu hỏi này?
và giờ đây, trước khi sự im lặng ùa vào đôi mắt
trước khi ngọn gió mới lại rung lên, và rỉ sắt
lại dâng đầy.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]