Faye Dunaway

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Faye Dunaway
Faye Dunaway 1994.jpg
Dunaway năm 1994
Tên khai sinh Dorothy Faye Dunaway
Sinh 14 tháng 1, 1941 (73 tuổi)
Bascom, Florida, Hoa Kỳ
Nghề nghiệp nữ diễn viên
Hoạt động 1962 tới nay
Hôn nhân Peter Wolf (1974–1979)
Terry O'Neill (1983–1987)

Dorothy Faye Dunaway (sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941), với nghệ danh là Faye Dunaway, là một nữ diễn viên điện ảnh người Mỹ đã từng đoạt giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Bà đã thủ vai chính trong nhiều phim khác nhau, từ những phim rất thành công về thương mại như The Towering Inferno và phim cổ điển hơi kịch hóa cường điệu Mommie Dearest, tới các phim được giới bình luận tán thưởng, trong đó có Bonnie and Clyde, Chinatown, và Network. Bà được đề cử hai lần cho giải Oscar cho nữ diễn viên xuất sắc nhất nhờ vai diễn trong các phim Bonnie and ClydeChinatown, sau đó đoạt giải này cho vai diễn trong phim Network (1976).

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Dunaway sinh tại Bascom, Florida, con gái của Grace April (nhũ danh Smith), người nội trợ, và John MacDowell Dunaway, Jr., một sĩ quan quân đội.[1] Dunaway theo học trường Đại học Florida,[2] Đại học Tiểu bang Florida,[3]Đại học Boston, nhưng tốt nghiệp Đại học Florida môn kịch nghệ. Năm 1962, Dunaway gia nhập Học viện và Nhà hát quốc gia Mỹ (American National Theater and Academy).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Dunaway xuất hiện ở Broadway năm 1962 trong vai con gái của Thomas More trong vở A Man for All Seasons. Vai diễn đầu tiên trên màn hình của bà là trong phim The Happening (1967). Năm 1967, bà cũng đóng phim Hurry Sundown, và cùng năm đó bà chiếm được vai nữ chính trong phim Bonnie and Clyde đối diện với Warren Beatty, đem lại cho bà việc đề cử cho giải Oscar. Năm 1968 bà cũng đóng vai chính với Steve McQueen trong phim The Thomas Crown Affair (và có một vai nhỏ trong phim làm lại năm 1999 với Pierce Brosnan).

Dunaway được Army Archerd phỏng vấn trên thảm đỏ tại lễ trao Giải Oscar thứ 60, ngày 11.4.1988.

Chính trong thập niên 1970 Dunaway đã bắt đầu phát triển khả năng diễn xuất của mình trong các phim như Three Days of the Condor, Little Big Man, Chinatown, The Three/Four Musketeers, Eyes of Laura Mars, và Network. Phim này đã mang lại cho bà Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất.

Trong thập niên 1980, mặc dù các diễn xuất của Dunaway vẫn vững vàng, nhưng các vai diễn trở nên kém hấp dẫn. Sau này Dunaway phàn nàn phim Mommie Dearest (1981) đã phá hỏng nghề diễn vai nữ chính của mình. Một số nhà bình luận đã chỉ trích phim này, dù nó có thu nhập tới 19 triệu US dollar trong các đợt công chiếu đầu tiên, và là một trong số 30 phim có tổng thu nhập hàng đầu trong năm. Phim này đã được chấp nhận ngay như một phim cổ điển được ngưỡng mộ. Bà đóng vai người nghiện rượu trong phim Barfly (đối diện Mickey Rourke). Sau đó bà đóng vai chính trong phim Don Juan DeMarco (1995) với Johnny DeppMarlon Brando.

Dunaway đóng vai kẻ bất lương xấu xa trong phim Supergirl (phim) (1984).

Dunaway cững đóng vai chính trong phim truyền hình Beverly Hills Madam (1986) đối diện Melody Anderson, Donna Dixon, Terry FarrellRobin Givens.

Dunaway đoạt một giải Emmy cho vai kẻ giết người trong "It's All in the Game" (1994), một tập trong loạt phim truyền hình nhiều tập Columbo.

Bà được đề cử 3 lần giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho các phim Bonnie and Clyde, Chinatown, Network, và đoạt giải ở phim sau. Bà cũng được đề cử 10 lần giải Quả cầu vàng, và đã đoạt 3 giải này, trong đó có các phim truyền hình Ellis Island (1984) và Gia (1998).

Năm 1996, bà đi lưu diễn khắp nước trong vở kịch Master Class, về chuyện nữ ca sĩ opera Maria Callas đầy quyền thế và rất được hoan nghênh. Dunaway mua bản quyền vở kịch Terrence McNally, để có thể quay thành phim.

Năm 2006, Dunaway đóng vai nhân vật tên Lois O'Neill trong đợt thứ 6 của vở kịch hình sự được ưa thích CSI: Crime Scene Investigation. Bà đóng vai người xét xử trong reality show The Starlet (2005), để tìm kiếm nữ diễn viên trẻ sau này có tiềm năng trở thành ngôi sao chính theo phong cách thần tượng Mỹ. Mùa xuân 2007, bà đóng vai chính trong phim quay DVD trực tiếp Rain, dựa trên tiểu thuyết của V. C. Andrews. Năm 2009 Dunaway đóng vai chính phim The Bait của đạo diễn kiêm chủ nhiệm phim người Ba Lan Dariusz Zawislak. Phim này là phiên bản đồng thời của vở kịch Balladyna của thi sĩ Juliusz Slowacki, người Ba Lan ở thế kỷ 19.

Dunaway có một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood ở số 7021 Đại lộ Hollywood, nơi bà được thưởng ngày 2.10.1996.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Dunaway có quan hệ tình cảm với một số nhân vật, từ Lenny Bruce tới nam diễn viên Marcello Mastroianni. Bà đã kết hôn 2 lần: lần đầu từ năm 1974 tới 1979 với Peter Wolf, ca sĩ chính của ban nhạc rock The J. Geils Band; lần thứ hai từ năm 1984 tới 1987 với Terry O'Neill, nhà chụp hình người Anh. Bà và O'Neill có một con trai, Liam O'Neill (sinh 1980). Năm 2003, mặc dù trước đây Dunaway đã nhận là mình sinh ra Liam, nhưng Terry O’Neill phát hiện ra Liam là con nuôi.[4]

Dunaway là người thành niên cải sang đạo Công giáo.[5]

Phim mục[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Ghi chú
1967 Hurry Sundown Lou McDowell
The Happening Sandy
Bonnie and Clyde Bonnie Parker Giải BAFTA; Đề cử – Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất;
Đề cử – Giải Quả cầu vàng
1968 The Thomas Crown Affair Vicki Anderson
Amanti Julia
1969 The Extraordinary Seaman Jennifer Winslow
The Arrangement Gwen
A Place for Lovers Julia
1970 Little Big Man Mrs. Louise Pendrake
Puzzle of a Downfall Child Lou Andreas Sand Đề cử – Giải Quả cầu vàng
1971 The Deadly Trap Jill
Doc Katie Elder
1973 Oklahoma Crude Lena Doyle
The Three Musketeers Milady de Winter
1974 Chinatown Evelyn Cross Mulwray Đề cử – Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất;
Đề cử – Giải BAFTA; Đề cử – Giải Quả cầu vàng
The Towering Inferno Susan Franklin
The Four Musketeers Milady de Winter
1975 Three Days of the Condor Kathy Hale Đề cử – Giải Quả cầu vàng
1976 Network Diana Christensen Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất; Giải Quả cầu vàng;
Đề cử – Giải BAFTA
Voyage of the Damned Denise Kreisler
1978 Eyes of Laura Mars Laura Mars
1979 The Champ Annie
1980 The First Deadly Sin Barbara Delaney
1981 Mommie Dearest Joan Crawford Giải Mâm xôi vàng cho diễn viên nữ chính tồi nhất
Evita Peron Evita Peron
1983 The Wicked Lady Lady Barbara Skelton
1984 Ordeal by Innocence Rachel Argyle
Supergirl Selena
1985 Thirteen at Dinner Jane Wilkinson
1987 Barfly Wanda Wilcox Đề cử – Giải Quả cầu vàng
1988 Midnight Crossing Helen Barton
The Gamble Countess Matilda Von Wallenstein La Partita
Burning Secret Mrs. Sonya Tuchman
1989 Frames from the Edge chính mình phim tài liệu
On a Moonlit Night Mrs. Colbert In una notte di chiaro di luna
Wait Until Spring, Bandini Mrs. Hildegarde
1990 The Handmaid's Tale Serena Joy
The Two Jakes Evelyn Mulwray chỉ giọng nói
1991 Scorchers Thais
1992 Double Edge Faye Milano Lahav Hatzui
1993 Arizona Dream Elaine Stalker
The Temp Charlene Towne
1995 Unzipped chính mình – không ghi tên phim tài liệu
Don Juan DeMarco Marilyn Mickler
Drunks Becky
1996 Dunston Checks In Mrs. Dubrow
Albino Alligator Janet Boudreaux
The Chamber Lee Cayhall Bowen
1997 In Praise of Older Women Condesa
The Twilight of the Golds Phyllis Gold
Rebecca Mrs. van Hopper TV miniseries
1998 Gia Wilhelmina Cooper
1999 Love Lies Bleeding Josephine Butler
The Thomas Crown Affair The Psychiatrist
The Messenger: The Story of Joan of Arc Yolande D'Aragon
2000 The Yards Kitty Olchin
Stanley's Gig Leila
Running Mates Meg Gable Đề cử - Giải Quả cầu vàng
2001 Yellow Bird Aurora Beavis Phim ngắn – cũng là đạo diễn
Festival in Cannes chính mình Vai nhỏ
2002 Mid-Century Blue/Mother
Changing Hearts Betty Miller
The Rules of Attraction Mrs. Eve Denton
Man of Faith Mae West
2003 Blind Horizon Ms. K
2004 Last Goodbye Sean Winston
El Padrino Atty. Gen. Navarro
Jennifer's Shadow Mary Ellen Cassi
2005 Ghosts Never Sleep Kathleen Dolan
2006 Cut Off Marilyn Burton
Love Hollywood Style God
Rain Isabel Hudson
2007 Cougar Club Edith Birnbaum
Say It in Russian Jacqueline de Rossy
The Gene Generation Josephine Hayden
2008 Flick Trung úy Annie McKenzie
La Rabbia Madre
2009 Dr. Fugazzi thám tử Rowland
Midnight Bayou Odette
Caroline & The Magic Stone Filomena
The Bait (Balladyna) Dr Ash Hoa Kỳ-Ba Lan cùng sản xuất

Các vai khách mời[sửa | sửa mã nguồn]

Faye Dunaway & Mirosław Baka, trong phim Balladyna của đạo diễn Dariusz Zawiślak
  • Grey's Anatomy (2009)
  • CSI: Crime Scene Investigation "Kiss-Kiss, Bye-Bye" 26.1. 2006
  • Alias "The Abduction" (2002); "A Higher Echelon" (2003); "The Getaway" (2003), vai Ariana Kane
  • Road to Avonlea Mùa 6, Phần 76 "What a Tangled Web We Weave" (1995)
  • Columbo: It's All in the Game (1993), vai Lauren Staton

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Faye Dunaway biography. Phim Reference.com.
  2. ^ Faye Dunaway. Yahoo Movies.
  3. ^ Office of Greek Life.Đại học bang Florida.
  4. ^ “Dunaway's Son Adopted, Says Ex”. Contactmusic.com. 11 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ Sager, Mike (1 tháng 8 năm 1999). “What I've Learned: Faye Dunaway”. Esquire. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]