Bob Dylan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bob Dylan
Bob Dylan - Azkena Rock Festival 2010 2.jpg
Dylan trên sân khâu liên hoan Azkena Rock Festival, Vitoria-Gasteiz, Tây Ban Nha ngày 26 tháng 6 năm 2010
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Robert Allen Zimmerman
Nghệ danh Elston Gunnn, Blind Boy Grunt, Lucky Wilbury, Boo Wilbury, Elmer Johnson, Sergei Petrov, Jack Frost, Jack Fate
Sinh 24 tháng 5, 1941 (73 tuổi)
Duluth, Minnesota, Mỹ
Nguyên quán Hibbing, Minnesota, Mỹ
Nghề nghiệp Nhạc sĩ, ca sĩ, nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, diễn viên, biên kịch, DJ
Thể loại Folk, folk rock, rock, blues, nhạc đồng quê
Nhạc cụ Hát, guitar, bass, harmonica, keyboard, accordion, định âm
Năm 1959–nay
Hãng đĩa Columbia, Asylum
Hợp tác Paul Butterfield Blues Band, Al Kooper, The Band, Rolling Thunder Revue, Mark Knopfler, Traveling Wilburys, Tom Petty and the Heartbreakers, Van Morrison, Grateful Dead
Website www.bobdylan.com

Robert Allen Zimmerman (sinh ngày 24 tháng 5 năm 1941, tiếng Hebrew רוברט אלן צימרמאן‎, tên Hebrew שבתאי זיסל בן אברהם [Shabtai Zisl ben Avraham])[1][2], được biết tới dưới nghệ danh Bob Dylan, là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, họa sĩ, nhà văn và nhà biên kịch người Mỹ. Ông là một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất tới nền âm nhạc nói riêng và văn hóa thế giới nói chung suốt 5 thập kỷ trở lại đây. Những thành tựu lớn nhất của ông chủ yếu có được trong thập niên 1960 khi ông trực tiếp là người khởi xướng và đi đầu trong những phong trào xã hội. Rất nhiều ca khúc những ngày đầu của Dylan, tiêu biểu là "Blowin' in the Wind" và "The Times They Are a-Changin'" đã trở thành thánh ca của các hoạt động nhân quyền và phản đối chiến tranh. Bỏ lại sau lưng phong cách nhạc folk, đĩa đơn "Like a Rolling Stone" (1965) của ông đã trực tiếp thay đổi toàn bộ xã hội lúc bấy giờ. Những sản phẩm của ông kể từ giữa thập niên 1960, kết hợp cùng nhiều nghệ sĩ rock đương thời, đều có được vị trí cao tại các bảng xếp hạng của Mỹ, đồng thời nhận được nhiều thái độ chê bai và dèm pha từ làn sóng nhạc folk.

Ca từ của Dylan là sự kết hợp phức tạp giữa tính chính trị, xã hội, triết học và cả văn học. Nội dung của chúng trái người hoàn toàn với thứ nhạc pop thông thường và là tiền đề cho phong trào phản văn hóa. Vốn ngưỡng mộ phong thái của Little Richard và cách viết nhạc của những Woody Guthrie, Robert JohnsonHank Williams, Dylan đã cộng hưởng và tạo nên phong cách của riêng mình. Sự nghiệp thu âm kéo dài tới hơn 50 năm của ông là sự trải nghiệm rất nhiều phong cách truyền thống đa dạng của nước Mỹ, từ folk, bluesnhạc đồng quê cho tới nhạc phúc âm, rock 'n' rollrockabilly cũng như nhạc folk từ Anh, Scotland và Ireland, đôi lúc pha trộn với jazzswing. Thương hiệu trình diễn của Dylan là sử dụng harmonica, guitar và keyboard. Cho dù thay đổi rất nhiều nhạc sĩ cộng tác, ông vẫn đi tour đều đặn kể từ cuối thập niên 1980 mà sau này ông đặt tên Never Ending Tour. Sự dung hòa giữa hình ảnh nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ thu âm chính là điểm nhấn trong sự nghiệp của Dylan, song những đóng góp lớn nhất của ông vẫn là dưới vai trò người viết nhạc.

Kể từ năm 1994, Dylan đã cho phát hành 6 cuốn sách về những tác phẩm hội họa của mình và rất nhiều trong số chúng đã được trưng bày tại các triển lãm lớn nhỏ. Trong vai trò nhạc sĩ, ông đã bán được ít nhất 100 triệu đĩa, đưa ông trở thành một trong số những nghệ sĩ có số đĩa bán chạy nhất mọi thời đại, ngoài ra ông cũng có vô số danh hiệu và giải thưởng, trong đó có thể kể tới giải Grammy, giải Quả cầu vànggiải Oscar; ông cũng được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Đại sảnh Danh vọng âm nhạc Minnesota, Đại sảnh Danh vọng nhạc sĩ Nashville và Đại sảnh Danh vọng nhạc sĩ,... Dylan cũng được trao giải Pulitzer báo chí năm 2008 cho "những đóng góp đặc biệt của ông cho âm nhạc và văn hóa, được đánh dấu bởi những ca từ phức tạp kết hợp với sức mạnh đặc biệt của thi ca". Tháng 5 năm 2012, ông được trao Huân chương Tự do từ Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thơ và khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bob Dylan tên thật là Robert Allen Zimmerman, sinh tại bệnh viện St. Mary ngày 24 tháng 5 năm 1941 ở Duluth, Minnesota[3][4], sau đó lớn lên ở Hibbing, Minnesota, phía tây hồ Thượng. Ông bà nội của cậu, Zigman và Anna Zimmerman, nhập cư tới Mỹ từng vùng Odessa của Đế quốc Nga (nay thuộc Ukraina) sau sự kiện bài Do Thái năm 1905[5]. Ông bà ngoại của cậu, Benjamin và Lybba Edelstein, là những người Do Thái từ Litva tới Mỹ từ năm 1902[5]. Trong cuốn tự truyện Chronicles: Volume One, Dylan nhớ rằng tên thuở thiếu nữ của bà nội cậu là Kirghiz có nguồn gốc từ Kağızman, phía đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ[6].

Cha mẹ của Robert, Abram Zimmerman và Beatrice "Beatty" Stone, thuộc về một nhóm người Do Thái khép kín tại đây. Robert Zimmerman sống ở Duluth cho tới tận 6 tuổi khi bố cậu bị tai nạn bại liệt buộc cả gia đình phải chuyển tới quê mẹ cậu ở Hibbing – nơi mà cậu nhóc Robert trải qua hết tuổi thơ của mình. Cậu dành nhiều thời gian khi còn nhỏ của mình để nghe đài phát thanh, đầu tiên là những kênh nhạc blues và nhạc đồng quê từ Shreveport, Louisiana, rồi sau đó khi tới tuổi thiếu niên là những giai điệu rock 'n' roll[7]. Robert cũng lập nên rất nhiều ban nhạc trong quãng thời gian theo học tại trường Hibbing. Cậu từng hát lại rất nhiều ca khúc của Little Richard[8] cũng như Elvis Presley[9]. Phần trình diễn của họ ca khúc "Rock and Roll Is Here to Stay" của Danny & the Juniors trong cuộc thi tài năng ở trường đã từng bị yêu cầu tắt micro vì quá ồn ào[10]. Năm 1959, cuốn niên giám tốt nghiệp của trường Hibbing có ghi dòng chữ "Robert Zimmerman: to join 'Little Richard'"[gc 1][8][11]. Cùng năm, dưới nghệ danh Elston Gunnn, cậu được tham gia trình diễn cùng Bobby Vee khi chơi lót piano và tay vỗ[12][13][14].

Zimmerman chuyển tới Minneapolis vào tháng 9 năm 1959 khi cậu theo học tại Đại học Minnesota. Những mối quan tâm trước đây của cậu tới rock 'n' roll nhanh chóng chuyển thành nhạc folk Mỹ. Năm 1985, anh giải thích sự chuyển biến này:

"Những thứ có được với rock 'n' roll đối với tôi dù thế nào cũng không đủ... Nó vẫn có những câu ẩn ý rất hay và cả những nhịp lên xuống... nhưng ca khúc thì thực sự không nghiêm túc và không thể hiện được đời sống thực. Tôi chỉ biết điều đó khi được tiếp xúc với nhạc folk, nó là một thể loại nghiêm túc hơn hẳn. Những ca khúc chứa đựng trong mình nhiều sự thất vọng hơn, nhiều nỗi buồn hơn, nhiều vinh quang hơn, nhiều niềm tin hơn trong một thứ cảm xúc siêu nhiên và lắng đọng hơn."[15]

Không lâu sau, Zimmerman tới trình diễn tại Ten O'Clock Scholar, một quán cà phê đọc sách nhỏ trong trường, và nhanh chóng đi theo dòng chảy nhạc folk của vùng Dinkytown[16][17]. Trong những ngày ở đây, cậu bắt đầu tự giới thiệu mình dưới tên "Bob Dylan". Trong tâm trí mình, Dylan sau này nhớ lại rằng mình bị ảnh hưởng lớn từ nhà thơ Dylan Thomas[18][gc 2]. Trong buổi phỏng vấn năm 2004, ông nhấn mạnh: "Bạn có thể được sinh ra với một cái tên xấu, bởi những người cha mẹ không mong muốn. Ý tôi là, nó đã diễn ra như vậy đấy. Bạn có thể gọi mình bằng bất kể cái tên bạn muốn. Đây là đất nước tự do."[20]

Thập niên 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyển tới New York[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1960, Dylan bỏ học ngay năm thứ nhất của Đại học. Tháng 1 năm 1961, anh du lịch tới New York, hi vọng được trình diễn tại đây và gặp gỡ thần tượng Woody Guthrie[21], người đang phải điều trị vì rối loạn chức năng thần kinh tại bệnh viện Greystone Park[22]. Guthrie là người mở lối cho Dylan và có rất nhiều ảnh hưởng tới những ngày đầu tiên của anh. Miêu tả về vai trò của Guthrie, sau này Dylan viết: "Những ca khúc có trong mình sự bao quát rộng lớn về nhân đạo... [Anh ấy] là tiếng nói thực sự của tâm hồn Mỹ. Tôi tự nhủ bản thân sẽ trở thành học trò tốt nhất của Guthrie."[23] Khi tới thăm Guthrie tại bệnh viện, Dylan kết bạn với Ramblin' Jack Elliott. Rất nhiều tiết mục của Guthrie được cung cấp qua Elliott, và Dylan đã tri ân Elliott bằng việc nhắc tới ông trong cuốn tự truyện Chronicles (2004)[24].

Từ tháng 2 năm 1961, Dylan đi diễn tại nhiều câu lạc bộ nhỏ quanh khu vực làng Greenwich. Anh làm quen và trau dồi kỹ năng với rất nhiều ca sĩ nhạc folk tại đây, có thể kể tới Dave Van Ronk, Fred Neil, Odetta, The New Lost City Ramblers, và những nghệ sĩ từ Ireland như The Clancy Brothers and Tommy Makem[25]. Tới tháng 9, anh và Robert Shelton có được chút chú ý từ dư luận khi viết đánh giá cho tờ The New York Times về một buổi diễn tại Gerde's Folk City[26]. Anh cũng tham gia chơi harmonica trong album phòng thu thứ 3 của ca sĩ Carolyn Hester, khiến anh được nhà sản xuất John Hammond để ý[27]. Hammond giúp đỡ Dylan có được hợp đồng thu âm đầu tiên với Columbia Records vào tháng 10. Những bản thu đầu tiên được đưa vào album Bob Dylan, phát hành vào tháng 3 năm 1962[28], bao gồm nhiều chất liệu folk, blues và phúc âm quen thuộc đi cùng với 2 sáng tác bởi cá nhân anh. Album chỉ có được một chút thành công khi bán được chỉ 5.000 bản trong năm đầu tiên, vừa đủ để thu hồi vốn[29]. Trong nội bộ hãng Columbia, nhiều người gọi anh là "sự ngớ ngẩn của Hammond" và khuyên ông nên hủy hợp đồng, song Hammond cùng Johnny Cash – một trong những người hâm mộ đầu tiên của Dylan – đã lên tiếng bảo vệ anh một cách mạnh mẽ[29]. Tháng 3 năm 1962, Dylan chơi harmonica và hát nền cho album Three Kings and the Queen cùng Victoria Spivey và Big Joe Williams tại phòng thu của hãng Spivey Records[30]. Trong nhiều buổi thu tại Columbia, anh còn sử dụng nghệ danh khác là Blind Boy Grunt[31] để thu âm cho Broadside Magazine – một tạp chí và một hãng đĩa nhỏ tại đây[32]. Dylan còn dùng nghệ danh Bob Landy để chơi piano trong The Blues Project, album tuyển tập năm 1964 của Elektra Records[31]. Ngoài ra dưới tên Tedham Porterhouse, anh còn chơi harmonica trong album Jack Elliott (1964) của Ramblin' Jack Elliott[31].

Baez và Dylan trình diễn trong hoạt động "Tuần hành về Washington cho việc làm và tự do" ngày 28 tháng 8 năm 1963

Dylan có 2 bước ngoặt sự nghiệp vào tháng 8 năm 1962. Anh chính thức đổi tên thành "Bob Dylan" và ký hợp đồng quản lý với Albert Grossman[33] (tháng 6 năm 1961, anh vừa mới ký hợp đồng quản lý với Roy Silver, và Grossman phải trả 10.000 $ để mua lại hợp đồng của Silver)[34]. Grossman còn làm quản lý cho anh cho tới tận năm 1970, nổi tiếng một phần vì tính cách hung hãn và một phần vì niềm tin mà ông bảo về cho thân chủ của mình[35]. Dylan sau này nói về ông: "Grossman là hình mẫu của Colonel Tom Parker... Bạn có thể đánh hơi được ông ta đang tới."[17] Những đối đầu lâu dài giữa Grossman và Hammond khiến Hammond không được tham gia sản xuất trong album thứ 2 của Dylan và bị thay thế bởi nhà sản xuất nhạc jazz trẻ tuổi, Tom Wilson[36].

Album thứ 2 của Dylan, The Freewheelin' Bob Dylan, được ra mắt vào tháng 3 năm 1963 đánh dấu việc Dylan trưởng thành trong cả vai trò ca sĩ lẫn người viết nhạc. Rất nhiều ca khúc trong album được coi là những sáng tác phản chiến, lấy cảm hứng từ Guthrie và mang những ảnh hưởng lớn từ Pete Seeger về chủ đề này[37]. "Oxford Town" chính là những lời dèm pha về trải nghiệm của James Meredith khi là người da màu đầu tiên được theo học tại Đại học Mississippi[38].

Ca khúc nổi tiếng nhất của Dylan thời điểm này là "Blowin' in the Wind", được lấy một phần từ một ca khúc truyền miệng giữa những người nô lệ da màu mang tên "No More Auction Block", tuy nhiên phần ca từ lại đặt ra những câu hỏi về quan điểm xã hội và chính trị[39]. Ca khúc được rất nhiều nghệ sĩ thu âm và sau đó trở thành bản hit rộng khắp qua ấn bản của Peter, Paul and Mary, mở đầu cho việc vô vàn nghệ sĩ khác có được thành công khi hát lại các ca khúc của Dylan. "A Hard Rain's a-Gonna Fall" được viết từ bản ballad nhạc folk "Lord Randall". Đề cập tới ngày tận thế nhãn tiền, nó càng thu hút được công chúng khi sự kiện Khủng hoảng tên lửa Cuba diễn ra chỉ vài tuần sau khi Dylan trình diễn bài hát trên[40][gc 3]. Cũng như "Blowin' in the Wind", "A Hard Rain's a-Gonna Fall" đánh dấu con đường viết nhạc mới của anh, hòa quyện dòng ý thức, ca từ giàu tính tưởng tượng trong giai điệu nhạc folk truyền thống[42].

Ngoài những ca khúc thương hiệu giúp Dylan sớm có được thành công, Freewheelin' còn bao gồm một số bản tình ca và ca khúc châm biếm, những câu chuyện blues siêu thực. Hài hước chính là một phần trong con người Dylan[43], và những chất liệu hoàn toàn mới của album đã gây ấn tượng tới rất nhiều nghệ sĩ khác, trong đó có The Beatles. George Harrison nói: "Chúng tôi đã chơi những ca khúc đó, và cố gắng thử nghiệm chúng với bản thân. Nội dung trong phần ca từ và đặc biệt là thái độ thực sự vô cùng căn nguyên và tuyệt diệu."[44]

Dylan trên sân khấu tháng 11 năm 1963

Giọng hát có phần thô ráp của Dylan ban đầu không cuốn hút nhiều người nghe mà chỉ một phần trong số họ. Miêu tả ấn tượng về âm nhạc của Dylan tới mình và chồng, Joyce Carol Oates viết: "Khi lần đầu chúng tôi nghe cậu ấy lúc mới vào nghề, còn rất trẻ với giọng hát còn chưa trui rèn, hoàn toàn giọng mũi, như kiểu một tờ giấy ráp biết hát vậy, hiệu ứng thật xúc động và kích thích."[45] Hầu hết những ca khúc nổi tiếng thuở đầu của Dylan chỉ được biết tới khi được hát lại bởi những nghệ sĩ khác, chẳng hạn Joan Baez – người hướng dẫn và bạn gái của Dylan[46]. Baez chính là người đưa âm nhạc của Dylan ra phạm vi quốc gia và quốc tế khi thu âm nhiều sáng tác của anh và mang anh lên sân khấu trong những buổi diễn của cá nhân cô[47].

Những nghệ sĩ khác từng hát lại các sáng tác của Dylan còn có The Byrds, Sonny & Cher, The Hollies, Peter, Paul and Mary, The Association, Manfred MannThe Turtles. Hầu hết họ đều mang cảm xúc và nhịp điệu nhạc pop vào trong các ca khúc, trong khi Dylan và Baez vẫn luôn trình diễn chúng theo phong cách nhạc folk. Những bản hát lại trên ngày một được nhiều người biết tới, tới mức đài CBS phải đưa thêm dòng phụ chú "Nobody Sings Dylan Like Dylan"[gc 4][48].

"Mixed Up Confusion" được thu âm trong thời kỳ Freewheelin', phát hành dưới dạng đĩa đơn song nhanh chóng bị thu hồi. Trái với phần trình bày cùng các nhạc cụ mộc trong album, đĩa đơn đã cho thấy những khám phá trải nghiệm của Dylan với âm nhạc rockabilly. Cameron Crowe miêu tả đây "cái nhìn hấp dẫn của một nghệ sĩ nhạc folk với tâm trí hướng về Elvis PresleySun Records"[49].

Phản chiến và Another Side[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1963, quan điểm chính trị của Dylan ngày một được quan tâm và anh được mời tới chương trình The Ed Sullivan Show. Trong quá trình tập dượt, anh được đài CBS thông báo rằng anh phải trình diễn ca khúc "Talkin' John Birch Paranoid Blues" nhằm ủng hộ tổ chức John Birch Society. Vì không muốn phải thỏa thuận với các cơ quan kiểm duyệt, Dylan quyết định không tham gia chương trình nữa[50].

Cũng khoảng thời gian này, Dylan và Baez cùng nhau tham gia vào rất nhiều hoạt động xã hội, bắt đầu từ cuộc Tuần hành về Washington ngày 23 tháng 8 năm 1963[51]. Album thứ 3 của anh, The Times They Are a-Changin', thể hiện một Dylan giàu tính chính trị và châm biếm hơn. Những ca khúc đề cập tới những chủ đề thời sự hơn, liên quan tới đời sống, trong đó "Only A Pawn In Their Game" được viết để gửi tới thủ phạm ám sát nhà hoạt động nhân quyền Medgar Evers, còn "The Lonesome Death of Hattie Carroll" lại nhắc tới cái chết của người phục vụ quán bar da màu Hattie Carroll bởi nhân vật hoạt động xã hội trẻ tuổi William Zantzinger[52]. Với chủ đề khái quát hơn, "Ballad of Hollis Brown" và "North Country Blues" thể hiện nỗi chán chường đối với sự tan rã của cộng đồng những người tá điền và khai thác mỏ. Những chất liệu chính trị thậm chí còn xuất hiện trong cả 2 bản tình ca "Boots of Spanish Leather" và "One Too Many Mornings"[53].

Cuối năm 1963, Dylan vận động và điều hòa giữa nhạc folk truyền thống và các hoạt động phản chiến. Những căng thẳng nổ ra khi trong lúc nhận giải thưởng Tom Paine bởi Ủy ban Quốc gia khẩn cấp về nhân quyền (NECLC)[gc 5] không lâu sau vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy, Dylan đã say sưa đặt những câu hỏi về vai trò của Ủy ban này, miêu tả những thành viên trong hội đồng là già nua và hói đầu, cho rằng đó là những đặc điểm tương đồng với thủ phạm ám sát Kennedy, Lee Harvey Oswald[55].

Dylan trình diễn tại Đại học St. Lawrence, tháng 11 năm 1963

Another Side of Bob Dylan, thu âm chỉ trong một buổi tối tháng 6 năm 1964[56], mang cảm xúc tươi sáng hơn những album trước đó. Tính siêu thực và châm biếm vẫn được Dylan đưa vào trong những "I Shall Be Free No. 10" và "Motorpsycho Nightmare". "Spanish Harlem Incident" và "To Ramona" là những bản tình ca lãng mạn và say đắm, trong khi "Black Crow Blues" và "I Don't Believe You (She Acts Like We Never Have Met)" đã chỉ ra tính rock 'n' roll sau này là chủ đạo trong phong cách của anh. "It Ain't Me Babe", về vẻ ngoài đề cập tới một tình yêu bị chối bỏ, song thực tế lại nói tới việc anh cố gắng vượt qua những sức ép lên chính bản thân mình[57]. Con đường mới mà Dylan lựa chọn thể hiện qua 2 ca khúc dài: "Chimes of Freedom" với những yếu tố của định kiến xã hội trái ngược với phong cách ẩn dụ sâu sắc hơn mà sau này Allen Ginsberg gọi là "chuỗi những hình ảnh chói lòa"[58]; "My Back Pages" đả kích sự nghiêm túc dễ dãi và đầy hình thức trong những sản phẩm đầu tay của chính mình và dường như gợi ý con đường mới chống lại những vinh quang mà anh từng có được[59].

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, phong cách trình diễn của Dylan thay đổi hoàn toàn khi anh quyết định chuyển mình từ người đi đầu phong trào nhạc folk thành một ngôi sao folk rock. Quần bò phủi cùng chiếc áo khoác nhàu được thay thế bởi trang phục từ Carnaby Street, luôn luôn đeo kính râm và đi những "đôi giày The Beatles". Một phóng viên từ London viết: "Đầu tóc như thể muốn làm cho những chiếc răng lược cảm thấy xấu hổ. Những chiếc áo lòe loẹt phù hợp với khu đèn đỏ của Leiceiter. Trông anh ta như một con vẹt ốm đói vậy."[60] Dylan cũng bắt đầu nói nhiều tới những chủ đề siêu thực trong những bài phỏng vấn. Xuất hiện trên chương trình truyền hình của Les Crane, khi được hỏi về kế hoạch thực hiện bộ phim sắp tới, Dylan trả lời rằng đó là một bộ phim cao bồi kinh dị. Sau đó khi được hỏi liệu anh có thủ vai cao bồi không, Dylan đáp: "Không, tôi vào vai mẹ tôi."[61]

Bước ngoặt với nhạc cụ điện[sửa | sửa mã nguồn]

Album Bringing It All Back Home (1965) của Dylan đánh dấu một bước nhảy vọt mới về phong cách[62] khi lần đầu tiên anh sử dụng nhạc cụ điện để thu âm[63]. Đĩa đơn đầu tiên, "Subterranean Homesick Blues", có nhiều nét tương đồng với ca khúc "Too Much Monkey Business" của Chuck Berry, trong khi cách viết lời phóng khoáng gợi lại nhiều yếu tố từ phong cách thơ Beat, thậm chí khơi liên tưởng tới phong cách raphip-hop sau này[64]. Ca khúc được đi cùng với một video ca nhạc, trình chiếu lần đầu trong bộ phim tài liệu Dont Look Back của đạo diễn D. A. Pennebaker mở màn tour diễn vòng quanh nước Anh của Dylan[65]. Cùng lúc hát khi quay phim, anh còn minh họa phần ca từ bằng cách ném những mảnh giấy có ghi những từ khóa xuống đất. Pennebaker nói rằng đó là ý tưởng của Dylan, sau này được bắt chước bởi rất nhiều video ca nhạc và clip quảng cáo khác[66].

Mặt B của Bringing It All Back Home bao gồm 4 ca khúc mà Dylan quay lại sáng tác với guitar và harmonica[67]. "Mr. Tambourine Man" nhanh chóng trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của anh khi được The Byrds hát lại bằng nhạc cụ điện và đạt vị trí quán quân ở tại Anh và Mỹ[68][69]. Ngoài ra, "It's All Over Now, Baby Blue" và "It's Alright Ma (I'm Only Bleeding)" cũng trở thành những ca khúc quan trọng nhất sự nghiệp của Dylan[67][70].

Năm 1965, mở đầu Liên hoan nhạc folk ở Newport, Dylan lần đầu tiên trình diễn cùng các nhạc cụ điện với ban nhạc từ thuở trung học, chủ yếu là nhóm nhạc blues của Paul Butterfield, theo kèm là Mike Bloomfield (guitar), Sam Lay (trống) và Jerome Arnold (bass), cùng với Al Kooper (organ) và Barry Goldberg (piano)[71]. Dylan từng diễn tại Newport vào năm 1963 và 1964, nhưng vào năm 1965, Dylan lần đầu phải chứng kiến tiếng hò hét và huýt sáo, vậy nên anh rời sân khấu chỉ sau 3 ca khúc. Một trong những câu chuyện kể lại rằng tiếng huýt sáo vang lên từ những người hâm mộ lâu năm nhạc folk ngay khi Dylan xuất hiện, mà không hề lường trước, cùng chiếc guitar điện. Murray Lerner – người quay phim lại buổi diễn – nói rằng: "Tôi chắc chắn rằng mọi người đều huýt sáo vì Dylan chơi nhạc cụ điện."[72] Tuy nhiên có nhiều người kể rằng đám đông cảm thấy bất bình vì chất lượng âm thanh quá tồi trong khi chương trình lại quá ngắn. Lời kể này được Kooper và một trong nhưng đạo diễn của liên hoan ủng hộ khi bản thân ông nhớ lại rằng bản thu phần âm thanh của buổi diễn đã chứng minh rằng tiếng huýt sáo chỉ bắt đầu cất lên khi MC của chương trình tuyên bố rằng chỉ còn đủ thời gian cho những đoạn diễn ngắn[73][74].

Tuy nhiên, buổi diễn năm 1965 tại Newport lại dẫn tới những phản ứng mạnh mẽ trong cộng đồng nghe nhạc folk[75][gc 6]. Trong ấn bản tháng 9 của tờ Sing Out!, ca sĩ Ewan MacColl viết: "Những ca khúc và ballad truyền thống của chúng ta là những sáng tạo tuyệt vời của những nghệ sĩ tài năng làm việc với sự rèn luyện không ngừng... Nhưng Bobby Dylan có gì? Những tiếng hét điên loạn từ thanh niên... Chỉ có những thính giả không biết phê bình, sống trong môi trường loãng toẹt của nhạc pop, dễ dàng bị thuyết phục bởi mấy bài đánh giá 10-sao ngớ ngẩn."[76] Ngày 29 tháng 7, chỉ 4 ngày sau buổi diễn ở Newport, Dylan quay lại New York và bắt đầu thu âm ca khúc "Positively 4th Street". Ca từ thấm đẫm hình ảnh của trả thù và cả hoang tưởng[77], và được công nhận rộng khắp như lời chia tay của Dylan với những người bạn cũ trong cộng đồng nhạc folk – những người mà anh làm quen từ câu lạc bộ ở địa chỉ West 4th Street[78].

Highway 61 RevisitedBlonde on Blonde[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1965, Dylan cho ra mắt đĩa đơn "Like a Rolling Stone", đạt vị trí số 2 tại Mỹ và số 4 tại Anh. Dài hơn 6 phút, ca khúc được công nhận rộng rãi là sản phẩm chống lại những quy chuẩn đương thời của một đĩa đơn nhạc pop. Bruce Springsteen, trong lời đề cử Dylan tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, nói rằng khi nghe đĩa đơn này, "sự cám dỗ như thể ai đó đang đạp tung cánh cửa trước mặt mình"[79]. Năm 2004, tạp chí Rolling Stone xếp ca khúc này ở vị trí số 1 trong danh sách "500 bài hát vĩ đại nhất"[80][81]. Đây cũng là ca khúc mở đầu cho album tiếp theo của Dylan, Highway 61 Revisited, đặt tên theo con đường mà từ đó anh đã rời khỏi Minnesota để tới New Orleans[82]. Những ca khúc sau đó tiếp tục bám theo cảm hứng từ đĩa đơn trên với Mike Bloomfield chơi guitar và Al Kooper chơi organ. "Desolation Row", với phần chơi lót bởi guitar acoustic và bass[83], là ngoại lệ duy nhất khi Dylan đưa vào đó vô vàn lời ám chỉ siêu thực trong văn hóa phương Tây, mà theo Andy Gill là "11 phút hỗn tạp, mang kiểu cách phô trương lố bịch của Fellini cùng sự lập dị với sự xuất hiện của rất nhiều nhân vật nổi tiếng, một vài nhân vật lịch sử (EinsteinNero), một vài nhân vật trong Kinh thánh (Noah, Cain và Abel), một vài nhân vật tưởng tượng (Ophelia, Romeo và cô bé Lọ Lem), một vài nhà văn (T.S. EliotEzra Pound), và một vài nhân vật không thể xếp vào bất cứ thể loại nào, điển hình là bác sĩ Filth và cô y tá đầy mập mờ."[84]

Để hỗ trợ thu âm, Dylan cũng thiết kế 2 buổi diễn tại Mỹ và mang ban nhạc chơi lót cùng Kooper và Harvey Brooks từ phòng thu của mình, đi cùng là Robbie RobertsonLevon Helm – những thành viên của nhóm The Hawks[85]. Ngày 28 tháng 8 tại sân tennis Forest Hills, ê-kíp tiếp tục bị la ó bởi người hâm mộ mỗi khi Dylan sử dụng nhạc cụ điện. Thái độ của khán giả trong buổi diễn ngày 3 tháng 9 ở Hollywood Bowl thì có phần khả quan hơn[86].

Bắt đầu với buổi diễn ngày 24 tháng 9 ở Austin, Texas, Dylan thực hiện tour diễn vòng quanh Mỹ và Canada trong vòng 6 tháng, chơi lót bởi nhóm The Hawks, sau này đổi tên thành The Band[87]. Dylan và ban nhạc ngày một có được thiện cảm từ công chúng song lịch làm việc với phòng thu lại bị ảnh hưởng lớn. Nhà sản xuất Bob Johnston hối thúc Dylan thu âm ngay tại Nashville trong tháng 2 năm 1966 và giới thiệu với anh những nghệ sĩ tài năng quanh khu vực này. Với sự nài nỉ của Dylan, Robertson và Kooper cùng nhau rời New York để tới Nashville thu âm[88]. Quá trình thu âm tại đây cho ra đời album Blonde on Blonde (1966) mà sau này Dylan gọi là "thứ âm thanh gọn gàng hoang dã"[89]. Kooper miêu tả album như "gộp 2 nền văn hóa khác nhau và khiến chúng tạo ra một vụ nổ lớn": văn hóa âm nhạc tại Nashville và văn hóa của "gã hipster New York điển hình" Bob Dylan[90].

Ngày 22 tháng 11 năm 1965, Dylan bí mật kết hôn với người mẫu 25 tuổi Sara Lownds[91]. Một vài người bạn được mời tới (trong đó có cả Ramblin' Jack Elliott) đều nói rằng Dylan đã ngay lập tức chối bỏ việc kết hôn trong buổi trò chuyện ngay sau buổi lễ[91]. Nhà báo Nora Ephron là người đầu tiên công bố sự kiện này trước công chúng trong bài báo tháng 2 năm 1966 mang tên "Hush! Bob Dylan is wed"[gc 7][92].

Dylan lên kế hoạch thực hiện tour diễn tại Úc và châu Âu trong tháng 4 và tháng 5 năm 1966. Mỗi chương trình có 2 phần, Dylan sẽ chơi solo trong phần đầu cùng guitar acoustic và harmonica; phần tiếp theo với sự có mặt của The Hawks và Dylan sẽ chơi các nhạc cụ điện giản lược. Sự tương phản này thể hiện rõ trong đám đông người hâm mộ khi họ chỉ cười nhạo và vỗ tay rời rạc[93]. Thái độ này lên tới đỉnh điểm trong buổi diễn tại Free Trade Hall ở Manchester, Anh ngày 17 tháng 5 năm 1966[94]. Bản thu trực tiếp buổi diễn này sau đó trở thành The Bootleg Series Vol. 4: Bob Dylan Live 1966 (1998). Tới cuối buổi chiều, một người trong đám đông tức giận khi thấy Dylan sử dụng nhạc cụ điện và gào lên "Judas!" còn Dylan đáp lại "Tôi không tin... Cậu là kẻ nói dối!"[95] rồi quay lại phía ban nhạc "Hãy chơi nhạc to hơn!" khi họ bắt đầu trình diễn ca khúc cuối cùng của buổi diễn – "Like a Rolling Stone".

Trong tour diễn tháng 7 năm 1966, Dylan thường xuyên ở trong tình trạng kiệt sức và làm việc "như thể một chuyến đi chết chóc"[96]. D. A. Pennebaker, người quay phim lại tour diễn, miêu tả Dylan đã "uống rất nhiều amphetamine và nhiều thứ khác ai mà biết được"[97]. Trong buổi phỏng vấn năm 1969 cùng Jann Wenner, Dylan nói: "Tôi đã rong ruổi suốt 5 năm, nó khiến tôi kiệt sức. Tôi có dùng ma túy, rất nhiều loại... để có sức làm việc, anh hiểu chứ?"[98] Năm 2011, BBC Radio 4 đề cập rằng, trong bài phỏng vấn mà Robert Shelton thu âm lại vào năm 1966, Dylan đã tiết lộ anh tiếp xúc với heroin khi ở New York: "Tôi đã rất, rất thư giãn trong một khoảng thời gian... Tôi mất khoảng 25$ mỗi ngày và tôi đã thử nó."[99] Nhiều nhà báo nghi ngờ tính xác thực của câu nói trên, cho rằng Dylan "đã nói với nhà báo những lời nói dối bừa bãi về quá khứ từ những ngày đầu sự nghiệp của mình"[100][101].

Tai nạn xe máy và hồi phục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau tour diễn vòng quanh châu Âu, Dylan quay lại New York, song áp lực ngày một lớn. Kênh truyền hình ABC phải trả tiền để chương trình về anh không phải lên sóng[102]. Hãng xuất bản Macmillan Publishers cũng yêu cầu anh sớm hoàn thiện phần viết tay cuốn truyện thơ Tarantula. Quản lý Albert Grossman lên kế hoạch cho lịch diễn dày đặc vào mùa hè song cũng thất bại.

Ngày 29 tháng 7 năm 1966, Dylan gặp tai nạn xe máy khi điều khiển chiếc Triumph Tiger 100 dung tích 500cc trên một con phố gần Woodstock, New York và bị văng xa trên mặt đất. Cho dù chi tiết về chấn thương không được tiết lộ, Dylan sau đó nói rằng anh bị gãy rất nhiều đốt sống cổ[103]. Nhiều bí ẩn được ghi lại khi không có một chiếc cứu thương nào được gọi tới, và thậm chí Dylan còn không được đưa tới bệnh viện[103][104]. Nhiều nhà viết sử cho rằng vụ tai nạn này là sự kiện hoàn hảo góp phần giúp Dylan tránh được dư luận đang bủa vây quanh mình[103][105]. Dylan cũng nhắc tới vụ tai nạn trong cuốn tự truyện của mình "Tôi từng bị tai nạn xe máy, bị chấn thương rồi hồi phục. Niềm tin chính là thứ một muốn vứt bỏ khỏi những tranh cãi bế tắc."[106] Sau vụ tai nạn, Dylan không xuất hiện trước công chúng, ngoại trừ một vài lần bất khả kháng và không đi tour trong vòng 8 năm sau đó[107].

Ngay khi có lại nguồn cảm hứng làm việc, Dylan liền đề nghị D. A. Pennebaker biên tập lại những thước phim quay trong tour diễn năm 1966 của mình. Một trích đoạn được giới thiệu trên kênh ABC song bị từ chối phát sóng do nội dung khó hiểu[108]. Bộ phim sau này được đặt tên Eat the Document và được phát hành dưới dạng sao chép truyền tay, ngoài ra được trình chiếu tại một vài liên hoan phim[109][110]. Năm 1967, Dylan quay lại thu âm cùng The Hawks tại nhà riêng và tại trụ sở của ban nhạc ở gần đó có tên "Big Pink"[111]. Những ca khúc này vốn được thực hiện dưới dạng demo, trở thành những đĩa đơn quán quân cho Julie DriscollThe Brian Auger Trinity ("This Wheel's on Fire"), The Byrds ("You Ain't Goin' Nowhere", "Nothing Was Delivered"), và Manfred Mann ("Mighty Quinn"). Columbia sau đó cho phát hành chúng trong tuyển tập The Basement Tapes (1975)[112]. Rất nhiều năm sau, những ca khúc mà Dylan cùng ban nhạc thu âm trong năm 1967 mới xuất hiện trong vài sản phẩm thu âm, trong đó có tuyển tập 5 CD mang tên The Genuine Basement Tapes bao gồm 107 bản thu chính thức và cả thu nháp. Ngay tháng sau đó, The Hawks tiến hành thu âm album Music from Big Pink sử dụng những ca khúc họ từng thu âm tại Woodstock và chính thức đổi tên thành The Band[113], bắt đầu sự nghiệp thu âm kéo dài và thành công.

Tháng 10 và 11 năm 1967, Dylan quay lại Nashville[114]. Trở lại phòng thu sau 19 tháng, anh mang theo Charlie McCoy trong vai trò chơi bass, Kenny Buttrey chơi trống, và Pete Drake chơi guitar[114]. Thành quả có được là album John Wesley Harding, một bản thu nhẹ nhàng và trầm lắng với các ca khúc ngắn hơn, đặt trong lăng kính của cả miền Tây nước Mỹ và Kinh thánh. Thứ cấu trúc và âm nhạc giản lược với phần ca từ mang tính Do-thái-Thiên-chúa-giáo không chỉ bắt nguồn đơn thuần từ con người Dylan mà còn từ phong trào phản văn hóa kéo dài từ nửa cuối thập niên 1960[115]. Ngoài ra còn có sáng tác "All Along the Watchtower" với phần ca từ trích từ Sách Isaiah (chương 21:5–9). Ca khúc sau này được Jimi Hendrix thu âm, góp phần giúp cho ấn bản sau này của Dylan được biết tới[15]. Woody Guthrie qua đời ngày 3 tháng 10 năm 1967 và Dylan lần đầu tiên trình diễn trước công chúng sau 12 tháng trong buổi lễ tưởng niệm Guthrie tại Carnegie Hall ngày 20 tháng 1 năm 1968 với phần chơi lót bởi The Band[116].

Album tiếp theo của Dylan, Nashville Skyline (1969), bao gồm những bản thu kiểu mới các sáng tác đồng quê với sự hợp tác của các nghệ sĩ ở Nashville, phần giọng ngà ngà say của Dylan song ca cùng Johnny Cash, đặc biệt là đĩa đơn "Lay Lady Lay"[117]. Tạp chí Variety viết: "Dylan cuối cùng cũng làm được thứ gì đó mà người nghe có thể gọi là hát. Theo cách nào đó mà anh ấy mới bổ sung được một quãng tám vào giọng ca của mình."[118] Dylan và Cash trước đó có cùng nhau thu âm hàng loạt những bản song ca, song chỉ duy nhất ca khúc "Girl from the North Country" của Dylan được chọn cho album.

Tháng 5 năm 1969, Dylan xuất hiện trong tập đầu tiên của chương trình truyền hình về Johnny Cash, song ca trong 3 ca khúc "Girl from the North Country", "I Threw It All Away" và "Living the Blues". Sau đó anh đặt vé đi Anh để tham dự Liên hoan nhạc rock ở Đảo Wight ngày 31 tháng 8 năm 1969 sau khi từ chối tham gia Liên hoan âm nhạc Woodstock gần nhà anh hơn rất nhiều[119].

Thập niên 1970[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu những năm 1970, những bình luận về Dylan nhìn chung là đa dạng và nhiều tranh cãi. Nhà phê bình Greil Marcus của tờ Rolling Stone thốt lên "Cái chết tiệt gì đây?" khi lắng nghe album Self Portrait, được ra mắt vào tháng 6 năm 1970[120][121]. Nhìn chung, album-kép trên của Dylan với chỉ có một vài sáng tác cá nhân nhận được đánh giá rất thấp[122]. Tới tháng 10, anh cho phát hành New Morning quay trở lại với phong cách ban đầu[123]. Tháng 11 năm 1968, anh cùng George Harrison sáng tác nên ca khúc "I'd Have You Anytime"[124]; Harrison sau đó thu âm ca khúc "I'd Have You Anytime" và sáng tác "If Not for You" của Dylan cho album solo đầu tay của mình All Things Must Pass (1970). Sự xuất hiện bất ngờ của Dylan trong chương trình Concert for Bangladesh của Harrison vào năm 1971 thu hút sự quan tâm đặc biệt của công chúng, minh chứng rõ ràng việc Dylan đã rất lâu không còn đứng trên sân khấu[125].

Trong khoảng những ngày 16-19 tháng 3 năm 1971, Dylan làm việc tại phòng thu Blue Rock Studios, nằm ở làng Greenwich, New York. Buổi thu giúp anh có được đĩa đơn "Watching the River Flow", ngoài ra còn có ca khúc mới "When I Paint My Masterpiece"[126]. Ngày 4 tháng 11 năm 1971, anh thu âm "George Jackson", phát hành 1 tuần sau đó. Dylan gây ngạc nhiên cho rất nhiều người khi quay lại với chủ đề phản chiến liên hệ với vụ ám sát George Jackson của Đảng Black Panther ở nhà tù San Quentin không lâu trước đó[127]. Ngoài ra, anh còn đóng góp piano và harmonica trong album Somebody Else's Troubles của Steve Goodman vào tháng 9 năm 1972 dưới nghệ danh Robert Milkwood Thomas[128].

Năm 1972, Dylan tham gia vào bộ phim Pat Garrett and Billy the Kid của đạo diễn Sam Peckinpah khi tham gia sáng tác toàn bộ phần âm nhạc cho bộ phim, thủ vai nhân vật "Alias" – thành viên của băng nhóm Billy dựa theo vài nguồn tài liệu có thật[gc 8]. Cho dù bộ phim không có được thành công tại rạp chiếu, sáng tác chủ đề "Knockin' on Heaven's Door" của Dylan sau này trở thành một trong những ca khúc của anh được hát lại nhiều nhất[130][131].

Trở lại lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Bob Dylan, thứ 3 từ trái sang, cùng The Band trên sân khấu năm 1974

Năm 1973, Dylan ký hợp đồng với hãng đĩa mới, Asylum Records của David Geffen, sau khi hợp đồng với Columbia đáo hạn. Album tiếp theo của anh, Planet Waves, với The Band chơi lót, bao gồm những ca khúc từng được thể hiện trong các tour diễn. Album bao gồm 2 ấn bản của ca khúc "Forever Young", sau này trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của anh[132]. Một trong những đánh giá miêu tả ca khúc đã làm bật lên "một thứ thánh ca và chân thành viết về người cha của Dylan"[133], trong khi bản thân anh bình luận "Tôi viết nó khi đang nghĩ về một trong những đứa con trai của mình, và tôi không muốn nó lại sướt mướt quá."[134] Cây viết sử Howard Sounes cũng ghi chép rằng Jakob Dylan cũng tin rằng ca khúc này là sáng tác dành cho anh[132].

Columbia Records ngay lập tức cho phát hành album Dylan tuyển tập những ca khúc chưa từng được phát hành (chủ yếu là các bản hát lại) với mục đích đáp trả tới đối thủ trực tiếp là hãng đĩa mà Dylan mới ký hợp đồng[135]. Tháng 1 năm 1974, Dylan quay trở lại lưu diễn sau 7 năm sống ẩn dật; được chơi lót bởi The Band, anh xuất hiện với sự tự tin lớn, đi dọc vùng duyên hải Bắc Mỹ với 40 buổi diễn. Album trực tiếp từ chuyến lưu diễn, Before the Flood, được phát hành sau đó bởi Asylum. Không lâu sau, Columbia lên tiếng khi tuyên bố "sẽ không làm bất kể điều gì để đưa Dylan quay lại mái nhà xưa". Dylan cũng có chút vấn đề với Asylum, đặc biệt phật ý khi có tới hàng triệu vé đặt trước cho chuyến lưu diễn của mình trong khi Geffen lại hạn chế lượng đĩa bán của Planet Waves ở con số 700.000[136]. Anh liền quay trở lại Columbia Records và hãng này được ủy quyền phát hành 2 album của Asylum dưới tên nhãn đĩa của mình.

Sau tour diễn, Dylan và vợ liền tạm thời xa lánh công chúng. Anh nhanh chóng viết đầy cuốn sổ tay với những sáng tác mới về những mối quan hệ và sự chia ly, thu âm thành album mới mang tên Blood on the Tracks vào tháng 9 năm 1974[137]. Dylan trì hoãn quá trình ra mắt album khi cho thu âm lại một nửa số ca khúc tại phòng thu Sound 80 Studios tại Minneapolis với sự hỗ trợ kỹ thuật từ người anh trai David Zimmerman[138].

Được phát hành vào đầu năm 1975, Blood on the Tracks nhận được nhiều phản ứng trái chiều. Trên tờ NME, cây bút Nick Kent bình luận "sự kết hợp đôi lúc tạo cảm giác rác rưởi như thể đây chỉ là những bản thu nháp"[139]. Nhà báo Jon Laudau của tạp chí Rolling Stone miêu tả đây là "một bản thu được tạo nên từ sự rẻ tiền đặc biệt"[139]. Qua thời gian, nhiều đánh giá coi đây là một trong những tuyệt tác của Dylan, xứng đáng ngang hàng với bộ 3 album mà anh từng phát hành vào giữa thập niên 1960. Trên trang Salon.com, Bill Wyman viết: "Blood on the Tracks là album hoàn mỹ và sản phẩm tốt nhất mà Dylan từng sản xuất; từng ca khúc được xây dựng với kiểu cách vô cùng nghiêm túc. Đây là album gây hài lòng và kinh ngạc nhất, có vẻ sẵn sàng đứng giữa chỉ trích nhằm có được sự cân bằng lớn lao giữa sự ba-hoa-quá-đà của thập niên 1960 và sự ý thức cá nhân qua những sáng tác đơn giản những năm sau đó của anh."[140] Nhà văn Rick Moody gọi đây là "sản phẩm chân thực nhất, chân thành nhất về tình yêu, từ cái nắm tay tới tình dục, được đặt trong giai điệu của băng từ."[141]

Bob Dylan và Allen Ginsberg trong tour diễn Rolling Thunder Revue năm 1975

Hè năm đó Dylan sáng tác bản ballad dài viết về nhà vô địch quyền anh Rubin Carter khi ông bị kết án giết người ở Paterson, New Jersey năm 1966. Sau khi thăm Carter trong tù, Dylan đã viết nên ca khúc "Hurricane", minh chứng Carter hoàn toàn vô tội. Với độ dài 8:32, ca khúc này được phát hành dưới dạng đĩa đơn, có được vị trí số 33 tại Billboard và được trình bày trong mọi buổi diễn của tour Rolling Thunder Revue của Dylan vào năm 1975[gc 9][143]. Tour diễn được thay đổi vào mỗi buổi diễn với sự tham gia của hàng trăm nghệ sĩ cũng như người hâm mộ khác nhau trong cộng đồng nhạc folk ở Greenwich, có thể kể tới T-Bone Burnett, Ramblin' Jack Elliott, Joni Mitchell[144][145], David Mansfield, Roger McGuinn, Mick Ronson, Joan Baez và nghệ sĩ violin Scarlet Rivera mà một lần tình cờ Dylan bắt gặp cô trên đường khi đang đeo trên lưng cây đàn[146]. Allen Ginsberg đi cùng ê-kíp, bố trí cảnh quay cho bộ phim được thực hiện đồng thời. Sam Shepard ban đầu được lựa chọn để dựng cảnh, song sau đó được đi cùng đoàn diễn trong vai trò phát ngôn viên[147].

Được bắt đầu từ cuối năm 1975 tới hết nửa đầu năm 1976, tour diễn giúp Dylan quảng bá thành công album sau đó, Desire, với rất nhiều sáng tác mới của anh mang phong cách kể-chuyện-xê-dịch, minh chứng những ảnh hưởng rõ ràng từ cộng tác viên mới – nhà biên kịch Jacques Levy[148][149]. Một nửa số buổi diễn trong tour diễn năm 1976 này được trình chiếu trên truyền hình trong chương trình mang tên Hard Rain, rồi sau đó được đưa vào bản LP Hard Rain; không có một sản phẩm nào khác về tour diễn được biết tới và có được đánh giá tốt hơn album trên cho tới tận album mang tên Live 1975, ra mắt năm 2002[150].

Chuyến lưu diễn Revue giúp Dylan có được bộ phim dài gần 4 tiếng mang tên Renaldo and Clara với lối kể chuyện tùy hứng và lộn xộn, bao gồm các hoạt cảnh trên sân khấu và hồi tưởng. Được phát hành vào năm 1978, bộ phim nhận được nhiều lời chê bai, thậm chí gay gắt và chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn ở các rạp chiếu[151][152]. Cuối năm, Dylan thực hiện bản chỉnh sửa, rút gọn bộ phim còn 2 tiếng với nội dung chủ yếu là những phần trình diễn sân khấu, góp phần giúp bộ phim có được những đón nhận tích cực hơn[153].

Tháng 11 năm 1976, Dylan tham gia buổi diễn "chia tay" The Band cùng Eric Clapton, Joni Mitchell, Muddy Waters, Van MorrisonNeil Young. Buổi diễn được đạo diễn Martin Scorsese quay lại thành bộ phim nổi tiếng The Last Waltz (1978) với phân nửa là phần trình diễn của Dylan[154]. Cùng năm, anh cũng sáng tác ca khúc song ca "Sign Language" cho album No Reason to Cry của Clapton[155].

Dylan dành hầu hết năm 1978 cho tour diễn vòng quanh thế giới với 114 show tại Nhật Bản, vùng Viễn Đông, châu Âu và Mỹ và tổng số khán giả lên tới 2 triệu người. Trong quá trình thực hiện, Dylan có nhờ tới 8 ban nhạc khác nhau, cùng với đó là 3 ca sĩ hát nền chuyên nghiệp. Những buổi diễn tại Nhật vào tháng 2 và 3 được thu âm thành album trực tiếp Bob Dylan at Budokan[156]. Tuy nhiên, các đánh giá lại khá trái chiều. Robert Christgau chỉ cho album điểm C+ với lời đánh giá khá bi quan[157], trong khi Janet Maslin của tờ Rolling Stone lại lên tiếng bảo vệ khi cho rằng đây là "ấn bản trực tiếp cuối cùng của những ca khúc ngày xưa với mục đích giải phóng Dylan khỏi hình ảnh nguyên gốc."[158] Khi tour diễn tới Mỹ vào tháng 9 năm 1978, anh đã né tránh báo chí khi thay đổi toàn bộ hình thức của tour diễn dưới tên Las Vegas Tour[159]. Tour diễn năm 1978 giúp Dylan kiếm được khoản tiền khổng lồ vào thời điểm đó, 20 triệu $, và anh cũng tiết lộ với tờ Los Angeles Times rằng mình cần phải trả vài khoản nợ vì "Tôi đã từng có những năm tồi tệ. Tôi đã đầu tư cả đống tiền cho phim ảnh, để xây biệt thự... và thủ tục ly hôn ở California cũng rất tốn kém."[156]

Tháng 4-5 năm 1978, Dylan mang một số lượng lớn ban nhạc và ca sĩ hát nền tới phòng thu Rundown Studios mà anh thuê ở Santa Monica, California nhằm thực hiện album tiếp theo Street-Legal[160]. Album được Michael Gray miêu tả: "Sau Blood On The Tracks, đây có lẽ là sản phẩm tốt nhất của Dylan kể từ thập niên 1970: một album đặc biệt minh họa lại quãng thời gian đặc biệt trong cuộc đời của Dylan."[161] Tuy nhiên, thực tế album gặp nhiều vấn đề vì chất lượng thu âm và chỉnh âm tồi (một phần vì kinh nghiệm tổ chức thu âm kém cỏi của Dylan) với phần chơi nhạc cụ tạp nham chỉ được chỉnh sửa sau này qua ấn bản CD năm 1999 với một vài ca khúc đạt chất lượng tốt hơn[162].

Thiên chúa giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tới cuối thập niên 1970, Dylan trở thành tín đồ Thiên chúa giáo tái sinh[163][164][165] rồi cho phát hành 2 album nhạc phúc âm Thiên chúa giáo. Slow Train Coming (1979) được thực hiện với phần chơi guitar điện bởi Mark Knopfler (từ Dire Straits) và sản xuất bởi một nhân vật tiếng tăm trong dòng nhạc R&B, Jerry Wexler. Wexler sau này kể lại rằng Dylan đã cố gắng cảm hóa ông trong thời gian thu âm album, và ông đáp lại: "Này Bob, cậu đang nói chuyện với một gã Do Thái 62 tuổi vô thần đấy! Hãy tập trung vào album đi."[166] Album giúp Dylan đoạt giải Grammy cho Trình diễn giọng nam xuất sắc nhất trong ca khúc "Gotta Serve Somebody". Album thứ 2 cùng chủ đề, Saved (1980), nhận được nhiều đánh giá lẫn lộn và được cây viết Michael Gray miêu tả "thứ gần gũi với album trước đó mà Dylan vừa thực hiện, kiểu Slow Train Coming II hoặc thấp hơn"[167]. Trong những tour diễn cuối năm 1979 đầu năm 1980, Dylan không trình diễn bất cứ ca khúc nào thời kỳ trước đó, và anh đưa lên sân khấu cả những quan điểm về đức tin của mình, ví dụ như:

"Nhiều năm trước họ... nói rằng tôi là một nhà truyền đạo. "Không, tôi không phải", nhưng họ vẫn nói "Có, anh là một nhà truyền đạo", tôi liền đáp "Không phải tôi". Và họ vẫn cứ nhắc lại "Cậu chắc chắn là một nhà truyền đạo", họ đã cố gắng thuyết phục tôi như vậy. Nay tôi đã giác ngộ và tôi nói Chúa Jesus là câu trả lời của tôi. Giờ họ nói "Bob Dylan không phải là một người truyền đạo!", có vẻ họ không chấp nhận nổi sự thay đổi này."[168]

Việc Dylan trở thành tín đồ Thiên chúa giáo tái sinh không được nhiều người biết tới, chung quy chỉ trong số những người hâm mộ và những người bạn nhạc sĩ[169]. Không lâu trước khi bị ám sát, John Lennon cho thu âm ca khúc "Serve Yourself" để đáp trả lại sáng tác "Gotta Serve Somebody" của Dylan[170]. Năm 1981, nhà báo Stephen Holden viết trên tờ New York Times rằng "không phải tuổi tác (lúc này Dylan đã 40 tuổi) hay những câu chuyện phổ biến về Thiên-chúa-giáo-tái-sinh đã làm hủy hoại cá tính mang tính biểu tượng của anh"[171].

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Dylan trình diễn tại Toronto ngày 18 tháng 4 năm 1980

Cuối năm 1980, Dylan đi diễn hàng loạt chương trình nhỏ lẻ rồi đặt tên A Musical Retrospective bao gồm toàn những ca khúc nổi tiếng từ những năm 1960. Album Shot of Love được phát hành vào mùa xuân năm sau đó với nội dung là những sáng tác mới của anh từ hơn 2 năm trở lại, kể cả vài ca khúc Thiên chúa giáo. Ca khúc "Every Grain of Sand" lấy ca từ từ đoạn thơ của William Blake[172].

Trong những năm 1980, những đánh giá về các sản phẩm của Dylan là rất trái chiều, từ hài lòng thỏa mãn trong Infidels (1983) cho tới chỉ trích gay gắt với Down in the Groove (1988). Nhiều nhà phê bình như Michael Gray cho rằng những album trong thập niên 1980 của Dylan thể hiện rõ ràng việc thiếu chú trọng tới kỹ thuật phòng thu cũng như việc anh không thể viết nên được những sáng tác xuất sắc[173]. Điển hình là trong quá trình thực hiện Infidels mà Dylan có nhờ tới Mark Knopfler trong vai trò guitar và sản xuất, rất nhiều ca khúc hay lại bị Dylan loại ra khỏi kế hoạch thu âm. Những đánh giá tốt nhất được dành cho "Blind Willie McTell" tưởng nhớ tới ngôi sao nhạc blues mới qua đời trong hoạt động nhân quyền của cộng đồng người Mỹ gốc Phi[174], ngoài ra còn có "Foot of Pride" và "Lord Protect My Child". Tất cả những ca khúc này sau đó được đưa vào bootleg tuyển tập The Bootleg Series Volumes 1–3 (Rare & Unreleased) 1961–1991[175].

Trong khoảng từ tháng 7 năm 1984 tới tháng 3 năm 1985, Dylan thu âm Empire Burlesque[176]. Arthur Baker, người từng chỉnh âm các ca khúc của Bruce SpringsteenCyndi Lauper, được mời làm kỹ thuật viên cho album này. Baker sau này nói rằng ông cảm thấy mình được Dylan tin tưởng góp phần tạo nên thứ âm thanh "một chút đương đại hơn" cho album[176].

Dylan tham gia cùng USA for Africa trong ca khúc quyên góp từ thiện "We Are the World". Ngày 13 tháng 7 năm 1985, anh xuất hiện trong chương trình từ thiện của Live Aid tại sân vận động JFK, Philadelphia. Được chơi lót bởi Keith RichardsRonnie Wood, Dylan trình diễn một ấn bản khá "dữ dằn" của ca khúc "Hollis Brown" – bản ballad nói về sự nghèo khó ở vùng nông thôn – cùng với đó là thông điệp gửi tới gần 1 tỉ người nghe vào thời điểm đó: "Tôi hi vọng rằng với chút tiền này... có thể họ có thể trích một ít từ đó, có thể là... 1 hay 2 triệu... có thể là... và dùng nó để trả phần thế chấp cho những trang trại mà những người nông dân đang nợ từ ngân hàng."[177] Quan điểm của anh ngay lập tức bị đánh giá là hoang đường, nhưng lại góp phần giúp Willie Nelson thực hiện một loạt chương trình sau đó, Farm Aid, nhằm hỗ trợ việc trang trải các khoản nợ của những người nông dân Mỹ[178].

Tháng 4 năm 1986, Dylan có một trải nghiệm nhỏ vào thế giới nhạc rap khi tham gia góp giọng vào ca khúc "Street Rock" trong một album Kingdom Blow của Kurtis Blow[179]. Album tiếp theo của anh, Knocked Out Loaded, được phát hành vào tháng 7 năm 1986 với 3 ca khúc hát lại (của Little Junior Parker, Kris Kristofferson và bản thánh ca phúc âm truyền thống "Precious Memories"), 3 ca khúc cộng tác sáng tác (cùng Tom Petty, Sam ShepardCarole Bayer Sager) và 2 sáng tác mới của Dylan. Một đánh giá bình luận "bản thu đúc kết từ rất nhiều con đường sai lầm nhằm có được sự lựa chọn phù hợp, và một trong số những con đường sai lầm đó đã từng kéo anh đi xuống nơi mà người đời từng gọi là dấu chấm hết. Tới năm 1986, một bản thu bất ngờ nhưng không hoàn toàn tình cờ nữa của Dylan cũng không thể góp phần giúp chúng có thể đỡ thất bại hơn."[180] Đây chính là album đầu tiên của Dylan kể từ Freewheelin' (1963) không thể vào top 50 tại các bảng xếp hạng[181]. Tuy nhiên, nhiều bài phê bình cùng đồng ý rằng ca khúc 11-phút đồng sáng tác với Sam Shepard, "Brownsville Girl", là một siêu phẩm nữa của Dylan[182].

Trong những năm 1986 và 1987, Dylan tích cực đi tour cùng Tom Petty and the Heartbreakers, cùng Petty hát chính trong nhiều ca khúc tại các buổi diễn. Anh cũng đi tour cùng The Grateful Dead vào năm 1987, đi kèm là album mang tên Dylan & The Dead. Tuy nhiên album lại có được phản hồi khá tiêu cực. Allmusic viết "có lẽ là album dở nhất của cả Dylan lẫn Greatful Dead"[183]. Sau khi đi diễn cùng những nghệ sĩ trên, Dylan bắt đầu chương trình trình diễn kéo dài của mình mang tên Never Ending Tour vào ngày 7 tháng 6 năm 1988 với một ban nhạc chơi lót cố định của nghệ sĩ guitar G. E. Smith. Dylan vẫn đi diễn cùng với ban nhạc trên với một chút thay đổi nhỏ về thành viên suốt 20 năm sau đó[184].

Bob Dylan trên sân khấu Barcelona, Tây Ban Nha năm 1984

Năm 1987, Dylan tham gia diễn xuất trong bộ phim Hearts of Fire của đạo diễn Richard Marquand, thủ vai nhân vật Billy Parker – một ngôi-sao-nhạc-rock-bị-lãng-quên buộc phải trở thành gã nông dân chăn nuôi gia cầm sau khi người tình tuổi teen (Fiona) chia tay anh để tới với tay ca sĩ thuộc trào lưu synth-pop từ nước Anh (Rupert Everett)[185]. Dylan trực tiếp viết 2 ca khúc nhạc phim là "Night After Night" và "I Had a Dream About You, Baby", cùng với đó là hát lại sáng tác "The Usual" của John Hiatt. Bộ phim nhanh chóng thảm bại về chuyên môn cũng như doanh thu[186]. Dylan được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào tháng 1 năm 1988 với lời đề cử từ fan hâm mộ lâu năm, Bruce Springsteen: "Bob giải phóng tâm hồn bạn như cách Elvis từng giải phóng cơ thể bạn vậy. Anh ấy đã chứng minh với chúng ta rằng cho dù âm nhạc vốn ban đầu chỉ mang tính tự nhiên bộc phát, song không vì thế mà nó lại thiếu tính trí tuệ."[187]

Khi Dylan cho phát hành album Down in the Groove[gc 10] vào tháng 5 năm 1988, doanh số thu được nhìn chung là kém hơn hẳn album trước đó của anh[188]. Michael Gray viết: "Cái nhan đề quá đỗi hiển nhiên không làm lộ ra bất cứ khái niệm nào trong đó. Đây lại là một cách làm giảm giá trị quan điểm cho rằng mỗi album mới của Dylan mang tới một điều gì đó mới mẻ."[189] Những lời chê bai và thất bại thương mại của album nhanh chóng bị lãng quên bởi sự xuất hiện của Traveling Wilburys. Dylan đồng sáng lập nên siêu ban nhạc trên cùng những người bạn thân George Harrison, Jeff Lynne, Roy OrbisonTom Petty vào cuối năm 1988, và album đầu tay đa-Bạch kim của họ, Traveling Wilburys Vol. 1, đạt tới vị trí số 3 tại bảng xếp hạng ở Mỹ[188] với những ca khúc được cho là sáng tác dễ nghe nhất của Dylan trong nhiều năm trở lại[190]. Cho dù Orbison đột ngột qua đời vào tháng 12 năm 1988, 4 thành viên còn lại tiếp tục thu âm và cho ra mắt album thứ 2 của mình vào tháng 5 năm 1990 với một nhan đề dễ gây nhầm lẫn, Traveling Wilburys Vol. 3[191].

Dylan kết thúc thập niên đầy biến động của mình với siêu phẩm Oh Mercy, được sản xuất bởi Daniel Lanois. Michael Gray đánh giá về album này "Vô cùng chú trọng cách viết, chất giọng đặc biệt, sự ấm áp từ âm nhạc và một sự chuyên nghiệp đầy bản lĩnh, tất cả những yếu tố liên kết lại tạo nên album xuất sắc nhất thập niên 1980 của Dylan."[189][192] Ca khúc "Most of the Time", một sáng tác về tình yêu lỡ dở, sau này được đưa vào trong bộ phim High Fidelity, trong khi "What Was It You Wanted?" ghi nhận nhiều giáo lý và cả những thái độ gượng gạo qua đánh giá từ những chuyên gia cũng như người hâm mộ[193]. Hình ảnh mang tính tôn giáo trong ca khúc "Ring Them Bells" gây chú ý tới nhiều nhà phê bình vì những quan điểm về đức tin[194].

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Dylan phát hành album Under the Red Sky đối lập hoàn toàn với Oh Mercy, bao gồm rất nhiều ca khúc đơn giản như "Under the Red Sky" và "Wiggle Wiggle". Album này được ghi dành tặng cho "Gabby Goo Goo", sau này được giải thích là tên gọi cho con gái của Dylan với Carolyn Dennis – Desiree Gabrielle Dennis-Dylan – lúc đó mới 4 tuổi. Những nghệ sĩ khách mời trong album bao gồm George Harrison, Slash (từ Guns N' Roses), David Crosby, Bruce Hornsby, Stevie Ray VaughanElton John. Cho dù được thực hiện với đội hình toàn siêu sao, bản thu lại nhận được khá nhiều chỉ trích và nhìn chung là ế ẩm.

Dylan được vinh danh tại Giải Grammy Thành tựu trọn đời vào năm 1991 bởi diễn viên người Mỹ Jack Nicholson. Sự kiện này trùng với lúc nổ ra Chiến tranh vùng Vịnh chống lại chế độ của Saddam Hussein, vì thế Dylan đã trình diễn ca khúc "Masters of War" khi lên nhận giải. Dylan chỉ nói lời cám ơn ngắn gọn: "Cha tôi đã từng nói: "Con trai, sẽ có ngày con sẽ trở nên nhơ nhuốc tới mức cả mẹ lẫn cha phải từ con. Nếu điều đó xảy ra, hẳn là Chúa đã tin tưởng để tài năng của con sửa chữa con về với con đường của mình"." Cảm xúc trong câu nói này được lấy cảm hứng từ một trích dẫn của nhà trí thức người Đức gốc Do Thái thế kỷ 19 Rabbi Samson Raphael Hirsch.

Những năm sau chứng kiến một Dylan trở về với phong cách nguyên gốc với 2 album nhạc folk là Good as I Been to You (1992) và World Gone Wrong (1993), sử dụng nhiều diễn giải và guitar acoustic. Rất nhiều đánh giá đã bình luận và tán dương vẻ đẹp bình lặng trong "Lone Pilgrim", được sáng tác bởi một giáo viên từ thế kỷ 19 và được Dylan thể hiện với sự tôn kính rõ rệt. Tháng 11 năm 1994, anh thực hiện 2 buổi diễn cho serie MTV Unplugged, ngoài ra anh cũng trình bày mong muốn được hát lại những ca khúc truyền thống cho chương trình được đạo diễn bởi Sony vốn chú trọng hơn tới những ca khúc bán chạy trên thị trường. Album theo kèm, MTV Unplugged, bao gồm ca khúc "John Brown", một bản thu từ năm 1963 song chưa từng được phát hành, đề cập tới sự tàn phá của chiến tranh và chủ nghĩa hiếu chiến.

Với hàng loạt sáng tác được viết trong suốt mùa đông tại trang trại của mình ở Minnessota, Dylan liền đặt hẹn với nhà sản xuất Daniel Lanois để thu âm tại phòng thu Criteria Studios vào tháng 1 năm 1997. Cuối mùa xuân năm đó, ngay trước khi album phát hành, Dylan phải nhập viện để điều trị bệnh tim. Tour diễn châu Âu bị hủy bỏ, song anh đã nhanh chóng hồi phục và sớm ra viện "Tôi cứ nghĩ là tôi đã phải sớm gặp Elvis rồi"[gc 11] Anh quay trở lại với âm nhạc vào giữa mùa hè, trình diễn trước Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại Diễn đàn thánh thể thế giới tại Bologna, Italy. Giáo hoàng đọc trước 200.000 tín đồ bài thuyết pháp có nội dung dựa trên phần lời ca khúc "Blowin' in the Wind" của Dylan.

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Modern Times[sửa | sửa mã nguồn]

Together Through LifeChristmas in the Heart[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Never Ending Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng tác nghệ thuật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sounes, tr. 14, cho rằng tên tiếng Hebrew của Dylan là Shabtai Zisel ben Avraham.
  2. ^ Văn phòng Chabad có ghi lại rất nhiều trẻ sơ sinh tên Zushe ben Avraham, mà theo tiếng Yiddish có thể có nhiều biến thể. Xem thêm tại “Singer/Songwriter Bob Dylan Joins Yom Kippur Services in Atlanta”. Chabad.org News. 24 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  3. ^ Sounes, tr. 14
  4. ^ “Robert Allen Zimmerman”. Minnesota Birth Index, 1935–2002. Ancestry.com. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011. “Name: Robert Allen Zimmerman; Birth Date: 24 May 1941; Birth County: Saint Louis; Father: Abram H. Zimmerman; Mother: Beatrice Stone” (cần đăng ký mua)
  5. ^ a ă Sounes, tr. 12–13.
  6. ^ Dylan, tr. 92–93.
  7. ^ Shelton, tr. 38–40.
  8. ^ a ă Gray, Michael (22 tháng 5 năm 2011). “One of a kind: Bob Dylan at 70”. The Japan Times. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2011. 
  9. ^ Heylin (1996), tr. 4–5.
  10. ^ Sounes, tr. 29–37.
  11. ^ LIFE Books, "Bob Dylan, Forever Young, 50 Years of Song", Time Home Entertainment, Vol. 2, No 2, 10 tháng 2 năm 2012, tr. 15.
  12. ^ Buổi phỏng vấn với Bobby Vee đã tiết lộ chàng trai Zimmerman có lẽ đã gặp vấn đề khi phát âm nghệ danh của mình: "[Dylan] xuất hiện nơi Fargo/Moorhead trình diễn;... Bill [Velline] đang trong phòng thu cùng Fargo, Sam's Record Land, và cậu ta tới gặp Fargo rồi tự giới thiệu là Elston Gunnn — với 3 chữ n, G-U-N-N-N." Phỏng vấn với Bobby Vee, tháng 7 năm 1999, Goldmine. Đăng tải trực tuyến tại “Early alias for Robert Zimmerman”. Expecting Rain. 11 tháng 8 năm 1999. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  13. ^ Sounes, tr. 41–42.
  14. ^ Heylin (2000), tr. 26–27.
  15. ^ a ă Biograph, 1985, phụ chú bởi Cameron Crowe.
  16. ^ Shelton, tr. 65–82.
  17. ^ a ă Theo bộ phim No Direction Home, đạo diễn bởi Martin Scorsese. Trình chiếu ngày 26 tháng 9 năm 2005, PBS & BBC Two
  18. ^ Dylan, tr. 78–79.
  19. ^ Shelton (2011), tr. 44–45.
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 60minutes2005
  21. ^ Sounes, tr. 72
  22. ^ Dylan, tr. 98.
  23. ^ Dylan, tr. 244–246.
  24. ^ Dylan, tr. 250–252.
  25. ^ Shelton (2011), tr. 74–78.
  26. ^ Robert Shelton (21 tháng 9 năm 1961). The New York Times, "Bob Dylan: A Distinctive Stylist" đăng tải trực tuyến tại Robert Shelton (21 tháng 9 năm 1961). “Bob Dylan: A Distinctive Stylist”. Bob Dylan Roots. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  27. ^ Unterberger, Richie (8 tháng 10 năm 2003). “Carolyn Hester Biography”. All Music. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  28. ^ Greene, Andy (19 tháng 3 năm 2012). “50 years ago today: Bob Dylan released his debut album”. CNN. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 
  29. ^ a ă Scaduto, tr. 110.
  30. ^ Ảnh chụp Dylan cùng Victoria Spivey trong buổi thu này được Dylan sau này dùng làm ảnh bìa cho album năm 1970 của mình, New Morning. Xem thêm tại Gray (2006), tr. 630–631.
  31. ^ a ă â Unterberger, Richie. “Blind Boy Grunt”. allmusic.com. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  32. ^ Shelton, tr. 157–158.
  33. ^ Sounes, tr. 116.
  34. ^ Sounes, tr. 94–95, 115. Phỏng vấn với Silver trong DVD phim tài liệu mang tên No Direction Home song không được sử dụng và được cho vào bộ phim sau này Together Through Life.
  35. ^ Gray (2006), tr. 283–284.
  36. ^ Heylin (2000), tr. 115–116.
  37. ^ Shelton, tr. 138–142.
  38. ^ Shelton, tr. 156.
  39. ^ Phần phụ chú bởi John Bauldie trong tuyển tập The Bootleg Series Volumes 1–3 (Rare & Unreleased) 1961–1991 (1991) của Dylan có viết: "Dylan từng giải thích vào năm 1978 với nhà báo Marc Rowland: ""Blowin' In The Wind" luôn luôn chỉ mang tính ý nghĩa. Tôi đã lây một phần từ ca khúc "No More Auction Block" – tinh thần là vậy và "Blowin' In The Wind" cũng đi theo cảm xúc đó.'" tr. 6–8.
  40. ^ Heylin (2000), tr. 101–103.
  41. ^ Cott (2006), tr. 8.
  42. ^ Ricks, pp. 329–344.
  43. ^ Scaduto, tr. 35.
  44. ^ Mojo, tháng 12 năm 1993.
  45. ^ Hedin, tr. 259.
  46. ^ Sounes, tr. 136–138.
  47. ^ Lời tựa của Joan Baez, Gray (2006), tr. 28–31.
  48. ^ Meacham, Steve (15 tháng 8 năm 2007). “It ain't me babe but I like how it sounds”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  49. ^ Phụ chú album Biograph năm 1985 bởi Cameron Crowe. Thành phần tham gia sản xuất của "Mixed Up Confusion": George Barnes & Bruce Langhorne (guitar); Dick Wellstood (piano); Gene Ramey (bass); Herb Lovelle (trống)
  50. ^ Dylan thu âm trước đó ca khúc "Talkin' John Birch Society Blues" cho album Freewheelin của mình, song ca khúc sau đó bị thay thế bởi những sáng tác khác, trong đó có "Masters of War". Xem thêm tại Heylin (2000), tr. 114–115.
  51. ^ Dylan trình diễn "Only a Pawn in Their Game" và "When the Ship Comes In"; xem thêm tại Heylin (1996), tr. 49.
  52. ^ Ricks, tr. 221–233.
  53. ^ Williams, tr. 56.
  54. ^ Stern, Michael (22 tháng 12 năm 1968). “Civil-Liberties Units Expanding; Top Organizations to Broaden Scope of Activities”. New York Times. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  55. ^ Trích đoạn lời nói của Dylan: "Không có da trắng hay da màu, cánh tả hay cánh hữu với tôi nữa; chỉ còn có lên và xuống mà đã xuống thì rất gần với mặt đất. Và tôi đang cố gắng leo lên mà không phải nghĩ về những thứ tầm phào như chuyện chính trị."; Shelton, tr. 200–205.
  56. ^ Heylin (1996), tr. 60.
  57. ^ Shelton, tr. 222.
  58. ^ Trong buổi phỏng vấn với Seth Goddard cho tạp chí Life số ngày 5 tháng 7 năm 2001, Ginsberg cho rằng kỹ năng của Dylan được lấy cảm hứng từ Jack Kerouac: "(Dylan) lấy tập thơ Mexico City Blues trong tay tôi rồi đọc, rồi tôi nói "Liệu cậu biết gì về thứ này?" Cậy ta trả lời "Có ai đó từng đưa nó cho tôi lúc ở 59 phố St. Paul và nó làm tôi suy nghĩ." Vậy nên tôi hỏi "Tại sao?" Cậu ta nói "Đây là tập thơ đầu tiên được viết giống với ngôn ngữ của tôi." Chuỗi những hình ảnh chói lòa mà bạn hình dung về Dylan, giống như "chiếc xe Madonna đen 2 bánh điệu đà và gã người yêu cuồng tín", chúng bị ảnh hưởng từ cách viết chơi trội và bộc phát của Kerouac, và nó dễ dàng đi vào lòng người." Tái bản trực tuyến tại “Online Interviews With Allen Ginsberg”. University of Illinois at Urbana Champaign. 8 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  59. ^ Shelton, tr. 219–222.
  60. ^ Shelton, tr. 267–271; tr. 288–291.
  61. ^ Heylin (2000), tr. 178–181.
  62. ^ Heylin (2000), tr. 181–182.
  63. ^ Heylin (2009), tr. 220–222.
  64. ^ Marqusee, tr. 144.
  65. ^ Gill, tr. 68–69.
  66. ^ Lee, tr. 18.
  67. ^ a ă Sounes, tr. 168–169.
  68. ^ Warwick, N., Brown, T. & Kutner, J. (2004). The Complete Book of the British Charts . Omnibus Press. tr. 6. ISBN 978-1-84449-058-5. 
  69. ^ Whitburn, J. (2008). Top Pop Singles 1955–2006. Record Research Inc. tr. 130. ISBN 0-89820-172-1. 
  70. ^ Shelton, tr. 276–277.
  71. ^ Heylin (2000), tr. 208–216.
  72. ^ “Exclusive: Dylan at Newport—Who Booed?”. Mojo. 25 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  73. ^ CP Staff (28 tháng 4 năm 2010). “Al Kooper talks Dylan, Conan, Hendrix, and lifetime in the music business”. City Pages (Village Voice Media). tr. 3. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2010. 
  74. ^ Jackson, Bruce (26 tháng 8 năm 2002). “The myth of Newport '65: It wasn't Bob Dylan they were booing”. Buffalo Report. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2010. 
  75. ^ Shelton, pp. 305–314.
  76. ^ Sing Out!, tháng 9 năm 1965, trích bởi Shelton, tr. 313.
  77. ^ "You got a lotta nerve/To say you are my friend/When I was down/You just stood there grinning". Lưu trữ trực tuyến tại Bob Dylan. “Positively 4th Street”. bobdylan.com. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008. 
  78. ^ Sounes, tr. 186.
  79. ^ Springsteen trong lời đề cử Dylan tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll ngày 30 tháng 1 năm 1988, trích bởi Bauldie, tr. 191.
  80. ^ “The Rolling Stone 500 Greatest Songs of All Time”. Rock List Music. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010. 
  81. ^ “500 Greatest Songs Of All Time”. Rolling Stone. 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  82. ^ Gill, tr. 87–88.
  83. ^ Polizzotti cho rằng Charlie McCoy là người chơi guitar và Russ Savakus chơi bass cùng các nghệ sĩ khác, xem thêm tại Polizzotti, Highway 61 Revisited, tr. 133
  84. ^ Gill, tr. 89.
  85. ^ Heylin (1996), tr. 80–81
  86. ^ Sounes, tr. 189–90.
  87. ^ Heylin (1996), tr. 82–94
  88. ^ Heylin (2000), tr. 238–243.
  89. ^ "Những âm thanh gần sát với tâm hồn tôi nhất có lẽ chính là những gì tôi có với album Blonde on Blonde. Một sự mỏng manh, hoang dã của âm thanh. Nó như kim loại hay thứ vàng tốt, với mọi thứ mà nó có thể tự khơi gợi nên." Phỏng vấn Dylan, tạp chí Playboy, tháng 3 năm 1978; in bởi Cott, Dylan on Dylan: The Essential Interviews, tr. 204.
  90. ^ Gill, tr. 95.
  91. ^ a ă Sounes, tr. 193.
  92. ^ Shelton, tr. 325.
  93. ^ Heylin (2000), tr. 244–261.
  94. ^ “Live 1966”. NME. UK. 6 tháng 9 năm 1998. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010. 
  95. ^ Những lời trao đổi của Dylan với khán giả Manchester được ghi lại với phụ đề trong bộ phim tài liệu của Martin Scorsese, No Direction Home
  96. ^ Heylin (2011), tr. 251.
  97. ^ Heylin (2011), tr. 250.
  98. ^ Rolling Stone, 29 tháng 11 năm 1969. In lại trong Cott, Dylan on Dylan: The Essential Interviews, tr. 140.
  99. ^ Jones, Rebecca (23 tháng 5 năm 2011). “Dylan tapes reveal heroin addiction”. BBC Radio 4. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  100. ^ Greene, Andy (23 tháng 5 năm 2011). “Questions About Bob Dylan's Claim That He was Once a Heroin Addict”. Rolling Stone. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  101. ^ Brown, Mick (23 tháng 5 năm 2011). “Bob Dylan: finally an admission about his heroin use, but is it the truth?”. London: www.telegraph.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  102. ^ Sounes, tr. 215.
  103. ^ a ă â Sounes, tr. 217–219.
  104. ^ Scherman, Tony (29 tháng 7 năm 2006). “The Bob Dylan Motorcycle-Crash Mystery”. American Heritage. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  105. ^ Heylin (2000), tr. 268.
  106. ^ Dylan, tr. 114.
  107. ^ Heylin (1996), tr. 143.
  108. ^ Sounes, tr. 216.
  109. ^ Lee, tr. 39–63.
  110. ^ Eat the Document on IMDb”. imdb.com. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  111. ^ Sounes, tr. 222–225.
  112. ^ Marcus, tr. 236–265.
  113. ^ Helm, Levon and Davis, This Wheel's on Fire, tr. 164; tr. 174.
  114. ^ a ă “Columbia Studio A, Nashville, Tennessee, John Wesley Harding sessions”. Bjorner's Still On the Road. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2008. 
  115. ^ Heylin (2000), tr. 282–288.
  116. ^ Heylin (2011), tr. 289.
  117. ^ Gill, tr. 140.
  118. ^ Shelton (2011), tr. 273.
  119. ^ Sounes, tr. 248–253.
  120. ^ Ford, Mark (14 tháng 5 năm 2011). “Bob Dylan: Writings 1968–2010 by Greil Marcus”. London: guardian.co.uk. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  121. ^ Male, Andrew (26 tháng 11 năm 2007). “Bob Dylan—Disc of the Day: Self Portrait. Mojo. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2008. 
  122. ^ Christgau, Robert. “Self Portrait”. robertchristgau.com. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010. 
  123. ^ Shelton, tr. 482.
  124. ^ Heylin (2009), tr. 391–392.
  125. ^ Heylin (2000), tr. 328–331.
  126. ^ Heylin (1996), tr. 128.
  127. ^ Gray (2006), tr. 342–343.
  128. ^ Gray (2006), tr. 267.
  129. ^ Lee, tr. 66–67.
  130. ^ Björner, Olof. “Dylan covers sorted by song name: k”. bjorner.com. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2012. 
  131. ^ Những nghệ sĩ từng hát lại ca khúc này bao gồm Bryan Ferry, Wyclef JeanGuns N' Roses“Dylan's Legacy Keeps Growing, Cover By Cover”. NPR Music. 26 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2008. .
  132. ^ a ă Sounes, tr. 273–274.
  133. ^ Heylin (2000), tr. 354.
  134. ^ Lời bình của Dylan trong phần phụ chú album Biograph, 1985, CBS Records.
  135. ^ Heylin (2000), tr. 358.
  136. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Shelton-378
  137. ^ Heylin (2000), tr. 368–383.
  138. ^ Heylin (2000), tr. 369–387.
  139. ^ a ă Heylin (2000), tr. 383.
  140. ^ “Bob Dylan”. Salon.com. 5 tháng 5 năm 2001. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2008. 
  141. ^ Hedin, tr. 109.
  142. ^ Shelton (2011), tr. 310.
  143. ^ “Log of every performance of "Hurricane"”. Bjorner's Still on the Road. 20 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2013. 
  144. ^ Kokay, Les via Olof Björner (2000). Songs of the Underground: a collector's guide to the Rolling Thunder Revue 1975–1976. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2007. 
  145. ^ Sloman, Larry (2002). On The Road with Bob Dylan. Three Rivers Press. ISBN 1-4000-4596-7. 
  146. ^ Gray (2006), tr. 579.
  147. ^ Shepard, tr. 2–49.
  148. ^ Heylin (2000), tr. 386–401,
  149. ^ Gray (2006), tr. 408.
  150. ^ Erlewine, Stephen (12 tháng 12 năm 2002). “Bob Dylan Live 1975—The Rolling Thunder Revue”. allmusic. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2008. 
  151. ^ Janet Maslin (26 tháng 1 năm 1978). “Renaldo & Clara (1978) 'Renaldo and Clara,' Film by Bob Dylan:Rolling Thunder”. The New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  152. ^ Sounes, tr. 313.
  153. ^ Lee, tr. 115–116.
  154. ^ “Reviews of The Last Waltz. Metacritic. 8 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  155. ^ Bream, Jon (22 tháng 5 năm 1991). “50 fascinating facts for Bob Dylan's 50th birthday”. Star Tribune. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2008. 
  156. ^ a ă Sounes, tr. 314–316.
  157. ^ Christgau, Robert. “Robert Christgau: Bob Dylan”. Robertchristgau.com. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  158. ^ Maslin, Janet (12 tháng 7 năm 1979). “Bob Dylan at Budokan”. Rolling Stone. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  159. ^ Heylin (2000), tr. 483.
  160. ^ Heylin (2011), tr. 479–481.
  161. ^ Gray (2006), tr. 643.
  162. ^ Heylin (2000), tr. 480–481.
  163. ^ Sounes, tr. 323–337.
  164. ^ Heylin (2000), tr. 490–526.
  165. ^ Phỏng vấn Dylan cùng Karen Hughes, The Dominion, Wellington, New Zealand, 21 tháng 5 năm 1980; in trong Cott (ed.), Dylan on Dylan: The Essential Interviews, tr. 275–278
  166. ^ Heylin (2000), tr. 501–503.
  167. ^ Gray (2000), tr. 11.
  168. ^ Björner (8 tháng 6 năm 2001). “Omaha, Nebraska, January 25, 1980”. Bjorner's Still On The Road. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2008. 
  169. ^ Sounes, tr. 334–336.
  170. ^ Rosen, Robert (2002). Nowhere Man: The Final Days of John Lennon. Quick American Archives. tr. 137. ISBN 0-932551-51-3. 
  171. ^ Holden, Stephen (29 tháng 10 năm 1981). “Rock: Dylan, in Jersey, Revises Old Standbys”. The New York Times. tr. C19. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010. 
  172. ^ Gray (2006), tr. 215–221.
  173. ^ Gray (2000), tr. 11–14.
  174. ^ Gray (2006), tr. 56–59.
  175. ^ Sounes, tr. 354–356.
  176. ^ a ă Sounes, tr. 362.
  177. ^ Sounes, tr. 367.
  178. ^ Sounes, tr. 365–367.
  179. ^ Gray (2006), tr. 63
  180. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Knocked Out Loaded”. allmusic. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010. 
  181. ^ Heylin (2000), p. 595.
  182. ^ Gray (2006), tr. 95–100.
  183. ^ Erlewine, Stephen Thomas (27 tháng 7 năm 1989). “Dylan & The Dead”. allmusic.com. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2009. 
  184. ^ Heylin (1996), tr. 297–299.
  185. ^ Sounes, tr. 376–383.
  186. ^ Heylin (2000), tr. 599–604.
  187. ^ Lời đề cử Bob Dylan tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, 20 tháng 1 năm 1988, in lại bởi Bauldie, tr. 191–193.
  188. ^ a ă Sounes, tr. 385.
  189. ^ a ă Gray (2000), p. 13.
  190. ^ Heylin (2000), tr. 627–628.
  191. ^ Heylin (2000), tr. 638–640.
  192. ^ Dylan, tr. 145–221.
  193. ^ Ricks, tr. 413–20.
  194. ^ Scott Marshall viết: "Khi Dylan hát lên 'The sun is going down upon the sacred cow', rõ ràng ta có thể kết luận rằng hình ảnh "sacred cow" – "cô gái bị hiến tế" – là hình ảnh ẩn dụ cho những vị thánh tội lỗi. Với Dylan, thế giới chỉ biết tới với một vị Chúa duy nhất." Marshall, Restless Pilgrim, tr. 103.
Ghi chú
  1. ^ Tạm dịch "Robert Zimmerman: tiếp nối 'Little Richard'".
  2. ^ Theo người viết tiểu sử cho Dylan, Robert Shelton, lần đầu anh nghĩ tới việc tìm nghệ danh sau khi lắng nghe người bạn gái thuở trung học của mình là Echo Helstrom vào năm 1958, rồi thông báo với cô rằng anh đã có "một cái tên rất hay, Bob Dillon". Shelton cho rằng có 2 nguồn gốc của cái tên Dillon: Marshal Matt Dillon là người hùng trong serie phim truyền hình Gunsmoke; hoặc Dillon là tên một trong những gia đình lớn ở Hibbing. Trong thời gian viết sử từ khoảng giữa những năm 1960, Dylan có nói với Shelton: "Cần ghi rõ ràng trong cuốn sách rằng tôi không chọn nghệ danh vì Dylan Thomas. Thơ của Dylan Thomas là dành cho những người khó ngủ và dành cho những ai thích đọc những câu chuyện lãng mạn cho nam giới." Tại Đại học Minnesota, Zimmerman từng nói cho vài người bạn rằng Dillon là tên thuở thiếu nữ của mẹ mình, dù rằng đó không phải là sự thật. Anh cũng từng trả lời phóng viên rằng anh có người chú tên Dillon. Shelton cũng bổ sung rằng khi tới New York vào năm 1961, Zimmerman bắt đầu phát âm tên mình thành "Dylan", cùng lúc anh bắt đầu làm quen và cộng tác với Dylan Thomas[19].
  3. ^ Trong bài phỏng vấn cùng Studs Terkel tháng 5 năm 1963, Dylan mở rộng ý nghĩa của ca khúc, nhấn mạnh rằng câu hát "the pellets of poison flooding the waters" (tạm dịch "những giọt thuốc độc ngấm trong làn nước") có liên hệ với câu "the lies people are told on their radios and in their newspapers" (tạm dịch "những lời gian dối mà người ta nói trên đài báo")[41].
  4. ^ Tạm dịch "Không ai có thể hát những ca khúc của Dylan như Dylan".
  5. ^ National Emergency Civil Liberties Committee (Ủy ban Quốc gia khẩn cấp về nhân quyền) được thành lập vào tháng 10 năm 1951 bởi 150 nhà nghiên cứu và giáo sĩ về quyền con người theo những điều luật có ghi trong Hiến pháp Hoa Kỳ, chủ yếu về quyền tự do ngôn luận, tôn giáo, đi lại và tụ tập công cộng[54].
  6. ^ Ngay từ đầu, Irwin Silber, biên tập viên tờ Sing Out!, có cho công bố bài viết mang tên "Open Letter to Bob Dylan" – tạm dich "Bức thư mở gửi tới Dylan" – phê phán kịch liệt việc Dylan từ bỏ những chủ đề chính trị: "Tôi có chứng kiến cậu đã đánh mất khả năng tiếp xúc với mọi người như thế nào khi ở Newport. Những điều tạo nên hào quang đang bắt đầu rời xa cậu." Tạp chí Sing Out!, tháng 11 năm 1964, trích bởi Shelton, tr. 313. Bài viết này sau đó bị nhầm lẫn là lời phản ứng với sự xuất hiện của Dylan ở Newport năm 1965.
  7. ^ Tạm dịch "Suỵt! Bob Dylan đã kết hôn".
  8. ^ C. P. Lee wrote: "In Garrett's ghost-written memoir, The Authentic Life of Billy, the Kid, published within a year of Billy's death, he wrote that 'Billy's partner doubtless had a name which was his legal property, but he was so given to changing it that it is impossible to fix on the right one. Billy always called him Alias."[129]
  9. ^ Theo Shelton, Dylan chọn ngẫu nhiên tên gọi cho tour diễn của mình là Rolling Thunder, và "cố gắng làm hài lòng những ai từng gọi anh là người Mỹ thổ dân, "rolling thunder" – "sấm rền" – có hàm ý nói lên sự thật." Một bác sĩ người Cherokee có biệt danh Rolling Thunder tham gia tour diễn và từng lên sân khấu trong buổi diễn ở Providence, đảo Rhodes, "mang sự dịu dàng tới âm nhạc"[142].
  10. ^ Tên nhan đề có thể tạm dịch "Theo lề lối cũ", hàm ý giống câu "Lối cũ ta về".
  11. ^ Elvis Presley qua đời từ năm 1977.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]