Cher
| Cher | |
|---|---|
Cher ở buổi ra mắt bộ phim Burlesque tại London năm 2010. |
|
| Nghệ danh | Cher |
| Sinh | 20 tháng 5 năm 1946 |
| Nguyên quán | |
| Nghề nghiệp | ca sĩ, nhạc sĩ, nhà thu âm, nhà sản xuất phim, diễn viên |
| Thể loại | Pop, Disco, Rock, Dance |
| Năm | 1964 đến nay |
| Hãng đĩa | Warner Bros.(2005-nay) Atlantic Recording Corporation EMI Music Corporation of America Casablanca Records Columbia Geffen Isis Productions WEA |
| Website | cher.com |
Cher tên thật là Cherilyn Sarkisian, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946 tại California, Mỹ, là một diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ và nhà hoạt động giải trí. Trong vòng hơn 40 năm sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực từ âm nhạc đến điện ảnh, bà đã giành 1 giải Oscar, 1 giải Grammy, 1 giải Emmy và 3 giải Quả Cầu Vàng.
Mục lục |
Tiểu sử [sửa]
Cher sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946 tại El Centro, California trong một gia đình nghèo, không cha. Mẹ của cô kiếm sống bằng cách hát biểu diễn tại những rạp hát hay đóng những vai diễn nhỏ. Với Cher, thật hạnh phúc khi xem mẹ biểu diễn trên sân khấu và sống một cuộc sống thanh bình trong căn hộ của gia đình.
Năm 16 tuổi, do chứng đọc khó nên Cher phải rời trường học, cô bắt đầu đến Los Angeles để học lớp diễn xuất. Với Cher, đây là một bước khởi đầu mới và bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới. Cô không mong chờ điều gì sẽ tới mà chỉ biết đó sẽ là sự thay đổi. Năm 17 tuổi, Cher có lẽ sẽ không bao giờ quên được thời điểm mà cô gặp một người đàn ông có tên là Sonny. Hai người gặp nhau ở một quá cafe nơi những người nổi tiếng thường hay tới. Vào lúc đó, Cher là một cô gái thất nghiệp và tuyệt vọng trong khi Sonny lại là một người nổi tiếng với nhiều lần xuất hiện trên truyền hình. Hai người yêu nhau và Cher dọn đến ở với Sonny.
Tuy dọn đến ở cùng, nhưng đầu tiên hai người chỉ chung căn hộ chứ không chung phòng. Trong khi Sonny đi làm việc thì Cher ở nhà dọn dẹp và trông coi nhà cửa. Cuộc sống cứ thế cho đến một ngày mẹ của Cher phát hiện ra và bà đã cố gắng chia rẽ hai người, nhưng bà đã thất bại, hai người đã lên tiếng thừa nhận tình yêu của mình. 2 người hát chung với nhau "I've got you babe" "The Beat Goes On" và "Baby Don't Go". Đây là những đĩa gặt hái được thành công vang dội và đây cũng là cơ sở đầu tiên đưa Cher lên hàng ngôi sao.
Cher luôn đổi mới và chìm ngập trong thời trang, có thể là mặc đồ rất đẹp nhưng đôi khi cũng rất xấu. Và ít lâu sau, gia đình hạnh phúc của Cher cũng tan vỡ. Cher nói với cô con gái Chastity sinh năm 1969 rằng gia đình tan vỡ chính do ánh đèn sân khấu và cuộc sống gia đình không thể nào bền chặt được.
Sau đó ít lâu, Cher kết hôn cùng Allman nhưng cuộc sống của cô cũng không hạnh phúc khi Alman rơi vào con đường nghiện ngập và cuộc hôn nhân cũng nhanh chóng bị phá vỡ. Ở tuổi 33, trải qua những cuộc hôn nhân tan vỡ, Cher cũng có nguy cơ với sự nghiệp ca hát có vẻ như đi xuống của mình.
Cher tham gia một số bộ phim và đã đạt được những thành công lớn như bộ phim Moonstruck đã được đề cử cho giải Oscar và cô giành giải "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất". Ở tuổi 41, Cher trở thành một ngôi sao sáng của điện ảnh Hollywood. Tiếp theo đó là hàng loạt các thành công cũng như tai tiếng liên tiếp đến với Cher, nhưng dù sao, bà vẫn đứng trên bục vinh quang cùng với nhiều album nổi tiếng, những vai diễn xuất sắc trong sự nghiệp điện ảnh của mình.
Năm 2010, Cher vào vai chủ một câu lạc bộ trong bộ phim ca nhạc Burlesque cùng Christina Aguilera.[1] Ca khúc You Haven't Seen The Last of Me do Cher thể hiện đã đoạt giải Quả Cầu Vàng cho hạng mục "Bài hát trong phim xuất sắc nhất".
Các album [sửa]
- All I Really Want to Do (1965)
- The Sony Side of Cher (1966)
- Cher (1966)
- With Love, Cher (1967)
- Backstage (1968)
- 3614 Jackson Highway (1969)
- Gypsys, Tramps & Thieves (1971)
- Foxy Lady (1972)
- Bittersweet White Light (1972)
- Half-Breed (1973)
- Dark Lady (1974)
- Star (1975)
- I'd Rather Believe in You (1976)
- Cherished (1977)
- Take Me Home (1979)
- Prisoner (1979)
- Black Rose (1980)
- I Paralyze (1982)
- Cher (1987)
- Heart of Stone (1989)
- Love Hurts (1991)
- It's a Man World (1995)
- Believe (1998)
- not.com.mercial (2000)
- Living Proof (2001)
Danh sách các phim đã đóng [sửa]
- Chastity (1969)
- Come Back to the Five and Dime, Jimmy Dean, Jimmy Dean (1982)
- Silkwood (1983)
- Mask (1985)
- Suspect (1987)
- The Witches of Eastwick (1987)
- Moonstruck (1988)
- Mermaids (1990)
- The Player (1992)
- Pret-a-Porter (1994)
- Faithful (1996)
- Tea With Mussolini (1999)
- Stuck on You (2003)
- Burlesque (2010)
Xem thêm [sửa]
Chú thích [sửa]
| Một số giải thưởng lớn | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: Jean Stapleton trong All in the Family |
Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất 1974 trong The Sonny and Cher Comedy Hour |
Kế nhiệm: Valerie Harper trong Rhoda |
| Tiền nhiệm: Jessica Lange trong Tootsie |
Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên điện ảnh phụ xuất sắc nhất 1984 trong Silkwood |
Kế nhiệm: Peggy Ashcroft trong A Passage to India |
| Tiền nhiệm: Marlee Matlin trong Children of a Lesser God |
Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất 1987 trong Moonstruck |
Kế nhiệm: Jodie Foster trong The Accused |
| Tiền nhiệm: Sissy Spacek trong Crimes of the Heart |
Giải Quả cầu vàng cho nữ diễn viên phim ca nhạc hoặc phim hài xuất sắc nhất 1988 trong Moonstruck |
Kế nhiệm: Melanie Griffith trong Working Girl |
| Tiền nhiệm: Madonna với Ray of Light |
Giải Grammy cho Thu âm nhạc dance xuất sắc nhất 1999 với Believe |
Kế nhiệm: Baha Men với Who Let the Dogs Out? |
|
|||||
|
|||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Cher. |
- Sơ khai âm nhạc
- Ca sĩ Mỹ
- Diva
- Ca sĩ nhạc pop
- Nhạc sĩ Mỹ
- Người đoạt giải Grammy
- Oscar vai nữ chính
- Giải Quả cầu vàng cho vai nữ chính - Phim ca nhạc hoặc phim hài
- Giải Quả cầu vàng cho vai nữ phụ
- Đại lộ Danh vọng Hollywood
- Người giữ kỷ lục Guinness
- Người Mỹ gốc Armeni
- Người Armeni
- Sinh 1946
- Diễn viên điện ảnh Mỹ
- Nhân vật còn sống