Whitney Houston

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Whitney Houston
Flickr Whitney Houston performing on GMA 2009 4.jpg
Whitney Houston biểu diễn trên chương trình Good Morning America tại Central Park vào 1 tháng 9, 2009
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Whitney Elizabeth Houston
Sinh 9 tháng 8, 1963(1963-08-09)
Newark, New Jersey, U.S.
Mất 11 tháng 2, 2012 (48 tuổi)
Beverly Hills, California, U.S.
Nghề nghiệp Ca sĩ, Diễn viên, người mẫu, nhà sản xuất phim, nhà sản xuất âm nhạc, nhạc sĩ
Thể loại Pop, R&B, soul, dance, gospel
Nhạc cụ Giọng hát, piano
Năm 1977–2012
Hãng đĩa Arista, RCA
Hợp tác Cissy Houston, Dionne Warwick, Aretha Franklin, Jermaine Jackson, Mariah Carey, Enrique Iglesias, Bobby Brown
Website Website chính thức

Whitney Elizabeth Houston (9 tháng 8 năm 196311 tháng 2 năm 2012) là nghệ sĩ thu âm, diễn viên, người mẫu và nhà sản xuất người Mỹ gốc Phi. Trong năm 2009, sách kỷ lục Guinness đã phong tặng cô giải thưởng "Nghệ sĩ nữ giành được nhiều giải thưởng nhất mọi thời đại".[1] Cô đã giành 2 giải Emmy, 7 giải Grammy,31 Billboard Music Awards, và 22 giải thưởng âm nhạc Mỹ, trong tổng số trên 600 giải thưởng giành được trong sự nghiệp của mình. Cô là một trong nữ ca sĩ thành công và có sức ảnh hưởng nhất mọi thời đại, khi bán được hơn 200 triệu album trên toàn thế giới.[2][3] Thể loại nhạc chủ yếu của cô là các bản ballad trữ tình và nhạc Pop-Dance sôi động nhờ vào chất giọng truyền cảm mà vô cùng khỏe khoắn và được biết đến với danh hiệu The Voice[4][5]. Sinh ra trong gia đình có truyền thống ca hát, Whitney đã bắt đầu cầm mic từ lúc mới 11 tuổi. Sau những ngày tháng hát cùng mẹ ở các câu lạc bộ đêm tại New York, Whitney đã được Arista Records phát hiện và mang về công ty. Kể từ đó đến nay, cô đã tung ra 7 studio album, 3 soundtrack album và tất cả đều được chứng nhận Vàng, Kim Cương hoặc Bạch Kim.[6]

Whitney Houston là nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất giành được 7 đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100 liên tiếp (bao gồm Saving All My Love for You, How Will I Know, Greatest Love of All, I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me), Didn't We Almost Have It All, So Emotional và Where Do Broken Hearts Go). Chỉ xếp sau Elton John, Whitney Houston là nghệ sỹ nữ duy nhất có được 2 album đứng đầu Top Billboard 200 cuối năm (trước đây là Top Pop Album) của tạp chí Billboard. Album đầu tay cùng tên với cô là album đầu tay bán chạy nhất mọi thời đại bởi một nữ nghệ sĩ. Album được tạp chí Rolling Stone trao danh hiệu Album xuất sắc nhất năm 1986 và xếp vị trí thứ 254 trong danh sách 500 Album xuất sắc nhất mọi thời đại.[7] Album thứ hai, Whitney phát hành năm 1987, trở thành album đầu tiên của một nghệ sỹ nữ ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200.[7] Cùng với Michael JacksonMadonna, Whitney Houston là một trong những nghệ sĩ Mỹ đầu tiên thành công trên MTV.[8][9].

Whitney bắt đầu lấn sân sang lĩnh vực điện ảnh với bộ phim The Bodyguard (Vệ sĩ) phát hành năm 1992. Album soundtrack của bộ phim đã giành Giải Grammy cho Album của năm. Đĩa đơn chủ đạo, "I Will Always Love You", đã trở thành đĩa đơn bán chạy nhất bởi một nữ nghệ sĩ trong lịch sử âm nhạc.[10]. Với album này, Whitney đã trở thành người đầu tiên có được doanh thu hơn một triệu bản album chỉ trong vòng một tuần trong Nielsen SoundScan.[7] Sau The Bodyguard, cô tiếp tục tham gia một số bộ phim, như: Waiting to Exhale (1995) and The Preacher's Wife (1996). Soundtrack của bộ phim The Preacher's Wife đã trở thành album gospel bán chạy nhất mọi thời đại.[11]

Trong thập niên 2000, không thấy âm nhạc, mà cái tên Whitney Houston lại xuất hiện dày đặc trên các mặt báo với các vấn đề như việc lạm dụng các chất gây nghiện,...Những chất này đã làm thay đổi sự nghiệp và giọng hát của cô. Cùng với đó, doanh thu của các album của cô cũng sụt giản rõ rệt, album Just Whitney... (2002) là một bằng chứng rõ rệt. Tuy nhiên, cô đã vượt qua những khó khăn và trở lại với khán giả bằng những sản phẩm âm nhạc chất lượng, bằng chứng là album I Look to You (2009) đã đứng đầu bảng xếp hạng album của nhiều quốc gia trên thế giới.

Ngày 11 tháng 2 năm 2012, Whitney được tìm thấy đã chết trong phòng tắm của khách sạn Beverly Hilton, Beverly Hills, California, gây ra biết bao thương xót cho gia đình, bạn bè và người hâm mộ.[12] Tin tức về cái chết của cô cũng trùng hợp với lễ trao giải Grammy năm 2012, khi mà cô chết trước lễ trao giải này đúng 1 ngày.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Whitney Houston sinh ra tại Newark, New Jersey trong gia đình có bố là John và mẹ là Cissy Houston. Ở tuổi 11, Houston đã bắt đầu tập tành hát hò theo chân của mẹ, bà ngoại và người cậu của mình. Cô bé Houston từng tự tin trình diễn solo trong dàn nhạc của nhà thờ cho đến một ngày tài năng của cô được khám phá bởi một nhà sản xuất có tên Michael Zager. Ông này ngay lập tức mời cô ký một hợp đồng nhưng cô từ chối mà tiếp tục hát đệm cho mẹ của mình.

Đầu những năm 1980, cô bắt đầu xuất hiện trước công chúng trong vai trò là một người mẫu thời trang cho rất nhiều chương trình quảng cáo của các tạp chí danh tiếng trong đó có Seventeen. Trong những năm làm người mẫu, cô vẫn tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình khi hợp tác với các nhà sản xuất như Michael Bienhorn, Bill Laswell và Martin Bisi.

Kể từ lần đầu tiên được mời ký hợp đồng, Houston từng được chiêu dụ nhiều lần (từ Michael Zager năm 198 đến Elektra Records năm 1981) và vào năm 1983, một đại diện của hãng A&R đến từ Arista chứng kiến Houston biểu diễn với mẹ trong một hộp đêm ở thành phố New York, ông liền thuyết phục Houston về đầu quân cho hãng của ông. Lần đó, Houston đã đồng ý ký. Album đầu tay của cô phải mất đến 2 năm mới hoàn thành.

Thành công với album đầu tay[sửa | sửa mã nguồn]

Album đầu tay được đặt theo tên của cô, Whitney Houston phát hành năm 1985, ban đầu chỉ nhận được sự quan tâm hời hợt từ phía khán giả cho đến mùa hè năm đó, khi ca khúc "You Give Good Love" nằm trong top 5 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100(#3)album mới thật sự trở thành một hiện tượng trong giới âm nhạc. Lúc đó, Whitney Houston leo lên đứng đầu các bảng xếp hạng album, và sản sinh ra các đĩa đơn "Saving All My Love for You", "How Will I Know" và "Greatest Love of All" đều ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Tổng cộng album bán được hơn 25 triệu bản, trong đó có 13 triệu bản album được tiêu thụ tại Mỹ. Cho đến nay, nó vẫn là album đầu tay bán chạy nhất của một nữ nghệ sĩ.[13] Năm 1986, Whitney Houston tổ chức tour lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên trong sự nghiệp với tên gọi The Greatest Love Tour. Cũng năm đó cô đã giành giải Grammy đầu tiên với danh hiệu "Giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất" dành cho "Saving All My Love for You"; hai giải thưởng âm nhạc Mỹ ở hạng mục "Video Soul/R&B được yêu thích nhất" ("Saving All My Love For You") và "Ca khúc Soul/R&B được yêu thích nhất" ("You Give Good Love"); một giải MTV Video Music Awards ở hạng mục "Video xuất sắc nhất của nữ nghệ sĩ" dành cho "How Will I Know" và 1 giải Emmy.[14] "All at Once" không được phát hành thành đĩa đơn nhưng tại Ý, nó đạt vị trí thứ 4, sau khi Whitney trình diễn bài hát tại San Remo Music Festival.Thành công của Whitney Houston đã mở đường cho các nghệ sĩ nữ Tngười Mỹ gốc Phi thành công trên kênh MTV sau này như: Janet JacksonAnita Baker.[15][16]

1987–1991: Whitney, I'm Your Baby Tonight;One Moment In Time và "The Star Spangled Banner"[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nhiều kỳ vọng, album thứ hai, Whitney được phát hành vào năm 1987, bao gồm hầu hết những ca khúc nhạc Pop giống như album tiền nhiệm của nó. Album được sản xuất bởi Masser, Kashif và Walden cũng như Jellybean Benitez, những người đã sản xuất các bài hát trong album đầu của cô. Điều này đã nhận được không ít những lời phàn nàn từ giới phê bình.[17] Tuy vậy, album vẫn đạt được thành công lớn về mặt thương mại. Whitney trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên trong lịch sử âm nhạc ra mắt tại số một trên bảng xếp hạng Billboard 200, và là nghệ sĩ đầu tiên có album đứng đầu ở cả Mỹ lẫn Anh. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "I Wanna Dance With Somebody (Who Loves Me)", trở thành một hit lớn trên toàn cầu, khi đạt vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 cũng như tại nhiều quốc gia khác như Úc, ĐứcVương quốc Anh. Ba đĩa đơn tiếp theo, "Didn't We Almost Have It All", "So Emotional", và "Where Do Broken Hearts Go" tất cả đều đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Hot 100, đem lại cho cô tổng số 7 quán quân liên tiếp, giúp cô phá vỡ kỷ lục trước đó được giữ bởi The BeatlesThe Bee Gees.[18][19] Whitney Houston đã trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên tạo ra được 4 đĩa đơn quán quân liên tiếp từ một album. Whitney đã được chứng nhận 9× Bạch kim bởi Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA), công nhận 9 triệu album đã được bán ra tại đây. Tính đến nay, album đã bán được 20 triệu bản.[20]

One Moment in Time" là một bài hát đã đoạt giải Emmy được Albert Hammond và John Bettis sáng tác, Narada Michael Walden sản xuất và được trình bày bởi ca sĩ nhạc pop và R&B người Mỹ Whitney Houston dành cho Thế vận hội Mùa hè 1988 và Paralympic mùa hè tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc. Đây là một bài hát bất hủ trong lịch sử thể thao, đứng top 10 trong các bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia và được đề cử một giải Grammy ở hạng mục "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất.Và đặc biệt những phút xuất thần của Whitney tại Grammy 1989 đã biến màn live trở thành "Ba màn trình diễn lịch sử tại Grammy"(#2 sau Micheal Jackson).

Album thứ 3 của cô, I'm Your Baby Tonight (1990), gồm những ca khúc hát và sản xuất chung với Babyface, Stevie Wonder, và Luther Vandross, chiếm vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ. Mặc dù không đạt được thành công về mặt thương mại như hai album trước nhưng nhạc phẩm này cũng bán được 8 triệu bản trên toàn thế giới. Một năm sau đó, Houston bắt tay vào thực hiện chuyến lưu diễn có tên gọi I'm Your Baby Tonight Tour mà tạp chí Rolling Stone bầu chọn là "Chuyến lưu diễn tồi tệ nhất của năm"[21] .

Những bản ballad phim trữ tình[sửa | sửa mã nguồn]

Một điểm đáng chú ý trong sự nghiệp của Houston đó là sự đóng góp của những ca khúc nhạc trong phim mà cô rất thành công. Không những ngay cả những bộ phim đó thể hiện sự xuất sắc trên thị trường điện ảnh mà chính những ca khúc nhạc trong phim cũng trở thành đề tài khen ngợi của các nhà phê bình cũng như khán giả. Bản nhạc trong The Bodyguard Soundtrack là một ví dụ, nó đã trở thành album nhạc phim bán chạy nhất mọi thời đại: hiện tại doanh số bán ra là 42 triệu bản trên toàn thế giới trong đó có 17 triệu bản tính riêng tại Mỹ. Album giành giải "Album của năm" và "Ghi âm của năm" tại giải thưởng Grammy. Nhạc phẩm thành công nhất trong album là "I Will Always Love You", đạt vị trí quán quân tại Mỹ trong 14 tuần liên tiếp (một kỷ lục tại Mỹ lúc bấy giờ) và tại Anh trong 10 tuần thực sự được công chúng yêu nhạc toàn thế giới đánh giá là một trong những bản tình ca bất diệt.I Will Always Love You xếp vị trí thứ 49 cho bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại,xếp thứ 27 cho bài hát R&B vĩ đại nhất mọi thời đại và xếp thứ 6 cho bản tình ca vĩ đại nhất mọi thời đại theo tạp chí Billboard. Hai ca khúc tiếp theo là "I'm Every Woman" và "I Have Nothing" đều nằm trong tốp 5 tại Mỹ. Tiếp theo thành công của bộ phim The Bodyguard, Houston thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới vào năm 1993, trong đó có một số buổi hòa nhạc đặc biệt tại châu Phi

Whitney Houston thu âm 3 ca khúc làm nhạc trong bộ phim Waiting to Exhale (đạt doanh thu 60 triệu USD) là "Exhale (Shoop Shoop)" (#1), "Count On Me" (#8) và "Why Does It Hurt So Bad" (#26). Bản soundtrack cho tác phẩm điện ảnh The Preacher's Wife trong đó có phần thu âm thể loại gospel đầu tiên của Houston bán được 2,5 triệu bản trên toàn nước Mỹ trong tháng 1 năm 2006. Đây là album nhạc gospel bán chạy nhất mọi thời đại.Album nhạc phim cũng đạt vị trí thứ nhất trên Billboard 200.Vào Grammy thứ 39 năm 1997 Album đã được để cử cho "Album của năm".Các ca khúc trong album như Exhale (Shoop Shoop) đã được đề cử cho "Trình diễn R&B xuất sắc nhất".Count On Me với Cece Winans được để cử cho "Hợp tác giọng Pop xuất nhất" và "Bài hát được viết cho nhạc phim hoặc nhạc kịch xuất sắc nhất".

The Preacher's Wife: Original Soundtrack Album" là album soundtrack của bộ phim cùng tên, phát hành vào ngày 26 tháng 11 năm 1996. Các bài hát trong album được thể hiện bởi Whitney Houston, người đóng vai chính trong bộ phim này. Đây là album nhạc gospel bán chạy nhất mọi thời đại, khi bán được 6 triệu bản trên toàn thế giới.Album đạt vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard 200 và thứ nhất trên bảng xếp hạng Top R&B Albums và Top Gospel Albums,cũng như được chứng nhận 3 đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA). Album phát hành 3 đĩa đơn: Đĩa đơn đầu tiên, "I Believe in You and Me" (cover lại của The Four Tops), trở thành 1 đĩa đơn nằm trong top 5 ở Mỹ và được đề cử giải Grammy ở hạng mục Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất, cũng như giải Album R&B xuất sắc nhất cho album.[6] Đĩa đơn thứ hai, ""Step by Step" cũng đạt được một số thành công nhất, khi nằm trong top 10 và 20 của nhiều quốc gia. Đĩa đơn cuối cùng, "My Heart Is Calling" trở thành đĩa đơn phát hành cuối cùng của một soundtrack.

My Love Is Your Love;Just Whitney...;One Wish:The Holiday Album và các album tổng hợp.[sửa | sửa mã nguồn]

My Love Is Your Love (1998), album studio thứ 4 của Houston, bao gồm nhiều ca khúc mới. Được thu âm và phối khí chỉ trong vòng 6 tuần, My Love Is Your Love "nhận" được nhiều lời chỉ trích nặng nề nhưng vẫn đạt được doanh số cao trên thị trường (12 triệu bản trên toàn thế giới trong đó có 5 triệu bản tính riêng tại thị trường Mỹ). Houston là một trong số những nhà sản xuất chính của album đậm chất R&Bhip-hop này, khác hoàn toàn so với những nhạc phẩm trước đây. Ca khúc đầu tiên, "When You Believe", hát chung với Mariah Carey được thu âm làm nhạc phim cho bộ phim hoạt hình Hoàng tử Ai Cập đứng trong danh sách top 15 và giành một giải thưởng của viện Hàn lâm. Bài hát cũng được đề cử cho "Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất" tại Grammy thứ 42.Các đĩa đơn khác như "It's Not Right But It's Okay","Heartbreak Hotel" và My Love Is Your Love" đã lọt vào top 5 của Billboard Hot 100.Album đã thắng một giải cho "Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất" bài "It's Not Right But It's Okay" và đề cử cho "Album R&B xuất sắc nhất","Hợp tác R&B xuất sắc nhất" bài "Heatbreak Hotel" tại Grammy thứ 41 và 42.

Tháng 12 năm 2002 Whitney Houston phát hành album studio thứ năm, Just Whitney. Album có sự hợp tác với chồng cô lúc bấy giờ, Bobby Brown cũng như một số ca sĩ khác như Missy Elliott. Mặc dù đạt vị trí #9 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 200 nhưng toàn bộ các đĩa đơn được phát hành từ album là "Whatchulookinat", "One of Those Days", "Try It on My Own" đều không thể lọt nổi vào tốp 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Tuy được cấp giấy chứng nhận album bạch kim nhưng Just Whitney vẫn là album studio bán chậm nhất trong sự nghiệp của diva Whitney. Chỉ sau hai năm từ khi album Whitney: The Greatest Hits nhưng Just Whitney đã "lọt" ra ngoài bảng xếp hạng 75 album của Anh quốc (#76). Whitney Houston chỉ phát hành một đĩa đơn duy nhất tại Anh là Whatchulookinat đạt vị trí #13 và chỉ có 2 tuần nằm trong tốp 40.

One Wish: The Holiday Album là album Giáng sinh duy nhất của ca sĩ nhạc pop và R&B người Mỹ Whitney Houston, phát hành năm 2003. Album phát hành một đĩa đơn "One Wish (for Christmas)", lọt vào top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary của Mỹ. Album đã trải qua sáu tuần trên bảng xếp hạng Billboard 200 và bán được 490.143 bản tính cho đến nay.Album cũng có một bản song ca với cô con gái Bobbi Kristina Houston là "The Little Drummer Boy". Album này cũng sử dụng lại 2 bài hát "Joy to the World" và "Who Would Imagine a King" từ album soundtrack của bộ phim The Preacher's Wife phát hành năm năm 1996.

Whitney: The Greatest Hits là album tổng hợp đầu tiên của ca sĩ nhạc pop và R&B người Mỹ Whitney Houston, phát hành năm 2000. Album bao gồm một đĩa với những bản ballad và một đĩa với các bài hát được remix lại cũng như một số bài hát mới. Màn thể hiện "The Star-Spangled Banner" tại Super Bowl XXV, và bài hát vận động cho Thế vận hội mùa hè 1988, "One Moment in Time" cũng được bao gồm trong album này. Album cũng đi kèm 1 DVD bao gồm các video âm nhạc của cô trong quá khứ, cũng như những màn biểu diễn trực tiếp và phỏng vấn. Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) đã chứng nhận 3 đĩa Bạch kim vào ngày 12 tháng 11 năm 2002, công nhận 1,5 triệu album đã được bán tại Mỹ. Tính đến nay, album đã bán được 10 triệu bản trên toàn thế giới.Tại Mỹ, bản sao được bán tại các cửa hàng Circuit City bao gồm 1/3 đĩa có chứa các bản hòa âm club mới. Whitney: The Unreleased Mixes là một phiên bản giới hạn bốn bản thu âm vinyl, có đầy đủ 8 bản club được lựa chọn được tìm thấy trên phát hành ở Mỹ. Năm 2006, nó được phát hành kỹ thật số và lại mang tên Dance Vault Mixes: Whitney Houston – The Unreleased Mixes (Collector's Edition).Trong tháng 1 năm 2011, album đã được tái phát hành ở Vương quốc Anh với danh sách bài hát giống như ở Mỹ, nhưng nó được đổi tên thành The Essential Whitney Houston.Ngoài việc thay đổi tiêu đề, việc phát hành lại cũng thay đổi ảnh bìa album. Tháng 2 năm 2012, sau cái chết của Whitney, album xuất hiện trở lại trên bảng xếp hạng Billboard 200 ở vị trí thứ 6 với 64.000 bản được bán ra.Tại Canada, album nhảy lên vị trí thứ 3 với 7.800 bản được bán ra.Ngày 29 Tháng 2, Whitney Houston đã trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên có 3 album nằm trong top 10 bảng xếp hạng Billboard 200 cùng một lúc ("Whitney: The Greatest Hits" ở vị trí thứ 2, "The Bodyguard" ở vị trí thứ 6 và "Whitney Houston" ở vị trí thứ 9).

Love, Whitney là album tổng hợp của ca sĩ nhạc pop và R&B người Mỹ Whitney Houston, phát hành năm 2011. Love, Whitney là một bộ sưu tập những bản ballad đã trở thành thương hiệu của cô trong những năm qua và bao gồm 9 bài hát nằm trong top 20 hit.

Những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc phiện và tình hình sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay trước khi cô cho ra mắt Whitney: The Greatest Hits hồi tháng 4 năm 2000, đội an ninh tại sân bay Hawaii đã phát hiện ra chất gây nghiện trong hành lý của Houston và Bobby Brown nhưng họ đã lên máy bay và bay mất trước khi cảnh sát kịp bắt giữ. Không có bản án nào được thi hành nhưng tin đồn về vụ việc này lan ra nhanh chóng. Lúc đó, Houston trở nên nổi tiếng với những đề tài nóng hổi liên quan đến vụ việc, cô thường xuyên phải hủy hết buổi hòa nhạc này đến buổi hòa nhạc khác. Sau đó khoảng vài tháng, Houston xuất hiện trước báo giới bàn luận về thuốc phiện và các chất gây nghiện nhưng cô bác bỏ hoàn toàn việc sử dụng cocaine. Thế nhưng đến tháng 3 năm 2004, cô đã không thể giữ được bí mật khi buộc phải nhập trung tâm cai nghiện. Một năm sau, Houston lại tiếp tục phải dành thời gian trong trung tâm phục hồi chức năng vì tác hại của ma túy.

Vụ kiện cha đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ không suôn sẻ giữa Whitney Houston và cha của cô, John Houston, bắt đầu vào năm 2002 khi công ty của John Houston kiện Whitney vì 100 triệu đôla - số tiền mà theo họ, họ phải vay để giúp đỡ sự nghiệp của Houston cũng như những câu chuyện thêu dệt xung quanh cuộc sống của nữ ca sĩ này[22]. Cả hai bố con đều xuất hiện trên truyền hình và chỉ trích lẫn nhau[23]. Sự việc chỉ tạm thời chấm dứt khi ông bố John Houston qua đời tháng 2 năm 2003.

Vấn đề về tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 1 năm 2007, tờ New York Post công bố "trong một bản báo cáo tài chính năm 2006, Houston gần như vuột mất buổi trình diễn trị giá 6 triệu đôla, 10 mẫu đất (khoảng 4 ha) tại hạt Morris vì khoản nợ hàng chục ngàn đôla tiền thuế". Bài báo sau đó cung cấp thêm nhiều thông tin chi tiết về việc Houston đã bán hàng trăm bộ cánh biểu diễn trên sân khấu tại một phiên đấu giá nhằm kiếm đủ số tiền để trả nợ. Tờ The Toronto Star thì cho biết ngày 4 tháng 1 năm 2007, đồ đạc được bán đấu giá để "che đậy những khoản phí chưa được chi trả"[24]. Còn hãng tin Reuters cũng công bố trong ngày hôm đó rằng Houston "bị buộc phải bán quần áo, nhạc cụ để trả nợ cho một cửa hàng quần áo" theo yêu cầu của tòa án cấp cao New Jersey[25] .

Houston mất quyền sở hữu khu đất ở Atlanta sau khi thế chấp hồi tháng 11 năm 2006. Cũng trong tháng đó, theo thông tin của Associated Press (AP), ngôi nhà của cô ở Mendham, New Jersey, lúc đó trị giá $5,6 triệu, cũng buộc phải bán vào tháng 1 năm 2007 vì số tiền thế chấp và thuế trị giá 1 triệu đôla chưa được bồi hoàn.

Cuộc sống gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Houston cưới ca sĩ nhạc R&B, Bobby Brown, năm 1992. Ngày 4 tháng 3 năm 1993, đôi uyên ương này vui mừng chào đón sự ra đời của cô con gái đầu lòng. Hai người đặt tên bé là Bobbi Kristina Houston Brown - một cái tên có cả họ tên của cha mẹ. Tháng 9 năm 2006, có tin đồn cho rằng cuộc hôn nhân của họ đang bên bờ vực thẳm, họ chuẩn bị ra tòa ly dị. Cuối cùng tin đồn cũng trở thành sự thật khi chính Houston là người nộp đơn lên tòa án, bắt đầu một chặng đường đầy khó khăn về mặt tinh thần. Theo đại diện của cô, Houston đã nộp đơn ly dị Brown vào ngày 8 tháng 9 năm 2006. Tuy nhiên, luật sư của Brown, Phaedra Parks, khẳng định rằng hành động trên hiện tại chỉ là ly thân chứ không thể kết luận là một bản thử nghiệm ly hôn để "chưng cầu ý dân". Trong hồ sơ ly hôn, Houston đòi quyền nuôi đứa con gái chung giữa hai người. Nhưng cuối cùng vào ngày 16 tháng 10 năm 2006, tòa án cũng chấp nhận đơn xin ly hôn của cô.Vào khoảng những năm 1997 - 2006 Bobby thường xuyên đánh Whitney và dụ dỗ cô vào con đường ma túy mặc dù cô vốn là gái ngoan của làng âm nhạc.

Houston được toàn quyền nuôi con. Ngày 24 tháng 4 năm 2007 là ngày chính thức cuộc hôn nhân của họ kết thúc. Ngày 26 tháng 4 năm 2007, Bobby Brown cũng đệ đơn lên tòa án cấp cao quận Cam nhằm chấm dứt hoàn toàn hôn nhân với Houston. Trong hồ sơ, anh khẳng định toàn bộ cuộc hôn nhân là một sự giả dối và anh hoàn toàn có khả năng chăm sóc con. Nhưng trên thực tế, Brown hiện đang là một người vô gia cư và trong tình trạng hoàn toàn suy thoái. Phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra vào tháng 6 năm 2007.

Trở lại với âm nhạc(2009-2010)[sửa | sửa mã nguồn]

I Look to You là album phòng thu thứ bảy và cuối cùng của ca sĩ nhạc R&B-nhạc pop người Mỹ Whitney Houston. Phát hành lần đầu 28 tháng 8 năm 2009 thông qua Sony Music ở châu Âu, sau đó vào ngày 31 tháng 8 năm 2009 với hãng thu âm Arista ở Mỹ trước khi được phát hành bởi RCA Records ở Vương quốc Anh vào ngày 19 tháng 10 năm 2009. Album này là album phòng thu đầu tiên của Houston kể từ album One Wish: The Holiday Album (2003).Về mặt chuyên môn, album nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, dựa trên điểm tổng hợp của 66/100 từ Metacritic. Về mặt thương mại, album đạt được thành công khi ra mặt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ, và là album đầu tiên của Houston ở vị trí số 1 kể từ album The Bodyguard (1992).Album phát hành hai đĩa đơn: Bài hát cùng tên với album, nằm trong top 20 bảng xếp hạng U.S. R&B chart, và đĩa đơn toàn cầu "Million Dollar Bill", nằm trong top 10 của nhiều bảng xếp hạng trên toàn thế giới và cũng nằm trong top 20 R&B hit. Kể từ khi phát hành, album đã bán được 2.5 triệu bản trên toàn thế giới, và được chứng nhận đĩa bạch kim tại bảy quốc gia và vàng tại tám quốc gia. Album cũng phát hành một đĩa đơn quảng bá, "I Didn't Know My Own Strength", chỉ phát hành trên các đài phát thanh ở Vương quốc Anh nhằm thúc đẩy cho tour diễn Nothing But Love World Tour.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Whitney Houston bất ngờ đột tử vào ngày 11 tháng 2 năm 2012 ở tuổi 48. Tử thi của cô được phát hiện trong bồn tắm tại khách sạn Beverly Hills Hilton. Tang lễ của Whitney tổ chức trọng thể tại quê hương New Jersey với tham dự của khoảng 300 khách. Phần mộ của cô được chôn cất cạnh cha cô John Houston đã mất vào năm 2003 trước đó.

Ngày 22 tháng 3, 2012, cảnh sát hạt Los Angeles chính thức thông báo nguyên nhân dẫn đến cái chết của Houston là do "bệnh xơ vữa động mạch tim và sử dụng cocain".[26][27]

Những ngày cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày thứ 5 trước khi chết, Houston đã ghé thăm ca sĩ Brandy Norwood và Monica, cùng với Clive Davis, tại buổi diễn tập cho đêm trước ngày trao giải Grammy

Khách sạn Beverly Hilton, nơi thi thể Houston được tìm thấy

Ngày 11.2.2012, Houston được phát hiện là đã chết trong bồn tắm tại khách sạn Beverly Hilton ở Beverly Hills, tiểu bang California. Nhân viên y tế của Beverly HIlls đã đến vào khoảng 15h30 và phát hiện ra ca sĩ bất động nên đã thực hiện các biện pháp sơ cứu. Houston được tuyên bố là đã chết và 16h00. Cảnh sát địa phương cho biết không có dấu hiệu của một vụ ám sát.

Vào ngày 13.2.2012, TMZ cho biết cảnh sát hạt County Coroner bang L.A đã thông báo cho gia đình Houston rằng bà không chết do ngộp nước mà do hỗn hợp Xanax và những loại thuốc khác hòa trong rượu. Không có đủ lượng nước trong phổi chứng minh cho việc ca sĩ đã chết ngộp. Houston có thể đã chết trước khi bà chìm vào trong nước. TMZ cũng xác nhận rằng cô của Houston, bà Mary Jones, là người đầu tiên phảt hiện ra cái xác và cũng là người đầu tiên giám sát quá trình sơ cứu.

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Bữa tiệc của Clive Davis với nhiều tên tuổi tầm cỡ trong làng giải trí mà Houston dự định sẽ tham dự vẫn tiến hành theo kế hoạch nhưng chuyển thành một buổi tiệc tưởng nhớ Houston. Ông Davis phát biểu trong bữa tiệc: "Tất cả các bạn đều đã biết tin Whitney đã ra đi. Tôi không phải che đậy cảm xúc của mình đối với những người bạn thân thiết như các bạn. Tôi thực sự rất suy sụp trước mất mát về một con người xinh đẹp và tài năng vượt bậc. Cô công hiến cho sân khấu này với vẻ ngoài quý phái và những buổi biểu diễn đáng nhớ trong nhiều năm liền. Đơn giản, Whitney muốn âm nhạc sẽ tiếp diễn và gia đình của cô muốn chúng ta tiếp tục.

Tony Bennett đã đề cập tới việc Whitney Houston ra đi trước khi trình diễn tại bữa tiệc của Davis: "Trước tiên là Michael Jackson, sau đó là Amy Winehouse, và bây giờ là ca sĩ vĩ đại Whitney Houston. Tôi muốn mọi người ở đây vận động cho việc hợp thức hóa sử dụng thuốc phiện. Giống như là người Amsterdam đã làm. Không ai phải ẩn núp hay lén lút ở góc đường để mua thuốc. Người ta có thể tới gặp bác sĩ và mua". Đây là trích dẫn nguyên văn lời nói của Tony Bennet và diễn tả chân thực quan điểm của ông. Việc sử dụng nó không phải hàm ý rằng những hiểu biết của Tony về luật Hà Lan là chính xác. Bennet cũng đã phải vật lộn với cơn nghiện suốt những năm 70. Ông trình diễn bài hát "How do you keep the music playing"để tưởng nhớ Whitney HOuston và cuộc chiến đấu với thuốc phiện dai dẳng của bà. "Đây là bài hát Frank Sinatra yêu cầu. Tôi muốn tặng nó cho Whitney. Lần đầu tiên gặp cô ấy, tôi đã gọi điện cho Clive Davis và nói rằng: "Anh đã tìm được cô ca sĩ tuyệt nhất mà tôi từng biết"

Danh sách các đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chi tiết Album của Whitney Houston

Các đĩa đơn tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn của Whitney Houston trong danh sách sau là các đĩa đơn quán quân tại các bảng xếp hạng của Mỹ (Billboard Hot 100, Billboard R&B/Hiphop Songs, Billboard Adult Contemporary, Billboard Hot Dance Club Songs), Liên hiệp Anh (UK Singles Chart), Úc (ARIA Singles Chart) và Đức (Media Control Charts).

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng
Flag of the United States.svg Flag of the United States.svg
R&B
Flag of the United States.svg
Adult
Flag of the United States.svg
Dance
Flag of the United Kingdom.svg Flag of Australia.svg Flag of Germany.svg
1985 "You Give Good Love" 3 1 4 - 93 58 -
"Saving All My Love for You" 1 1 1 - 1 20 18
"How Will I Know" 1 1 1 3 5 2 26
1986 "Greatest Love of All" 1 3 1 - 8 1 21
1987 "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)" 1 2 1 1 1 1 1
"Didn't We Almost Have It All" 1 2 7 - 14 27 20
"So Emotional" 1 5 8 1 5 26 -
1988 "Where Do Broken Hearts Go" 1 2 1 - 14 48 -
"Love Will Save the Day" 9 5 10 1 10 77 37
"One Moment in Time" 5 5 1 - 1 54 1
1990 "I'm Your Baby Tonight" 1 1 7 17 5 6 5
"All the Man That I Need" 1 1 1 - 13 63 37
1992 "I Will Always Love You" 1 1 1 1 1 1 1
1993 "I'm Every Woman 4 5 26 1 4 11 13
"I Have Nothing" 4 4 1 - 3 28 39
"Queen of the Night" - - - 1 14 88 64
1995 "Exhale (Shoop Shoop)" 1 1 5 - 11 18 26
1999 "Heartbreak Hotel" 2 1 - 1 25 17 61
"It's Not Right but It's Okay" 4 7 - 1 3 88 14
"My Love Is Your Love" 4 2 - 1 2 27 2
2000 "I Learned from the Best" 27 13 20 1 19 - 48
2002 "Whatchulookinat" 96 75 - 1 13 48 47
2003 "Try It on My Own" 84 80 10 1 - - -
"Love That Man" - - - 1 - - -
2009 "Million Dollar Bill" 100 16 - 1 5 - 41
Tổng Quán quân 11 8 9 14 4 3 3

Các giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử Tác phẩm được đề cử Kết quả
1986 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất Saving All My Love for You Đoạt giải
1986 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất You Give Good Love Đề cử
1986 Album của năm Whitney Houston Đề cử
1987 Thu âm của năm Greatest Love of All Đề cử
1988 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me) Đoạt giải
1988 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Didn't We Almost Have It All Đề cử
1988 Album của năm Whitney Đề cử
1989 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất One Moment in Time Đề cử
1991 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I'm Your Baby Tonight Đề cử
1992 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất All The Man That I Need Đề cử
1992 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I Belong To You Đề cử
1994 Album của năm The Bodyguard - Soundtrack Đoạt giải
1994 Thu âm của năm I Will Always Love You Đoạt giải
1994 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I Will Always Love You Đoạt giải
1994 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I'm Every Woman Đề cử
1997 Album của năm Waiting to Exhale - Soundtrack Đề cử
1997 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất Count On Me (với Cece Winans) Đề cử
1997 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Exhale (Shoop Shoop) Đề cử
1997 Bài hát hay nhất được viết cho phim hoặc chương trình truyền hình Count On Me Đề cử
1998 Album R&B xuất sắc nhất The Preacher's Wife soundtrack Đề cử
1998 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I Believe In You And Me Đề cử
2000 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất It's Not Right but It's Okay Đoạt giải
2000 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất When You Believe (với Mariah Carey) Đề cử
2000 Album R&B xuất sắc nhất My Love Is Your Love Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Paul Finkelman (2009). Encyclopedia of African American history, 1896 to the present: from the age of segregation to the twenty-first century. Oxford University Press. tr. 459–460. ISBN 978-0-19-516779-5. 
  2. ^ “Whitney Houston, as of 2009, said she was "drug-free"”. Reuters. 15 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  3. ^ “Whitney Houston Biography”. whitneyhouston.com. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ “Transformers: Whitney Houston”. AOL Black Voices. 2007. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  5. ^ “Christina performs on the 2001 BET Awards in a special tribute to Whitney Houston”. Billboard Magazine. 19 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  6. ^ “Whitney Houston Sings Her Way to Stardom with Hit Album, Road Tour”. Jet (Johnson Publishing Company) 68 (24): 59. 26 tháng 8 năm 1985. ISSN 0021-5996. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  7. ^ a ă â Huey, Steve (2006). “Whitney Houston biography”. Allmusic.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009 
  8. ^ "A History of Soul Music" (bằng). 2007-10-18. VH1. 
  9. ^ "Whitney Houston" (bằng). 'Biography'. 2007-10-18. The Biography Channel. 
  10. ^ Whitney Houston
  11. ^ “Whitney Houston Biography”. Rolling Stone. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011 
  12. ^ “Whitney Houston, 48, found dead in Beverly Hills”. Los Angeles Times. 11 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  13. ^ “RIAA Certification Searchable Database”. Recording Industry Association of America. 29 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  14. ^ Johnson Publishing Company (13 tháng 10 năm 1986). Jet. Johnson Publishing Company. tr. 16. ISSN 00215996. 
  15. ^ Rizzo, Frank (30 tháng 8 năm 1987). “Houston Tops New Wave of Women With Pop Punch Aplenty”. Orlando Sentinel (Orlando Sentinel). tr. 11. 
  16. ^ Hunt, Dennis (1 tháng 2 năm 1987). “Anita Baker: 'Most Powerful Black Woman Singer of 80s'”. San Francisco Chronicle. tr. 44.  Đã định rõ hơn một tham số trong |work=|newspaper= (trợ giúp);
  17. ^ Aletti, Vince (13 tháng 8 năm 1987). “Review: Whitney. Wenner Media, LLC. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  18. ^ Johnson Publishing Company (2 tháng 5 năm 1988). Jet. Johnson Publishing Company. tr. 54. ISSN 00215996. 
  19. ^ Nielsen Business Media, Inc. (13 tháng 5 năm 2000). Billboard. Nielsen Business Media, Inc. tr. 104. ISSN 00062510. 
  20. ^ “Gold & Platinum search results”. Recording Industry Association of America. 29 tháng 11 năm 1995. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010. 
  21. ^ Rolling Stone, tháng 12 năm 1991.
  22. ^ "'Celebrity Justice' Producer Discusses Whitney Houston Trial", CNN, December 5, 2002.
  23. ^ Transcript of Primetime Live feature, ABC, December 4, 2002; hosted at fan site Whitney-Fan.com
  24. ^ http://www.thestar.com/artsentertainment/article/167604
  25. ^ http://today.reuters.com/news/articlenews.aspx?type=peopleNews&storyID=2007-01-03T221146Z_01_N03276278_RTRIDST_0_PEOPLE-HOUSTON-AUCTION-DC.XML
  26. ^ “Whitney Houston drowned after cocaine use, says coroner”. BBC. 22 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  27. ^ Wynter, Kareen; Martinez, Michael (22 tháng 3 năm 2012). “Coroner: Drowning, heart disease, cocaine use killed Houston”. CNN. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]