Gabriela Mistral

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lucila de María del Perpetuo Socorro Godoy Alcayaga
Sinh 7 tháng 4 năm 1889
Vicuña, Chile
Mất 10 tháng 1 năm 1957
Hempstead, New York, Hoa Kỳ
Bút danh Gabriela Mistral
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Chile

Gabriela Mistral (7 tháng 4 năm 1889 - 10 tháng 1 năm 1957), tên thật là Lucila Godoy de Alcayaga, là nhà giáo dục, nhà ngoại giao, nhà thơ người Chile đoạt giải Nobel Văn học năm 1945.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Gabriela Mistral làm giáo viên trường làng từ năm 16 tuổi và sau đó trở thành hiệu trưởng của nhiều trường trung học. Khi còn là một cô giáo phụ giảng ở trường làng, cô gái Lucia Godoy de Alcayaga yêu chàng công nhân đường sắt có tên là Romelio Ureta. Sau một thời gian hai người đính hôn nhưng chưa làm lễ cưới vì họ rất hay cãi nhau. Trong một lần xích mích, không hiểu gay gắt đến mức nào mà cuối cùng chàng trai đã chọn cho mình cái chết bằng cách treo cổ tự tử. Cô gái vô cùng đau đớn vì cái chết này và chính trong những ngày đau đớn tột cùng đã viết ra những bài thơ đầu tiên: Sonnetos de la Muerte (Những bài sonnê của cái chết). Ba bài sonnê mang một cái tên chung này được tặng giải nhất trong cuộc thi thơ ở thủ đô Santiago có tên Juegos Florales (Thi hoa). Vì ngại rằng những bài thơ tình kia có thể ảnh hưởng không tốt đến nghề giáo nên cô đã lấy bút danh là Gabriela Mistral. Đây là tên của nhà văn Ý, Gabriele d'Annunzio và họ của nhà thơ người Provence, Frédéric Mistral (giải Nobel Văn chương năm 1904) – những người mà cô giáo Lucia Godoy yêu mến nhất.

Năm 1922 in tập thơ Desolación (Tuyệt vọng) gây chấn động trên văn đàn Mỹ Latinh. Cũng trong năm này bộ trưởng giáo dục Mexico mời bà làm cố vấn cho cải cách giáo dục ở Mexico. Sau đó bà là thành viên của Ủy ban Văn hóa Liên minh các quốc gia, là lãnh sự của Chile ở nhiều nước và giảng viên của nhiều trường đại học. Bà có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hệ thống giáo dục của Chile và Mexico. Từ năm 1924, bà được giao trọng trách điều hành tòa lãnh sự Chile lần lượt tại các nước Nepal, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, BrasilMỹ. Bà cũng là thành viên của Ủy ban Văn hóa Liên minh các quốc gia. Bà đã được nhận bằng danh dự của các trường Đại học Firenze, Guatemala và là giảng viên của trường Middlebury College, Đại học Columbia, Vassar CollegeĐại học Puerto Rico. Tuy nhiên, điều làm bà nổi tiếng không phải là sự nghiệp giáo dục, chính trị, mà là thơ văn.

Thơ của Gabriela Mistral có một khát vọng và nỗi đam mê hiếm thấy, mà đặc biệt, là những suy ngẫm về cái chết – điều chưa từng có trước đó trong thơ ca bằng tiếng Tây Ban Nha. Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới (trong đó có tiếng Việt). Nhiều nhà thơ lớn Mỹ Latin chịu sự ảnh hưởng của phong cách thơ Mistral. Năm 1945 bà được trao giải Nobel, trở thành người Mỹ Latin đầu tiên đoạt giải thưởng này. Gabriela Mistral mất tại New York.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sonnetos de la Muerte (Những bài sonnet của cái chết, 1914), thơ
  • Desolación (Nỗi tuyệt vọng, 1922), thơ
  • Ternura (Dịu dàng, 1924), thơ
  • Tala (Hủy diệt, 1938), thơ
  • La palabra maldita (Lời nguyền xa, 1950), tiểu luận
  • Lagar (Máy ép, 1954), thơ
  • Poema de Chile (Thơ Chile, 1967) thơ
  • Lagar II (Máy ép II, 1991), thơ

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Gabriela Mistral và Martinez Delgado
CANCIONES DE SOLVEIG
 
I
 
La tierra es dulce cual humano labio,
como era dulce cuando te tenía,
y toda está ceñida de caminos...
Eterno amor, te espero todavía.
 
Miro correr las aguas de los años,
miro pasar las aguas del destino.
Antiguo amor, te espero todavía:
la tierra está ceñida de caminos..
 
Palpita aún el corazón que heriste:
vive de ti como de un viejo vino.
Hundo mis ojos en el horizonte:
la tierra está ceñida de caminos...
 
Si me muriera, el que me vio en tus brazos,
Dios que miró mi hora de alegría,
me preguntara dónde te quedaste,
me preguntara ¡y qué respondería!
 
Suena la azada en lo hondo de este valle
donde rendida el corazón reclino.
Antiguo amor, te espero todavía:
la tierra está ceñida de caminos...
 
II
 
Los pinos, los pinos
sombrean la cuesta:
¿en qué pecho el que amo
ahora se recuesta?
 
Los corderos bajan
a la fuente pía:
¿en qué labio bebe
el que en mí bebía?
 
El viento los anchos
abetos enlaza:
llrando como hijo
por mi pecho pasa.
 
Sentada a la puerta
treinta años ya espero.
¡Cuánta nieve, cuánta
cae a los senderos!
 
III
 
La nube negra va cerrando el cielo
y un viento humano hace gemir los pinos;
la nube negra ya cubrió la tierra.
¡Cómo vendrá Peer Gynt por los caminos!
 
La noche ciega se echa sobre el llano
!ay! sin piedad para los peregrinos.
La noche ciega anegará mis ojos:
¡cómo vendrá Peer Gynt por los caminos!
 
La nieve muda está bajando en copos:
espesa, espesa sus tremendos linos
y ya apagó los fuegos de pastores:
¡cómo vendrá Peer Gynt por los caminos!
NHỮNG KHÚC HÁT SOLVEIG
 
I
 
Trong vòng tay ôm của những con đường
Đất ngọt ngào như môi người trần thế
Đất vẫn ngọt như ngày anh còn ở
Tình yêu ơi, em chờ gặp cùng anh.
 
Em ngó nhìn vào dòng sông thời gian
Nhìn số kiếp ba đào trong lo lắng
Em đợi anh trở về từ xa thẳm
Bao bọc trên mặt đất những con đường.
 
Sống bằng anh, như rượu, tâm hồn em
Đau đớn vì anh nhưng chưa chết hẳn
Em nín thở, mắt nhìn vào xa vắng
Ôm ấp lên mặt đất những con đường.
 
Chúa Trời thấy em trong vòng tay anh
Khi em chết, em trả lời với Chúa
Nếu Ngài hỏi, anh ở đâu lần lữa
Và sao quên đường quay trở về em?
 
Trong thung lũng tiếng cuốc xẻng vang lên
Và em đang đi về gần ngôi mộ
Em vẫn đợi chờ anh, anh yêu ạ
Con đường ôm mặt đất chẳng vô tình!
 
II
 
Sườn dốc núi, trên con đường của mình
Những cây thông phủ bóng màu xanh thắm
Trên lồng ngực của ai còn âu yếm
Anh ngả lên, có phải thế không anh?
 
Trên dòng suối tiếng nước chảy rì rầm
Hướng dòng nước một đàn cừu tấp nập
Ai người lên bờ môi ai ép chặt
Có phải người một thuở đã từng hôn?
 
Đang cười vui với gió những cây phong
Cành run rẩy, cúi mình vào mặt đất
Nhưng nghe như tiếng trẻ con đang khóc
Rồi ngả vào trong lồng ngực của em.
 
Em chờ anh đằng đẵng ba mươi năm
Em ngồi đây, đợi chờ bên cánh cửa
Tuyết vẫn rơi mà anh không về nữa
Tuyết nằm lên tất cả mọi con đường.
 
III
 
Mây đen đầy trời, thông khóc nỉ non
Giống như người, gió gào trong lo lắng
Mây bao trùm mặt đất như tuyết trắng
Như Peer Gynt về đây tìm thấy con đường!
 
Đêm dè dặt và dày đặc màn sương
Xin một chút thương cho người phiêu lãng
Đôi mắt em khổ vì đêm mù quáng
Như Peer Gynt về đây tìm thấy con đường!
 
Tuyết rơi to và ngày một dày hơn
Kẻ lạc lối có ai người giúp đỡ
Tuyết dập của người mục phu đống lửa
Như Peer Gynt về đây tìm thấy con đường!
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]