Barbra Streisand
| Barbra Streisand | |
|---|---|
European Tour - Hè 2007 |
|
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Tên khai sinh | Barbara Joan Streisand |
| Sinh | 24 tháng 4, 1942 |
| Nguyên quán | |
| Nghề nghiệp | Diễn viên, Ca sĩ |
| Thể loại | Pop cổ điển Adult Contemporary Nhạc dễ nghe Showtunes |
| Năm | Thập niên 60-nay |
| Hãng đĩa | Columbia Records |
| Website | BarbraStreisand.com |
Barbra Joan Streisand (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1942) là một nhà sáng tác nhạc, nữ diễn viên điện ảnh, kịch và ca sĩ Mỹ, đồng thời cũng là nhà hoạt động chính trị cấp tiến, nhà sản xuất phim và nhà đạo diễn phim. Bà đã giành được giải thưởng Oscar cho danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và Bài hát hay nhất trong phim cũng như các giải Emmy, Grammy, Quả Cầu Vàng. Streisand đã được xếp vào hàng nghệ sĩ nữ có album bán chạy nhất mọi thời đại ở Hoa Kỳ trong vòng hơn 30 năm, theo RIAA[1]. Bà được xem như một trong những nghệ sĩ biểu diễn nữ thành công nhất trong lịch sử ngành giải trí hiện đại và là nữ ca sĩ bán được nhiều album nhất trong lịch sử âm nhạc Mỹ, được RIAA xác nhận là hơn 71 triệu đĩa ghi âm. Tính kiên định lạ thường và sự nổi tiếng được giữ vững đã tiếp tục giữ được sự nổi tiếng của bà trước công chúng trong 47 năm trong nghề âm nhạc điện ảnh.
Mục lục |
Thời niên thiếu [sửa]
Streisand được sinh ra với tên gọi 'Barbara Joan Streisand ở Williamsburg, Brooklyn, Thành phố New York trong một gia đình bố mẹ là người Mỹ gốc Do Thái. Cha của Barbra là một giáo viên tại một trường trung học và đã qua đời lúc cô bé mới 15 tuổi; cô bé đã có một mối quan hệ cơm không lành canh không ngọt với dượng ghẻ Louis Kind. Cô có một em gái tên là Roslyn Kind cũng là một nghệ sỹ biểu diễn. Mẹ cô, Diana Ida Rosen, một thư ký tại trường phổ thông[2], đã không khuyến khích con gái mình theo đuổi nghề biểu diễn, cho rằng Barbara không đủ sức hấp dẫn. Cô đã được học tại Erasmus Hall High School, nơi cô tốt nghiệp hạng thứ 4 trong lớp học của cô năm 1959, và nơi cô hát ở trong giàn đồng ca của trường với Neil Diamond. Ở đây cô cũng làm bạn với Bobby Fisher, người sau này là Vua Cờ Bobby Fischer. Cô đã không bao giờ học đại học. Streisand đã từng nói rằng: "Tôi ghét nó (Brooklyn, New York) khi tôi lớn lên, nhưng bây giờ tôi nhận ra rằng tôi đã lấy được sức mạnh từ gốc rễ của mình." (17 tháng 10 năm 2006; hòa nhạc ở Toronto).
Sự nghiệp truyền hình, sân khẩu và ca hát [sửa]
Sau một cuộc thi ca nhạc, Streisand đã trở thành một ca sỹ hộp đêm khi cô còn tuổi teen. Ban đầu cô muốn trở thành một diễn viên xuất hiện ở một số tác phẩm điện ảnh ở Off-Off-Broadway, bao gồm với tác phẩm với nữ nghệ sỹ đang được ngưỡng mộ lúc đó là Joan Rivers, nhưng khi bạn trai cô là Barry Dennen đã giúp cô có một buổi biểu diễn tại hộp đêm; lần đầu biểu diễn ở một quán bar dân đồng tính nam ở Greenwich Village của Manhattan năm 1960 — cô đã giành được thành công như một ca sỹ. Vào lúc này, cô đã rút gọn tên mình thành Barbra để khiến nó dễ phân biệt hơn. Năm 1961 Streisand đã ký một hợp đồng với Winnipeg, nhà hàng "Town and Country" của Manitoba [1]. Các cuộc biểu diễn của cô đã nhận được critical approval, nhưng người chủ nhà hàng đã không đủ hiểu biết để hiểu được cái hay của âm những trình diễn bởi Barbra.
Năm 1962 Streisand lần đầu xuất hiện ở Broadway, trong một vai nhỏ nhưng lại tạo nên danh tiếng trong vở nhạc kịch I Can Get It for You Wholesale (1962). Cô cũng đã ký hợp đồng ghi âm đầu tiên năm đó với hãng Columbia Records. Album đầu tiên của cô, The Barbra Streisand Album, đã giành được hai Giải Grammy năm 1963. Sự thành công âm nhạc của cô tiếp tục, và có lục, 3 album đầu tiên của Streisand đã đồng thời xuất hiện ở top 10 Album pop Billboard - một thành công bất thường vì lúc đó nhạc rock and roll và ban nhạc The Beatles chiếm lĩnh bảng xếp hạng này.
Các cuộc biểu diễn ở Broadway [sửa]
| Năm | Tên | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1961-1963 | I Can Get It for You Wholesale | Tony đề cử giải Best Performance by a Featured Actress in a Musical |
| 1964-1965 | Funny Girl | Tony đề cử Best Leading Actress in a Musical |
Các chương trình truyền hình đặc biệt [sửa]
| Năm | Tên | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1965 | My Name Is Barbra | |
| 1966 | Color Me Barbra | |
| 1967 | The Belle of 14th Street | |
| 1968 | A Happening in Central Park | quay ngày 17 tháng 6 năm 1967 |
| 1973 | Barbra Streisand... and Other Musical Instruments | |
| 1975 | Funny Girl to Funny Lady | |
| 1976 | Barbra: With One More Look at You | |
| 1983 | A Film Is Born: The Making of 'Yentl' | |
| 1986 | Putting it Together: The Making of The Broadway Album | |
| 1987 | One Voice | |
| 1994 | Barbra Streisand: The Concert | Đồng sản xuất |
| 2000 | Barbra Streisand: Timeless |
Danh sách các phim tham gia [sửa]
| Năm | Tên | Vai | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1968 | Funny Girl | Fanny Brice | |
| 1969 | Hello, Dolly! | Dolly Levi | |
| 1970 | On a Clear Day You Can See Forever | Daisy Gamble / Melinda Tentrees | |
| 1970 | The Owl and the Pussycat | Doris Wilgus/Wadsworth/Wellington/Waverly | |
| 1972 | What's Up, Doc? | Judy Maxwell | |
| 1972 | Up the Sandbox | Margaret Reynolds | |
| 1973 | The Way We Were | Katie Morosky | |
| 1974 | For Pete's Sake (phim) | Henrietta 'Henry' Robbins | |
| 1975 | Funny Lady | Fanny Brice | |
| 1976 | A Star Is Born | Esther Hoffman Howard | Nhà sản xuất |
| 1979 | The Main Event | Hillary Kramer | Nhà sản xuất |
| 1981 | All Night Long | Cheryl Gibbons | |
| 1983 | Yentl | Yentl/Anshel | Nhà sản xuất, đạo diễn, kịch bản |
| 1987 | Nuts | Claudia Faith Draper | Nhà sản xuất |
| 1991 | The Prince of Tides | Dr. Susan Lowenstein | Nhà sản xuất, đạo diễn |
| 1996 | The Mirror Has Two Faces | Rose Morgan | Nhà sản xuất, đạo diễn |
| 2004 | Meet the Fockers | Roz Focker |
| Một số giải thưởng lớn | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: Ella Fitzgerald với Ella Swings Brightly with Nelson Riddle |
Giải Grammy cho Nữ ca sĩ trình diễn giọng Pop xuất sắc nhất 1964 với The Barbra Streisand Album 1965 với People 1966 với My Name Is Barbra |
Kế nhiệm: Eydie Gorme với If He Walked Into My Life |
| Tiền nhiệm: Vaughn Meader với The First Family |
Giải Grammy cho album của năm 1964 với The Barbra Streisand Album |
Kế nhiệm: Stan Getz & João Gilberto với Getz/Gilberto |
| Tiền nhiệm: Ella Fitzgerald với Mack The Knife |
Giải Grammy cho Giọng nữ Pop xuất sắc nhất 1965 với People |
Kế nhiệm: Petula Clark với I Know a Place |
| Tiền nhiệm: Katharine Hepburn với Guess Who's Coming to Dinner |
Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất 1968 với Funny Girl được trao thưởng cùng với Katharine Hepburn với The Lion in Winter |
Kế nhiệm: Maggie Smith với The Prime of Miss Jean Brodie |
| Tiền nhiệm: Anne Bancroft với The Graduate |
Giải Quả Cầu Vàng cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim nhạc hoặc kịch 1969 với Funny Girl |
Kế nhiệm: Patty Duke với Me, Natalie |
| Tiền nhiệm: Ann-Margret với Tommy |
Giải Quả Cầu Vàng cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim nhạc hoặc kịch 1977 với A Star Is Born |
Kế nhiệm: Diane Keaton với Annie Hall Marsha Mason với The Goodbye Girl |
| Tiền nhiệm: Linda Ronstadt với Hasten Down The Wind |
Giải Grammy cho Giọng nữ Pop xuất sắc nhất 1977 với Love Theme From A Star Is Born |
Kế nhiệm: Anne Murray với You Needed Me |
| Tiền nhiệm: Bruce Johnston với I Write the Songs |
Giải Grammy cho bài hát của năm 1978 với Evergreen |
Kế nhiệm: Billy Joel với Just the Way You Are |
| Tiền nhiệm: The Doobie Brothers với Minute by Minute |
Giải Grammy cho nhóm nhạc trình diễn giọng Pop xuất sắc nhất 1981 với Guilty |
Kế nhiệm: The Manhattan Transfer với Boy From New York City |
| Tiền nhiệm: Richard Attenborough for Gandhi |
Giải Quả Cầu Vàng cho đạo diễn xuất sắc nhất 1984 với Yentl |
Kế nhiệm: Miloš Forman với Amadeus |
| Tiền nhiệm: Whitney Houston với Saving All My Love for You |
Giải Grammy cho Giọng nữ Pop xuất sắc nhất 1987 với The Broadway Album |
Kế nhiệm: Whitney Houston với I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me) |
| Tiền nhiệm: Tracey Ullman với Tracey Takes on New York |
Giải Emmy cho màn trình diễn cá nhân trong nhiều chương trình đa dạng hoặc chương trình ca nhạc 1995 với Barbra Streisand: The Concert |
Kế nhiệm: Tony Bennett với Tony Bennett By Request |
| Tiền nhiệm: Bill Evans, Aretha Franklin, Arthur Rubinstein |
Giải Grammy cho thành tựu trọn đời 1995 |
Kế nhiệm: Dave Brubeck, Marvin Gaye, Georg Solti, Stevie Wonder |
| Tiền nhiệm: Jack Nicholson |
Giải Cecil B. DeMille 2000 |
Kế nhiệm: Al Pacino |
| Tiền nhiệm: Harrison Ford |
Giải AFI cho thành tựu trọn đời 2001 |
Kế nhiệm: Tom Hanks |
| Tiền nhiệm: Eddie Izzard với Dress to Kill |
Giải Emmy cho màn trình diễn cá nhân trong nhiều chương trình đa dạng hoặc chương trình ca nhạc 2001 với Barbra Streisand: Timeless |
Kế nhiệm: Sting với A&E in Concert |
Chuyện bên lề [sửa]
Barbra Streisand là một trong những cái tên hay bị gõ nhầm nhất khi tìm kiếm trên Google, khi bị gõ nhầm ra Barbara Streisand.
Tham khảo [sửa]
- ^ http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_records_of_the_USA
- ^ http://freepages.genealogy.rootsweb.com/~battle/celeb/streisand.htm
|
|||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Barbra Streisand. |