Bob Dylan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bob Dylan
Bob Dylan - Azkena Rock Festival 2010 2.jpg
Dylan trên sân khâu liên hoan Azkena Rock Festival, Vitoria-Gasteiz, Tây Ban Nha ngày 26 tháng 6 năm 2010
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Robert Allen Zimmerman
Nghệ danh Elston Gunnn, Blind Boy Grunt, Lucky Wilbury, Boo Wilbury, Elmer Johnson, Sergei Petrov, Jack Frost, Jack Fate
Sinh 24 tháng 5, 1941 (73 tuổi)
Duluth, Minnesota, Mỹ
Nguyên quán Hibbing, Minnesota, Mỹ
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, ca sĩ, nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, diễn viên, biên kịch, DJ
Thể loại Folk, folk rock, rock, blues, nhạc đồng quê
Nhạc cụ Hát, guitar, bass, harmonica, keyboard, accordion, định âm
Năm 1959–nay
Hãng đĩa Columbia, Asylum
Hợp tác Paul Butterfield Blues Band, Al Kooper, The Band, Rolling Thunder Revue, Mark Knopfler, Traveling Wilburys, Tom Petty and the Heartbreakers, Van Morrison, Grateful Dead
Website www.bobdylan.com

Robert Allen Zimmerman (sinh ngày 24 tháng 5 năm 1941), được biết tới dưới nghệ danh Bob Dylan, là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung suốt 5 thập kỷ trở lại đây. Những thành tựu lớn nhất của ông chủ yếu có được trong thập niên 1960 khi ông trực tiếp là người khởi xướng và đi đầu trong những phong trào xã hội. Rất nhiều ca khúc những ngày đầu của Dylan, tiêu biểu là "Blowin' in the Wind" và "The Times They Are a-Changin'" đã trở thành thánh ca của các hoạt động nhân quyền và phản đối chiến tranh. Bỏ lại sau lưng phong cách nhạc folk, đĩa đơn "Like a Rolling Stone" (1965) của ông đã trực tiếp thay đổi toàn bộ xã hội lúc bấy giờ. Những sản phẩm của ông kể từ giữa thập niên 1960, kết hợp cùng nhiều nghệ sĩ rock đương thời, đều có được vị trí cao tại các bảng xếp hạng của Mỹ, đồng thời nhận được nhiều thái độ chê bai và dèm pha từ làn sóng nhạc folk.

Ca từ của Dylan là sự kết hợp phức tạp giữa tính chính trị, xã hội, triết học và cả văn học. Nội dung của chúng trái người hoàn toàn với thứ nhạc pop thông thường và là tiền đề cho phong trào phản văn hóa. Vốn ngưỡng mộ phong thái của Little Richard và cách viết nhạc của những Woody Guthrie, Robert JohnsonHank Williams, Dylan đã cộng hưởng và tạo nên phong cách của riêng mình. Sự nghiệp thu âm kéo dài tới hơn 50 năm của ông là sự trải nghiệm rất nhiều phong cách truyền thống đa dạng của nước Mỹ, từ folk, bluesnhạc đồng quê cho tới nhạc phúc âm, rock 'n' rollrockabilly cũng như nhạc folk từ Anh, Scotland và Ireland, đôi lúc pha trộn với jazzswing. Thương hiệu trình diễn của Dylan là sử dụng harmonica, guitar và keyboard. Cho dù thay đổi rất nhiều nhạc sĩ cộng tác, ông vẫn đi tour đều đặn kể từ cuối thập niên 1980 mà sau này ông đặt tên Never Ending Tour. Sự dung hòa giữa hình ảnh nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ thu âm chính là điểm nhấn trong sự nghiệp của Dylan, song những đóng góp lớn nhất của ông vẫn là dưới vai trò người viết nhạc.

Kể từ năm 1994, Dylan đã cho phát hành 6 cuốn sách về những tác phẩm hội họa của mình và rất nhiều trong số chúng đã được trưng bày tại các triển lãm lớn nhỏ. Trong vai trò nhạc sĩ, ông đã bán được ít nhất 100 triệu đĩa, đưa ông trở thành một trong số những nghệ sĩ có số đĩa bán chạy nhất mọi thời đại, ngoài ra ông cũng có vô số danh hiệu và giải thưởng, trong đó có thể kể tới giải Grammy, giải Quả cầu vànggiải Oscar; ông cũng được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Đại sảnh Danh vọng âm nhạc Minnesota, Đại sảnh Danh vọng nhạc sĩ Nashville và Đại sảnh Danh vọng nhạc sĩ,... Dylan cũng được trao giải Pulitzer báo chí năm 2008 cho "những đóng góp đặc biệt của ông cho âm nhạc và văn hóa, được đánh dấu bởi những ca từ phức tạp kết hợp với sức mạnh đặc biệt của thi ca". Tháng 5 năm 2012, ông được trao Huân chương Tự do từ Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thơ và khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bob Dylan tên thật là Robert Allen Zimmerman (tiếng Hebrew רוברט אלן צימרמאן‎, tên Hebrew שבתאי זיסל בן אברהם [Shabtai Zisl ben Avraham])[1][2], sinh tại bệnh viện St. Mary ngày 24 tháng 5 năm 1941 ở Duluth, Minnesota[3][4], sau đó lớn lên ở Hibbing, Minnesota, phía tây hồ Thượng. Ông bà nội của cậu, Zigman và Anna Zimmerman, nhập cư tới Mỹ từng vùng Odessa của Đế quốc Nga (nay thuộc Ukraina) sau sự kiện bài Do Thái năm 1905[5]. Ông bà ngoại của cậu, Benjamin và Lybba Edelstein, là những người Do Thái từ Litva tới Mỹ từ năm 1902[5]. Trong cuốn tự truyện Chronicles: Volume One, Dylan nhớ rằng tên thuở thiếu nữ của bà nội cậu là Kirghiz có nguồn gốc từ Kağızman, phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ[6].

Cha mẹ của Robert, Abram Zimmerman và Beatrice "Beatty" Stone, thuộc về một nhóm người Do Thái khép kín tại đây. Robert Zimmerman sống ở Duluth cho tới tận 6 tuổi khi bố cậu bị tai nạn bại liệt buộc cả gia đình phải chuyển tới quê mẹ cậu ở Hibbing – nơi mà cậu nhóc Robert trải qua hết tuổi thơ của mình. Cậu dành nhiều thời gian khi còn nhỏ của mình để nghe đài phát thanh, đầu tiên là những kênh nhạc blues và nhạc đồng quê từ Shreveport, Louisiana, rồi sau đó khi tới tuổi thiếu niên là những giai điệu rock 'n' roll[7]. Robert cũng lập nên rất nhiều ban nhạc trong quãng thời gian theo học tại trường Hibbing. Cậu từng hát lại rất nhiều ca khúc của Little Richard[8] cũng như Elvis Presley[9]. Phần trình diễn của họ ca khúc "Rock and Roll Is Here to Stay" của Danny & the Juniors trong cuộc thi tài năng ở trường đã từng bị yêu cầu tắt micro vì quá ồn ào[10]. Năm 1959, cuốn niên giám tốt nghiệp của trường Hibbing có ghi dòng chữ "Robert Zimmerman: to join 'Little Richard'"[gc 1][8][11]. Cùng năm, dưới nghệ danh Elston Gunnn, cậu được tham gia trình diễn cùng Bobby Vee khi chơi lót piano và tay vỗ[12][13][14].

Zimmerman chuyển tới Minneapolis vào tháng 9 năm 1959 khi cậu theo học tại Đại học Minnesota. Những mối quan tâm trước đây của cậu tới rock 'n' roll nhanh chóng chuyển thành nhạc folk Mỹ. Năm 1985, anh giải thích sự chuyển biến này:

"Những thứ có được với rock 'n' roll đối với tôi dù thế nào cũng không đủ... Nó vẫn có những câu ẩn ý rất hay và cả những nhịp lên xuống... nhưng ca khúc thì thực sự không nghiêm túc và không thể hiện được đời sống thực. Tôi chỉ biết điều đó khi được tiếp xúc với nhạc folk, nó là một thể loại nghiêm túc hơn hẳn. Những ca khúc chứa đựng trong mình nhiều sự thất vọng hơn, nhiều nỗi buồn hơn, nhiều vinh quang hơn, nhiều niềm tin hơn trong một thứ cảm xúc siêu nhiên và lắng đọng hơn."[15]

Không lâu sau, Zimmerman tới trình diễn tại Ten O'Clock Scholar, một quán cà phê đọc sách nhỏ trong trường, và nhanh chóng đi theo dòng chảy nhạc folk của vùng Dinkytown[16][17]. Trong những ngày ở đây, cậu bắt đầu tự giới thiệu mình dưới tên "Bob Dylan". Trong tâm trí mình, Dylan sau này nhớ lại rằng mình bị ảnh hưởng lớn từ nhà thơ Dylan Thomas[18][gc 2]. Trong buổi phỏng vấn năm 2004, ông nhấn mạnh: "Bạn có thể được sinh ra với một cái tên xấu, bởi những người cha mẹ không mong muốn. Ý tôi là, nó đã diễn ra như vậy đấy. Bạn có thể gọi mình bằng bất kể cái tên bạn muốn. Đây là đất nước tự do."[20]

Thập niên 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyển tới New York[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1960, Dylan bỏ học ngay năm thứ nhất của Đại học. Tháng 1 năm 1961, anh du lịch tới New York, hi vọng được trình diễn tại đây và gặp gỡ thần tượng Woody Guthrie[21], người đang phải điều trị vì rối loạn chức năng thần kinh tại bệnh viện Greystone Park[22]. Guthrie là người mở lối cho Dylan và có rất nhiều ảnh hưởng tới những ngày đầu tiên của anh. Miêu tả về vai trò của Guthrie, sau này Dylan viết: "Những ca khúc có trong mình sự bao quát rộng lớn về nhân đạo... [Anh ấy] là tiếng nói thực sự của tâm hồn Mỹ. Tôi tự nhủ bản thân sẽ trở thành học trò tốt nhất của Guthrie."[23] Khi tới thăm Guthrie tại bệnh viện, Dylan kết bạn với Ramblin' Jack Elliott. Rất nhiều tiết mục của Guthrie được cung cấp qua Elliott, và Dylan đã tri ân Elliott bằng việc nhắc tới ông trong cuốn tự truyện Chronicles (2004)[24].

Từ tháng 2 năm 1961, Dylan đi diễn tại nhiều câu lạc bộ nhỏ quanh khu vực Làng Greenwich. Anh làm quen và trau dồi kỹ năng với rất nhiều ca sĩ nhạc folk tại đây, có thể kể tới Dave Van Ronk, Fred Neil, Odetta, The New Lost City Ramblers, và những nghệ sĩ từ Ireland như The Clancy Brothers and Tommy Makem[25]. Tới tháng 9, anh và Robert Shelton có được chút chú ý từ dư luận khi viết đánh giá cho tờ The New York Times về một buổi diễn tại Gerde's Folk City[26]. Anh cũng tham gia chơi harmonica trong album phòng thu thứ 3 của ca sĩ Carolyn Hester, khiến anh được nhà sản xuất John Hammond để ý[27]. Hammond giúp đỡ Dylan có được hợp đồng thu âm đầu tiên với Columbia Records vào tháng 10. Những bản thu đầu tiên được đưa vào album Bob Dylan, phát hành vào tháng 3 năm 1962[28], bao gồm nhiều chất liệu folk, blues và phúc âm quen thuộc đi cùng với 2 sáng tác bởi cá nhân anh. Album chỉ có được một chút thành công khi bán được chỉ 5.000 bản trong năm đầu tiên, vừa đủ để thu hồi vốn[29]. Trong nội bộ hãng Columbia, nhiều người gọi anh là "sự ngớ ngẩn của Hammond" và khuyên ông nên hủy hợp đồng, song Hammond cùng Johnny Cash – một trong những người hâm mộ đầu tiên của Dylan – đã lên tiếng bảo vệ anh một cách mạnh mẽ[29]. Tháng 3 năm 1962, Dylan chơi harmonica và hát nền cho album Three Kings and the Queen cùng Victoria Spivey và Big Joe Williams tại phòng thu của hãng Spivey Records[30]. Trong nhiều buổi thu tại Columbia, anh còn sử dụng nghệ danh khác là Blind Boy Grunt[31] để thu âm cho Broadside Magazine – một tạp chí và một hãng đĩa nhỏ tại đây[32]. Dylan còn dùng nghệ danh Bob Landy để chơi piano trong The Blues Project, album tuyển tập năm 1964 của Elektra Records[31]. Ngoài ra dưới tên Tedham Porterhouse, anh còn chơi harmonica trong album Jack Elliott (1964) của Ramblin' Jack Elliott[31].

Baez và Dylan trình diễn trong hoạt động "Tuần hành về Washington cho việc làm và tự do" ngày 28 tháng 8 năm 1963

Dylan có 2 bước ngoặt sự nghiệp vào tháng 8 năm 1962. Anh chính thức đổi tên thành Bob Dylan và ký hợp đồng quản lý với Albert Grossman[33] (tháng 6 năm 1961, Dylan vừa mới ký hợp đồng quản lý với Roy Silver, và Grossman phải trả 10.000 $ để mua lại hợp đồng của Silver)[34]. Grossman còn làm quản lý cho anh cho tới tận năm 1970, nổi tiếng một phần vì tính cách hung hãn và một phần vì niềm tin mà ông bảo về cho thân chủ của mình[35]. Dylan sau này nói về ông: "Grossman là hình mẫu của Colonel Tom Parker... Bạn có thể đánh hơi được ông ta đang tới."[17] Những đối đầu lâu dài giữa Grossman và Hammond khiến Hammond không được tham giả sản xuất trong album thứ 2 của Dylan và bị thay thế bởi nhà sản xuất nhạc jazz trẻ tuổi, Tom Wilson[36].

Album thứ 2 của Dylan, The Freewheelin' Bob Dylan, được ra mắt vào tháng 3 năm 1963 đánh dấu việc Dylan trưởng thành trong cả vai trò ca sĩ lẫn người viết nhạc. Rất nhiều ca khúc trong album được coi là những sáng tác phản chiến, lấy cảm hứng từ Guthrie và mang những ảnh hưởng lớn từ Pete Seeger về chủ đề này[37]. "Oxford Town" chính là những lời dèm pha về trải nghiệm của James Meredith khi là người da màu đầu tiên được theo học tại Đại học Mississippi[38].

Ca khúc nổi tiếng nhất của Dylan thời điểm này là "Blowin' in the Wind", được lấy một phần từ một ca khúc truyền miệng giữa những người nô lệ da màu mang tên "No More Auction Block", tuy nhiên phần ca từ lại đặt ra những câu hỏi về quan điểm xã hội và chính trị[39]. Ca khúc được rất nhiều nghệ sĩ thu âm và sau đó trở thành bản hit rộng khắp qua ấn bản của Peter, Paul and Mary, mở đầu cho việc vô vàn nghệ sĩ khác có được thành công khi hát lại các ca khúc của Dylan. "A Hard Rain's a-Gonna Fall" được viết từ bản ballad nhạc folk "Lord Randall". Đề cập tới ngày tận thế nhãn tiền, nó càng thu hút được công chúng khi sự kiện Khủng hoảng tên lửa Cuba diễn ra chỉ vài tuần sau khi Dylan trình diễn bài hát trên[40][gc 3]. Cũng như "Blowin' in the Wind", "A Hard Rain's a-Gonna Fall" đánh dấu con đường viết nhạc mới của anh, hòa quyện dòng ý thức, ca từ giàu tính tưởng tượng trong giai điệu nhạc folk truyền thống[42].

Ngoài những ca khúc thương hiệu giúp Dylan sớm có được thành công, Freewheelin' còn bao gồm một số bản tình ca và ca khúc châm biếm, những câu chuyện blues siêu thực. Hài hước chính là một phần trong con người Dylan[43], và những chất liệu hoàn toàn mới của album đã gây ấn tượng tới rất nhiều nghệ sĩ khác, trong đó có The Beatles. George Harrison nói: "Chúng tôi đã chơi những ca khúc đó, và cố gắng thử nghiệm chúng với bản thân. Nội dung trong phần ca từ và đặc biệt là thái độ thực sự vô cùng căn nguyên và tuyệt diệu."[44]

Dylan trên sân khấu tháng 11 năm 1963

Giọng hát có phần thô ráp của Dylan ban đầu không cuốn hút nhiều người nghe mà chỉ một phần trong số họ. Miêu tả ấn tượng về âm nhạc của Dylan tới mình và chồng, Joyce Carol Oates viết: "Khi lần đầu chúng tôi nghe cậu ấy lúc mới vào nghề, còn rất trẻ với giọng hát còn chưa trui rèn, hoàn toàn giọng mũi, như kiểu một tờ giấy ráp biết hát vậy, hiệu ứng thật xúc động và kích thích."[45] Hầu hết những ca khúc nổi tiếng thuở đầu của Dylan chỉ được biết tới khi được hát lại bởi những nghệ sĩ khác, chẳng hạn Joan Baez – người hướng dẫn và bạn gái của Dylan[46]. Baez chính là người đưa âm nhạc của Dylan ra phạm vi quốc gia và quốc tế khi thu âm nhiều sáng tác của anh và mang anh lên sân khấu trong những buổi diễn của cá nhân cô[47].

Những nghệ sĩ khác từng hát lại các sáng tác của Dylan còn có The Byrds, Sonny & Cher, The Hollies, Peter, Paul and Mary, The Association, Manfred MannThe Turtles. Hầu hết họ đều mang cảm xúc và nhịp điệu nhạc pop vào trong các ca khúc, trong khi Dylan và Baez vẫn luôn trình diễn chúng theo phong cách nhạc folk. Những bản hát lại trên ngày một được nhiều người biết tới, tới mức đài CBS phải đưa thêm dòng phụ chú "Nobody Sings Dylan Like Dylan"[gc 4][48].

"Mixed Up Confusion" được thu âm trong thời kỳ Freewheelin', phát hành dưới dạng đĩa đơn song nhanh chóng bị thu hồi. Trái với phần trình bày cùng các nhạc cụ mộc trong album, đĩa đơn đã cho thấy những khám phá trải nghiệm của Dylan với âm nhạc rockabilly. Cameron Crowe miêu tả đây "cái nhìn hấp dẫn của một nghệ sĩ nhạc folk với tâm trí hướng về Elvis PresleySun Records"[49].

Phản chiến và Another Side[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1963, quan điểm chính trị của Dylan ngày một được quan tâm và anh được mời tới chương trình The Ed Sullivan Show. Trong quá trình tập dượt, anh được đài CBS thông báo rằng anh phải trình diễn ca khúc "Talkin' John Birch Paranoid Blues" nhằm ủng hộ tổ chức John Birch Society. Vì không muốn phải thỏa thuận với các cơ quan kiểm duyệt, Dylan quyết định không tham gia chương trình nữa[50].

Cũng khoảng thời gian này, Dylan và Baez cùng nhau tham gia vào rất nhiều hoạt động xã hội, bắt đầu từ cuộc Tuần hành về Washington ngày 23 tháng 8 năm 1963[51]. Album thứ 3 của anh, The Times They Are a-Changin', thể hiện một Dylan giàu tính chính trị và châm biếm hơn. Những ca khúc đề cập tới những chủ đề thời sự hơn, liên quan tới đời sống, trong đó "Only A Pawn In Their Game" được viết để gửi tới thủ phạm ám sát nhà hoạt động nhân quyền Medgar Evers, còn "The Lonesome Death of Hattie Carroll" lại nhắc tới cái chết của người phục vụ quán bar da màu Hattie Carroll bởi nhân vật hoạt động xã hội trẻ tuổi William Zantzinger[52]. Với chủ đề khái quát hơn, "Ballad of Hollis Brown" và "North Country Blues" thể hiện nỗi chán chường đối với sự tan vỡ của cộng đồng những người tá điền và khai thác mỏ. Những chất liệu chính trị thậm chí còn xuất hiện trong cả 2 bản tình ca "Boots of Spanish Leather" và "One Too Many Mornings"[53].

Cuối năm 1963, Dylan vận động và điều hòa giữa nhạc folk truyền thống và các hoạt động phản chiến. Những căng thẳng nổ ra khi trong lúc nhận giải thưởng Tom Paine bởi Ủy ban Quốc gia khẩn cấp về nhân quyền (NECLC)[gc 5] không lâu sau vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy, Dylan đã say sưa đặt những câu hỏi về vai trò của Ủy ban này, miêu tả những thành viên trong hội đồng là già nua và hói đầu, cho rằng đó là những đặc điểm tương đồng với thủ phạm ám sát Kennedy, Lee Harvey Oswald[55].

Another Side of Bob Dylan, thu âm chỉ trong một buổi tối tháng 6 năm 1964[56], mang cảm xúc tươi sáng hơn những album trước đó. Tính siêu thực và châm biếm vẫn được Dylan đưa vào trong những "I Shall Be Free No. 10" và "Motorpsycho Nightmare". "Spanish Harlem Incident" và "To Ramona" là những bản tình ca lãng mạn và say đắm, trong khi "Black Crow Blues" và "I Don't Believe You (She Acts Like We Never Have Met)" đã chỉ ra tính rock 'n' roll sau này là chủ đạo trong phong cách của anh. "It Ain't Me Babe", về vẻ ngoài đề cập tới một tình yêu bị chối bỏ, song thực tế lại nói tới việc anh cố gắng vượt qua những sức ép lên chính bản thân mình[57]. Con đường mới mà Dylan lựa chọn thể hiện qua 2 ca khúc dài: "Chimes of Freedom" với những yếu tố của định kiến xã hội trái ngược với phong cách ẩn dụ sâu sắc hơn mà sau này Allen Ginsberg gọi là "chuỗi những hình ảnh chói lòa"[58]; "My Back Pages" đả kích sự nghiêm túc dễ dãi và đầy hình thức trong những sản phẩm đầu tay của chính mình và dường như gợi ý con đường mới chống lại những vinh quang mà anh từng có được[59].

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, phong cách trình diễn của Dylan thay đổi hoàn toàn khi anh quyết định chuyển mình từ người đi đầu phong trào nhạc folk thành một ngôi sao folk rock. Quần bò phủi cùng chiếc áo khoác nhàu được thay thế bởi trang phục từ Carnaby Street, luôn luôn đeo kính râm và đi những "đôi giày The Beatles". Một phóng viên từ London viết: "Đầu tóc như thể muốn làm cho những chiếc răng lược cảm thấy xấu hổ. Những chiếc áo lòe loẹt phù hợp với khu đèn đỏ của Leiceiter. Trông anh ta như một con vẹt ốm đói vậy."[60] Dylan cũng bắt đầu nói nhiều tới những chủ đề siêu thực trong những bài phỏng vấn. Xuất hiện trên chương trình truyền hình của Les Crane, khi được hỏi về kế hoạch thực hiện bộ phim sắp tới, Dylan trả lời rằng đó là một bộ phim cao bồi kinh dị. Sau đó khi được hỏi liệu anh có thủ vai cao bồi không, Dylan đáp: "Không, tôi vào vai mẹ tôi."[61]

Tiếp xúc với nhạc cụ điện[sửa | sửa mã nguồn]

Album Bringing It All Back Home (1965) của Dylan đánh dấu một bước nhảy vọt mới về phong cách khi lần đầu tiên anh sử dụng nhạc cụ điện để thu âm. Đĩa đơn đầu tiên, "Subterranean Homesick Blues", có nhiều nét tương đồng với ca khúc "Too Much Monkey Business" của Chuck Berry, trong khi cách viết lời phóng khoáng gợi lại nhiều yếu tố từ phong cách thơ Beat, thậm chí khơi liên tưởng tới phong cách raphip-hop sau này. Ca khúc được đi cùng với một video ca nhạc, trình chiếu lần đầu trong bộ phim tài liệu Dont Look Back của đạo diễn D. A. Pennebaker mở màn tour diễn vòng quanh nước Anh của Dylan.

Highway 61 RevisitedBlonde on Blonde[sửa | sửa mã nguồn]

Tai nạn xe máy và hồi phục[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Thiên chúa giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Modern Times[sửa | sửa mã nguồn]

Together Through LifeChristmas in the Heart[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Never Ending Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng tác nghệ thuật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sounes, tr. 14, cho rằng tên tiếng Hebrew của Dylan là Shabtai Zisel ben Avraham
  2. ^ Văn phòng Chabad có ghi lại rất nhiều trẻ sơ sinh tên Zushe ben Avraham, mà theo tiếng Yiddish có thể có nhiều biến thể“Singer/Songwriter Bob Dylan Joins Yom Kippur Services in Atlanta”. Chabad.org News. 24 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  3. ^ Sounes, tr. 14
  4. ^ “Robert Allen Zimmerman”. Minnesota Birth Index, 1935–2002. Ancestry.com. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011. “Name: Robert Allen Zimmerman; Birth Date: 24 May 1941; Birth County: Saint Louis; Father: Abram H. Zimmerman; Mother: Beatrice Stone” (cần đăng ký mua)
  5. ^ a ă Sounes, tr. 12–13.
  6. ^ Dylan, tr. 92–93.
  7. ^ Shelton, tr. 38–40.
  8. ^ a ă Gray, Michael (22 tháng 5 năm 2011). “One of a kind: Bob Dylan at 70”. The Japan Times. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2011. 
  9. ^ Heylin (1996), tr. 4–5.
  10. ^ Sounes, tr. 29–37.
  11. ^ LIFE Books, "Bob Dylan, Forever Young, 50 Years of Song", Time Home Entertainment, Vol. 2, No 2, 10 tháng 2 năm 2012, tr. 15.
  12. ^ Buổi phỏng vấn với Bobby Vee đã tiết lộ chàng trai Zimmerman có lẽ đã gặp vấn đề khi phát âm nghệ danh của mình: "[Dylan] xuất hiện nơi Fargo/Moorhead trình diễn;... Bill [Velline] đang trong phòng thu cùng Fargo, Sam's Record Land, và cậu ta tới gặp Fargo rồi tự giới thiệu là Elston Gunnn — với 3 chữ n, G-U-N-N-N." Phỏng vấn với Bobby Vee, tháng 7 năm 1999, Goldmine. Đăng tải trực tuyến tại “Early alias for Robert Zimmerman”. Expecting Rain. 11 tháng 8 năm 1999. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  13. ^ Sounes, tr. 41–42.
  14. ^ Heylin (2000), tr. 26–27.
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Crowe-1985
  16. ^ Shelton, tr. 65–82.
  17. ^ a ă Theo bộ phim No Direction Home, đạo diễn bởi Martin Scorsese. Trình chiếu ngày 26 tháng 9 năm 2005, PBS & BBC Two
  18. ^ Dylan, tr. 78–79.
  19. ^ Shelton (2011), tr. 44–45.
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 60minutes2005
  21. ^ Sounes, tr. 72
  22. ^ Dylan, tr. 98.
  23. ^ Dylan, tr. 244–246.
  24. ^ Dylan, tr. 250–252.
  25. ^ Shelton (2011), tr. 74–78.
  26. ^ Robert Shelton (21 tháng 9 năm 1961). The New York Times, "Bob Dylan: A Distinctive Stylist" đăng tải trực tuyến tại Robert Shelton (21 tháng 9 năm 1961). “Bob Dylan: A Distinctive Stylist”. Bob Dylan Roots. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  27. ^ Unterberger, Richie (8 tháng 10 năm 2003). “Carolyn Hester Biography”. All Music. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  28. ^ Greene, Andy (19 tháng 3 năm 2012). “50 years ago today: Bob Dylan released his debut album”. CNN. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  29. ^ a ă Scaduto, tr. 110.
  30. ^ Ảnh chụp Dylan cùng Victoria Spivey trong buổi thu này được Dylan sau này dùng làm ảnh bìa cho album năm 1970 của mình, New Morning. Xem thêm tại Gray (2006), tr. 630–631.
  31. ^ a ă â Unterberger, Richie. “Blind Boy Grunt”. allmusic.com. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  32. ^ Shelton, tr. 157–158.
  33. ^ Sounes, tr. 116.
  34. ^ Sounes, tr. 94–95, 115. Phỏng vấn với Silver trong DVD phim tài liệu mang tên No Direction Home song không được sử dụng và được cho vào bộ phim sau này Together Through Life.
  35. ^ Gray (2006), tr. 283–284.
  36. ^ Heylin (2000), tr. 115–116.
  37. ^ Shelton, tr. 138–142.
  38. ^ Shelton, tr. 156.
  39. ^ Phần phụ chú bởi John Bauldie trong tuyển tập The Bootleg Series Volumes 1–3 (Rare & Unreleased) 1961–1991 (1991) của Dylan có viết: "Dylan từng giải thích vào năm 1978 với nhà báo Marc Rowland: ""Blowin' In The Wind" luôn luôn chỉ mang tính ý nghĩa. Tôi đã lây một phần từ ca khúc "No More Auction Block" – tinh thần là vậy và "Blowin' In The Wind" cũng đi theo cảm xúc đó.'" tr. 6–8.
  40. ^ Heylin (2000), tr. 101–103.
  41. ^ Cott (2006), tr. 8.
  42. ^ Ricks, pp. 329–344.
  43. ^ Scaduto, tr. 35.
  44. ^ Mojo, tháng 12 năm 1993.
  45. ^ Hedin, tr. 259.
  46. ^ Sounes, tr. 136–138.
  47. ^ Lời tựa của Joan Baez, Gray (2006), tr. 28–31.
  48. ^ Meacham, Steve (15 tháng 8 năm 2007). “It ain't me babe but I like how it sounds”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  49. ^ Phụ chú album Biograph năm 1985 bởi Cameron Crowe. Thành phần tham gia sản xuất của "Mixed Up Confusion": George Barnes & Bruce Langhorne (guitar); Dick Wellstood (piano); Gene Ramey (bass); Herb Lovelle (trống)
  50. ^ Dylan thu âm trước đó ca khúc "Talkin' John Birch Society Blues" cho album Freewheelin của mình, song ca khúc sau đó bị thay thế bởi những sáng tác khác, trong đó có "Masters of War". Xem thêm tại Heylin (2000), tr. 114–115.
  51. ^ Dylan trình diễn "Only a Pawn in Their Game" và "When the Ship Comes In"; xem thêm tại Heylin (1996), tr. 49.
  52. ^ Ricks, tr. 221–233.
  53. ^ Williams, tr. 56.
  54. ^ Stern, Michael (22 tháng 12 năm 1968). “Civil-Liberties Units Expanding; Top Organizations to Broaden Scope of Activities”. New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  55. ^ Trích đoạn lời nói của Dylan: "Không có da trắng hay da màu, cánh tả hay cánh hữu với tôi nữa; chỉ còn có lên và xuống mà đã xuống thì rất gần với mặt đất. Và tôi đang cố gắng leo lên mà không phải nghĩ về những thứ tầm phào như chuyện chính trị."; Shelton, tr. 200–205.
  56. ^ Heylin (1996), tr. 60.
  57. ^ Shelton, tr. 222.
  58. ^ Trong buổi phỏng vấn với Seth Goddard cho tạp chí Life số ngày 5 tháng 7 năm 2001, Ginsberg cho rằng kỹ năng của Dylan được lấy cảm hứng từ Jack Kerouac: "(Dylan) lấy tập thơ Mexico City Blues trong tay tôi rồi đọc, rồi tôi nói "Liệu cậu biết gì về thứ này?" Cậy ta trả lời "Có ai đó từng đưa nó cho tôi lúc ở 59 phố St. Paul và nó làm tôi suy nghĩ." Vậy nên tôi hỏi "Tại sao?" Cậu ta nói "Đây là tập thơ đầu tiên được viết giống với ngôn ngữ của tôi." Chuỗi những hình ảnh chói lòa mà bạn hình dung về Dylan, giống như "chiếc xe Madonna đen 2 bánh điệu đà và gã người yêu cuồng tín", chúng bị ảnh hưởng từ cách viết chơi trội và bộc phát của Kerouac, và nó dễ dàng đi vào lòng người." Tái bản trực tuyến tại “Online Interviews With Allen Ginsberg”. University of Illinois at Urbana Champaign. 8 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  59. ^ Shelton, tr. 219–222.
  60. ^ Shelton, tr. 267–271; tr. 288–291.
  61. ^ Heylin (2000), tr. 178–181.
Ghi chú
  1. ^ Tạm dịch "Robert Zimmerman: tiếp nối 'Little Richard'".
  2. ^ Theo người viết tiểu sử cho Dylan, Robert Shelton, lần đầu anh nghĩ tới việc tìm nghệ danh sau khi lắng nghe người bạn gái thuở trung học của mình là Echo Helstrom vào năm 1958, rồi thông báo với cô rằng anh đã có "một cái tên rất hay, Bob Dillon". Shelton cho rằng có 2 nguồn gốc của cái tên Dillon: Marshal Matt Dillon là người hùng trong serie phim truyền hình Gunsmoke; hoặc Dillon là tên một trong những gia đình lớn ở Hibbing. Trong thời gian viết sử từ khoảng giữa những năm 1960, Dylan có nói với Shelton: "Cần ghi rõ ràng trong cuốn sách rằng tôi không chọn nghệ danh vì Dylan Thomas. Thơ của Dylan Thomas là dành cho những người khó ngủ và dành cho những ai thích đọc những câu chuyện lãng mạn cho nam giới." Tại Đại học Minnesota, Zimmerman từng nói cho vài người bạn rằng Dillon là tên thuở thiếu nữ của mẹ mình, dù rằng đó không phải là sự thật. Anh cũng từng trả lời phóng viên rằng anh có người chú tên Dillon. Shelton cũng bổ sung rằng khi tới New York vào năm 1961, Zimmerman bắt đầu phát âm tên mình thành "Dylan", cùng lúc anh bắt đầu làm quen và cộng tác với Dylan Thomas[19].
  3. ^ Trong bài phỏng vấn cùng Studs Terkel tháng 5 năm 1963, Dylan mở rộng ý nghĩa của ca khúc, nhấn mạnh rằng câu hát "the pellets of poison flooding the waters" (tạm dịch "những giọt thuốc độc ngấm trong làn nước") có liên hệ với câu "the lies people are told on their radios and in their newspapers" (tạm dịch "những lời gian dối mà người ta nói trên đài báo")[41].
  4. ^ Tạm dịch "Không ai có thể hát những ca khúc của Dylan như Dylan".
  5. ^ National Emergency Civil Liberties Committee (Ủy ban Quốc gia khẩn cấp về nhân quyền) được thành lập vào tháng 10 năm 1951 bởi 150 nhà nghiên cứu và giáo sĩ về quyền con người theo những điều luật có ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ, chủ yếu về quyền tự do ngôn luận, tôn giáo, đi lại và tụ tập công cộng[54].

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]