Hilary Swank
| Hilary Swank | |
|---|---|
Swank năm 2009 |
|
| Tên sinh | Hilary Ann Swank |
| Sinh | 30 tháng 7, 1974 Lincoln, Nebraska, Hoa Kỳ |
| Nghề nghiệp | diễn viên, chủ nhiệm phim |
| Hoạt động | 1990–tới nay |
| Hôn nhân | Chad Lowe (1997–2006) |
Hilary Ann Swank (sinh ngày 30 tháng 7 năm 1974) là một nữ diễn viên điện ảnh người Mỹ. Sự nghiệp diễn xuất phim ở Hollywood của cô bắt đầu bằng một vai nhỏ trong phim Buffy the Vampire Slayer (1992) rồi một vai lớn trong phim The Next Karate Kid (1994), nơi cô đóng vai Julie Pierce, người phụ nữ đầu tiên được sensei (thầy) Keisuke Miyagi che chở.
Cô được biết đến nhờ thành tích đoạt 2 Giải Oscar: lần đầu trong vai Brandon Teena, một transgender man (FTM) (phụ nữ chuyển phái tính thành nam giới) trong phim Boys Don't Cry (1999), và vai nữ võ sĩ quyền Anh Maggie Fitzgerald trong phim Million Dollar Baby (2004).
Mục lục |
Cuộc đời [sửa]
Swank sinh tại thành phố Lincoln, Nebraska,[1], là con gái của Judy (nhũ danh Clough), làm nghề thư ký và vũ nữ, và Stephen Swank, từng là sĩ quan trong "Lực lượng phòng không quốc gia" (Air National Guard) rồi sau đó làm nghề đi chào hàng.[2] Cô có một anh (em trai) tên Dan. Nhiều người trong gia tộc của cô tới từ Ringgold County, Iowa.[3] Swank bắt đầu từ chỗ thấp kém như một đứa trẻ lớn lên từ một trailer park (khu dành cho các xe moóc cắm trại) gần hồ Samish ở Bellingham, tiểu bang Washington,[4] từ khi cô 6 tuổi,[1] sau khi đã cư ngụ ở Spokane, tiểu bang Washington. Swank tự mô tả thời thơ ấu của mình như một "outsider" (người bên lề xã hội), luôn cảm thấy mình chỉ "thuộc về một nhân vật tiểu thuyết (khi đọc truyện), hoặc nhân vật trong phim (khi xem phim)", và do đó đã gợi hứng cho cô trở thành một diễn viên sau này.[5]
Khi Swank lên 9 tuổi, cô đóng kịch lần đầu trong vở The Jungle Book. Cô bắt đầu diễn kịch ở nhà trường và cộng đồng, trong đó có "đoàn kịch Bellingham" (Bellingham Theatre Guild). Cô học trường Trung học Sehome[6] ở Bellingham cho tới năm 16 tuổi. Swank cũng tham gia đua tranh trong các Thế vận hội Thanh thiếu niên (Junior Olympics) và tranh giải vô địch bơi lội tiểu bang Washington; và được xếp hạng 5 trong môn thể dục đa năng của tiểu bang[1] (điều này có lợi cho cô khi đóng phim The Next Karate Kid (1994) các năm sau đó).
Cha mẹ Swank ly thân khi cô 13 tuổi,[1] mẹ cô ủng hộ nguyện vọng trở thành diễn viên của con gái, đã chuyển chỗ ở tới Los Angeles, và họ sống trong chiếc xe hơi của mình, cho tới khi người mẹ dành giụm đủ tiền để thuê 1 căn hộ.[4] Swank đã mô tả mẹ mình như nguồn cảm hứng cho sự nghiệp diễn viên và cuộc sống của cô.[7] Ở California, Swank ghi tên học Trường Trung học South Pasadena (sau này cô bỏ trường)[8] và bắt đầu nghề diễn viên chuyên nghiệp. Cô giúp mẹ trả tiền thuê nhà bằng số tiền cô kiếm được khi xuất hiện trên các chương trình truyền hình như Evening Shade và Growing Pains.
Sự nghiệp [sửa]
Năm 1994 Swank đóng phim The Next Karate Kid với Pat Morita. Đây là phim thứ 4 và là phim chót của bộ phim Karate Kid.
Tháng 9 năm 1997, Swank thủ vai người mẹ đơn độc Carly Reynolds trong phim Beverly Hills, 90210. Ban đầu, cô được hứa đó sẽ là vai diễn kéo dài 2 năm, nhưng bị đình chỉ sau 16 tập vào tháng 1 năm 1998. Sau này Swank nói cô bị choáng váng khi bị cắt vai diễn, và nghĩ rằng "Nếu mình không đủ sức diễn cho phim 90210, thì mình cũng chẳng đủ khả năng cho bất cứ phim nào."
Tuy nhiên, việc sa thải này lại là một đột phá may mắn cho Swank, giải thoát cho cô để đi thử giọng cho vai Brandon Teena trong phim Boys Don't Cry. Swank giảm độ béo mập 7% để chuẩn bị cho vai diễn này.[9] Nhiều nhà phê bình hoan nghênh cô như nữ diễn viên xuất sắc nhất năm 1999. Diễn xuất của Swank cuối cùng đã làm cho cô đoạt được Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất và Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Rồi sau đó cô lại đoạt 2 giải này lần nữa khi diễn vai nữ võ sĩ quyền Anh trong phim đoạt giải Oscar là phim Million Dollar Baby năm 2004 của Clint Eastwood, vai diễn mà cô phải luyện tập trên võ đài và có được 19 pounds cơ bắp.[9]
Thành công của Swank có nghĩa là cô đã gia nhập hàng ngũ của Vivien Leigh, Helen Hayes, Sally Field và Luise Rainer như các nữ diễn viên chỉ được đề cử cho giải Oscar 2 lần và đều đoạt cả hai. Cô là nữ diễn viên trẻ thứ ba đoạt 2 giải Oscar cho nữ diễn viên xuất sắc nhất (sau Rainer và Jodie Foster).
Sau khi đoạt “giải Oscar” lần thứ hai, cô nói : "Tôi không biết mình đã làm được điều gì trên đời này để xứng đáng với vinh dự này. Tôi chỉ là một cô gái từ "khu dành cho các xe moóc cắm trại" đã có một ước mơ." Swank đã chỉ kiếm được 75$ mỗi ngày khi đóng phim Boys Don't Cry, với số tiền tổng cộng là 3.000$.[1][10][11] Số tiền cô kiếm được là quá thấp (theo một giai thoại trong 60 Minutes) đến nỗi không đủ tiêu chuẩn cho bảo hiểm sức khỏe.
Đầu năm 2006, Swank ký một hợp đồng 3 năm làm phát ngôn viên cho hãng Guerlain (một hãng sản xuất nước hoa cho phụ nữ).[12] Năm 2007, Swank đóng vai chính và làm chủ nhiệm phim[13] Freedom Writers, một phim về đời thực của 1 giáo viên đã truyền cảm hứng cho một lớp trường trung học tại California. Nhiều người xem cho rằng diễn xuất của Swank có ấn tượng rất tốt, với một nhà phê bình nhận xét rằng cô "đem lại sự tín nhiệm" cho vai diễn.[14] Swank đóng vai chính trong phim The Reaping, một phim kinh dị, công chiếu ngày 5.4.2007, trong đó cô đóng vai một người vạch trần các hiện tượng tôn giáo. Swank đã thuyết phục các chủ nhiệm di chuyển cảnh dàn dựng phim từ New England tới Deep South, và phim được quay ở Baton Rouge,Louisiana khi trận bão Katrina tràn vào đây.[15] Swank cũng xuất hiện trong một phim hài lãng mạn P.S. I Love You cùng với Gerard Butler, một nam diễn viên mà cô rất ca ngợi.[16] Phim này được công chiếu vào cuối năm 2007.[15]
Swank được nhận một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood ngày 8.1. 2007. Ngôi sao của nàng là ngôi sao thứ 2.325 được thưởng.[17][18]
Tạp chí Variety online viết trong tháng 2 năm 2008, rằng Swank sẽ đóng vai Amelia Earhart, và là đồng chủ nhiệm phim mang tên Amelia.[19] Việc quay phim sẽ diễn ra trong mùa hè năm 2008 tại một số địa điểm quốc tế. Swank cũng được gán cho sẽ đóng vai chính trong bản phim làm lại Intimate Strangers của Hollywood.[1]
Đời tư [sửa]
Swank đã từng nói rằng mình là "một diễn viên, chứ không phải một người nổi tiếng" và đã tự mô tả mình là một người ru rú ở nhà."[15] Swank tự coi mình là một người duy linh, dù không là thành viên của một tôn giáo có tổ chức[20]. Cô từng nói mình "thiên về điền kinh và yêu thể thao."[13]
Swank bày tỏ các vấn đề sức khỏe tiềm tàng, trong đó có mức thủy ngân trong người cao, qua một số việc chuẩn bị cho các vai diễn của mình, trong đó có việc tăng và giảm thể trọng khi đóng phim Boys Don't Cry và The Black Dahlia. Cô nói rằng mình sẽ "làm những gì cần thiết để vai diễn đáng tin cậy và để làm việc"."[9]
Swank kết hôn với nam diễn viên Chad Lowe ngày 28.9.1997. Hai người gặp nhau năm 1992, khi quay phim Quiet Days in Hollywood, một phim video trực tiếp.[1] Swank cảm thấy xấu hổ vì quên cảm ơn Lowe khi nhận phát biểu sau khi nhận giải Oscar lần đầu, năm 2000. Vào lúc đoạt giải Oscar lần thứ hai, năm 2005, Lowe là người đầu tiên mà cô cám ơn. Tuy nhiên, tháng giêng năm 2006, đôi vợ chồng đã ly thân. Trong các cuộc phỏng vấn sau đó, Swank bày tỏ hy vọng là họ sẽ giải hòa, nhưng tháng 5 năm 2006, họ loan báo là sẽ ly dị.[21] Tháng 12 năm 2006, Swank xác nhận mình đã hẹn hò với John Campisi, người đại lý của mình.[22]
Phim mục [sửa]
| Năm | Phim/Loạt phim truyền hình | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1990 | ABC TGIF | Danielle | TV series |
| 1991 | Evening Shade | Aimee #1 (1991-1992) | TV series |
| Harry and the Hendersons | Guest star | TV series | |
| Growing Pains | Sasha Serotsky (1991-1992) | TV series | |
| 1992 | Camp Wilder | Danielle | TV series |
| Buffy the Vampire Slayer | Kimberly Hannah | ||
| 1994 | The Next Karate Kid | Julie Pierce | |
| Cries Unheard: The Donna Yaklich Story | Patty | TV movie | |
| 1996 | Sometimes They Come Back... Again | Michelle Porter | |
| Terror in the Family | Deena Martin | TV movie | |
| Kounterfeit | Colleen | ||
| 1997 | Quiet Days in Hollywood | Lolita | |
| The Sleepwalker Killing | Lauren Schall | Lifetime TV Movie | |
| Leaving L.A. | Tiffany Roebuck | TV series | |
| Dying to Belong | Lisa Connors | Lifetime TV Movie | |
| Beverly Hills, 90210 | Carly Reynolds (1997-1998) | TV series | |
| 1998 | Heartwood | Sylvia Orsini | |
| 1999 | Boys Don't Cry | Brandon Teena | Đoạt Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, Giải SEFCA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất |
| 2000 | The Gift | Valerie Barksdale | |
| Scary Movie | Girl in car | ||
| The Audition | Phim ngắn | ||
| 2001 | The Affair of the Necklace | Jeanne St. Rémy de Valois | |
| 2002 | The Space Between | Phim ngắn | |
| Insomnia | Detective Ellie Burr | ||
| 2003 | 11:14 | Buzzy | cũng làm chủ nhiệm phim |
| The Core | Major Rebecca Childs | ||
| 2004 | Million Dollar Baby | Maggie Fitzgerald | Đoạt Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất |
| Red Dust | Sarah Barcant | ||
| Iron Jawed Angels | Alice Paul | TV movie | |
| 2006 | The Black Dahlia | Madeline Linscott | |
| 2007 | Freedom Writers | Erin Gruwell | cũng làm chủ nhiệm phim |
| The Reaping | Professor Katherine Winter | ||
| P. S. I Love You | Holly Kennedy | ||
| 2008 | Birds of America | Laura | |
| 2009 | Amelia | Amelia Earhart | hậu sản xuất |
| Betty Anne Waters | Betty Anne Waters | quay phim |
Giải thưởng [sửa]
-
- Đoạt giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất : 2004 - phim Million Dollar Baby
- Đoạt giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất : 1999 - phim Boys Don't Cry
-
- Đoạt giải của Nghiệp đoàn diễn viên màn ảnh cho nữ diễn viên đóng vai chính xuất sắc : 2004 - phim Million Dollar Baby
- Đề cử: 2005 - Toàn bộ các vai diễn xuất sắc trong một phim - phim Million Dollar Baby
- Đề cử: 2005 - Nữ diễn viên xuất sắc trong phim truyền hình hoặc Miniseries - phim Iron Jawed Angels
- Đề cử: 2000 - Nữ diễn viên đóng vai chính xuất sắc - phim Boys Don't Cry
-
- Đoạt giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất : 2005 - phim Million Dollar Baby
- Đề cử: 2005 - Nữ diễn viên xuất sắc trong phim truyền hình hoặc Mini-Series - phim Iron Jawed Angels
- Đoạt giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất : 2000 - phim Boys Don't Cry
-
- Đoạt giải cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất : 2000 - phim Boys Don't Cry
-
- 2005: Đề cử: giải MTV Movie - Vai nữ xuất sắc nhất, phim Million Dollar Baby
- 2000: Đề cử: giải MTV Movie - Best Kiss - Boys Don't Cry
- 2000: Đề cử: giải MTV Movie - Vai nữ xuất sắc nhất, phim Boys Don't Cry
-
- Đề cử: 2001 - Giải BAFTA cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, phim Boys Don't Cry
| Giải thưởng và thành tích | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: Gwyneth Paltrow phim Shakespeare in Love |
Giải Oscar cho nữ diễn viên xuất sắc nhất 1999 phim Boys Don't Cry |
Kế nhiệm: Julia Roberts phim Erin Brockovich |
| Tiền nhiệm: Charlize Theron phim Monster |
Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất 2004 phim Million Dollar Baby |
Kế nhiệm: Reese Witherspoon phim Walk the Line |
| Tiền vị: Cate Blanchett phim Elizabeth |
Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất phim Boys Don't Cry 2000 |
Kế vị Julia Roberts phim Erin Brockovich |
| Tiền vị: Charlize Theron phim Monster |
Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim chính kịch xuất sắc nhất phim Million Dollar Baby 2005 |
Kế vị Felicity Huffman phim Transamerica |
| Tiền nhiệm: Cameron Diaz phim There's Something About Mary |
Giải của Hội phê bình phim New York cho nữ diễn viên xuất sắc nhất 1999 phim Boys Don't Cry |
Kế nhiệm: Laura Linney phim You Can Count On Me |
Tham khảo [sửa]
- ^ a b c d e f Dawson, Angela (2007-01-02). “The write stuff”. The Detroit News Online. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2007.
- ^ Hilary Swank Biography (1974-)
- ^ http://coolice.legis.state.ia.us/Cool-ICE/default.asp?Category=BillInfo&Service=Billbook&ga=81&hbill=SR16
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênSwank8 - ^ “HILARY AND HUNKY PATRICK PICTURE PERFECT AT PREMIERE”. Hello! Magazine. 2007-01-05. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2007.
- ^ Tiscali UK (2006). “Hilary Swank Biography”. tiscali.film & tv web site. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2006. Biography spreads across 9 web pages. High School information is on page 2.
- ^ “Hilary Swank tells all to Extra”. United Press International. 2007-01-03. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2007.
- ^ Slotek, Jim (2007-01-04). “Swank’s life lessons”. Calgary Sun. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2007.
- ^ a b c “SWANK RISKS HEALTH FOR ROLES”. PR Inside. 2006-12-20. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2006.
- ^ “Jamie Bell's life story put on screen”. The Guardian. 17 tháng 7 năm 2001.
- ^ Arc Lavine (6 tháng 3 năm 2005). “Prize fight”. Sunday Tribune.
- ^ “Hillary Swank's new sweet smelling deal”. ABC. 28 tháng 2 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2006.
- ^ a b Westbrook, Bruce (2007-01-05). “Like her Freedom heroine, Hilary Swank loves her job”. Houston Chronicle. Đã bỏ qua tham số không rõ
|url One of Hillary's acting coaches was that of David Adie from Vancouver, BC Canada, he says the reason she got into acting was to overcome any ostacle and have more self confidence to pursue this area of acting.=(trợ giúp); - ^ Sanford, James (2007-01-05). “Swank brings credibility to `Freedom Writers'”. Kalamazoo Gazzette. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2007.
- ^ a b c Hart, Hugh (1 tháng 4 năm 2007). “Real scare for cast of 'Reaping'”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2007.
- ^ Hilary Swank: Light and Shade, interview with stv.tv, tháng 12 năm 2007
- ^ “Hilary Swank to get star on Hollywood Walk of Fame”. English.eastday.com. 2007-01-08. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
- ^ Associated Press (2007-01-08). “Hilary Swank gets star on Hollywood Walk of Fame”. The Mercury News. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007.
- ^ Variety:Amelia
- ^ Hilary-Swank-Interview, Reaping Movie truy cập 05 tháng 9 năm 2008
- ^ “Hilary Swank says "we're still married"”. MSN BC. 17 tháng 1 năm 2006.
- ^ “Swank is dating her agent”. Contact Music. 2006-12-20. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2006.
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Hilary Swank. |
|
|||||
|
|||||