Whitney Houston

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Whitney Houston
Flickr Whitney Houston performing on GMA 2009 4.jpg
Whitney Houston biểu diễn trên chương trình Good Morning America tại Central Park vào 1 tháng 9, 2009
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Whitney Elizabeth Houston
Sinh 9 tháng 8, 1963(1963-08-09)
Newark, New Jersey, U.S.
Mất 11 tháng 2, 2012 (48 tuổi)
Beverly Hills, California, U.S.
Nghề nghiệp Ca sĩ, Diễn viên, người mẫu, nhà sản xuất phim, nhà sản xuất âm nhạc, nhạc sĩ
Thể loại Pop, R&B, soul, dance, gospel
Nhạc cụ Giọng hát, piano
Năm 1977–2012
Hãng đĩa Arista, RCA
Hợp tác Cissy Houston, Dionne Warwick, Aretha Franklin, Jermaine Jackson, Mariah Carey, Enrique Iglesias, Bobby Brown
Website Website chính thức

Whitney Elizabeth Houston (9 tháng 8 năm 196311 tháng 2 năm 2012) là nghệ sĩ thu âm, diễn viên, người mẫu và nhà sản xuất người Mỹ gốc Phi. Trong năm 2006, sách kỷ lục Guinness đã phong tặng cô giải thưởng "Nghệ sĩ nữ giành được nhiều giải thưởng nhất mọi thời đại".[1] Cô đã giành 1 giải Emmy, 7 giải Grammy, 31 Billboard Music Awards, và 22 giải thưởng âm nhạc Mỹ, trong tổng số trên 600 giải thưởng giành được trong sự nghiệp của mình. Cô là một trong nữ ca sĩ thành công và có sức ảnh hưởng nhất mọi thời đại, khi bán được hơn 200 triệu album trên toàn thế giới[2], và nằm trong danh sách các nghệ sĩ có số lượng album bán chạy nhất mọi thời đại.[3][4] Thể loại nhạc chủ yếu của cô là các bản ballad trữ tình và nhạc Pop-Dance sôi động nhờ vào chất giọng truyền cảm mà vô cùng khỏe khoắn và được biết đến với danh hiệu The Voice[5][6], Nữ hoàng nhạc Soul[7]. Sinh ra trong gia đình có truyền thống ca hát, Whitney đã bắt đầu cầm mic từ lúc mới 11 tuổi. Cô chịu ảnh hưởng từ kỹ thuật thanh nhạc của mẹ cô là Cissy Houston và của mẹ đỡ đầu của cô - Aretha Franklin. Cách hát của cô phát triển theo cách hát của Diana Ross. Sau những ngày tháng hát cùng mẹ ở các câu lạc bộ đêm tại New York, Whitney đã được Arista Records phát hiện và mang về công ty. Kể từ đó đến nay, cô đã tung ra 6 studio album, 3 soundtrack album và tất cả đều được chứng nhận Vàng, Kim Cương hoặc Bạch Kim.[8]

Whitney Houston là nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất giành được 7 đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100 liên tiếp (bao gồm Saving All My Love for You, How Will I Know, Greatest Love of All, I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me), Didn't We Almost Have It All, So EmotionalWhere Do Broken Hearts Go). Chỉ xếp sau Elton John, Whitney Houston là nghệ sỹ nữ duy nhất có được 2 album đứng đầu Top Billboard 200 cuối năm (trước đây là Top Pop Album) của tạp chí Billboard. Album đầu tay cùng tên với cô là album đầu tay bán chạy nhất mọi thời đại bởi một nữ nghệ sĩ. Album được tạp chí Rolling Stone trao danh hiệu Album xuất sắc nhất năm 1986 và xếp vị trí thứ 254 trong danh sách 500 Album xuất sắc nhất mọi thời đại.[9] Album thứ hai, Whitney phát hành năm 1987, trở thành album đầu tiên của một nghệ sỹ nữ ra mắt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200.[9] Cùng với Michael JacksonMadonna, Whitney Houston là một trong những nghệ sĩ Mỹ đầu tiên thành công trên MTV.[10][11].

Whitney bắt đầu lấn sân sang lĩnh vực điện ảnh với bộ phim The Bodyguard (Vệ sĩ) phát hành năm 1992. Album soundtrack của bộ phim đã giành Giải Grammy cho Album của năm. Đĩa đơn chủ đạo, I Will Always Love You, đã trở thành đĩa đơn bán chạy nhất bởi một nữ nghệ sĩ trong lịch sử âm nhạc.[12]. Với album này, Whitney đã trở thành người đầu tiên có được doanh thu hơn một triệu bản album chỉ trong vòng một tuần trong Nielsen SoundScan.[9] Sau The Bodyguard, cô tiếp tục tham gia một số bộ phim, như: Waiting to Exhale (1995) and The Preacher's Wife (1996). Soundtrack của bộ phim The Preacher's Wife đã trở thành album gospel bán chạy nhất mọi thời đại.[13]

Trong thập niên 2000, không thấy âm nhạc, mà cái tên Whitney Houston lại xuất hiện dày đặc trên các mặt báo với các vấn đề như việc lạm dụng các chất gây nghiện,...Những chất này đã làm thay đổi sự nghiệp và giọng hát của cô. Cùng với đó, doanh thu của các album của cô cũng sụt giản rõ rệt, album Just Whitney... (2002) là một bằng chứng rõ rệt. Tuy nhiên, cô đã vượt qua những khó khăn và trở lại với khán giả bằng những sản phẩm âm nhạc chất lượng, bằng chứng là album I Look to You (2009) đã đứng đầu bảng xếp hạng album của nhiều quốc gia trên thế giới.

Ngày 11 tháng 2 năm 2012, Whitney được tìm thấy đã chết trong phòng tắm của khách sạn Beverly Hilton, Beverly Hills, California, gây ra biết bao thương xót cho gia đình, bạn bè và người hâm mộ.[14] Tin tức về cái chết của cô cũng trùng hợp với lễ trao giải Grammy năm 2012, khi mà cô chết trước lễ trao giải này đúng 1 ngày.

Mục lục

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Whitney Houston sinh ra tại Newark, New Jersey trong gia đình có bố là John và mẹ là Cissy Houston. Ở tuổi 11, Houston đã bắt đầu tập tành hát hò theo chân của mẹ, bà ngoại và người cậu của mình. Cô bé Houston từng tự tin trình diễn solo trong dàn nhạc của nhà thờ cho đến một ngày tài năng của cô được khám phá bởi một nhà sản xuất có tên Michael Zager. Ông này ngay lập tức mời cô ký một hợp đồng nhưng cô từ chối mà tiếp tục hát đệm cho mẹ của mình.

Đầu những năm 1980, cô bắt đầu xuất hiện trước công chúng trong vai trò là một người mẫu thời trang cho rất nhiều chương trình quảng cáo của các tạp chí danh tiếng trong đó có Seventeen. Trong những năm làm người mẫu, cô vẫn tiếp tục sự nghiệp âm nhạc của mình khi hợp tác với các nhà sản xuất như Michael Bienhorn, Bill LaswellMartin Bisi.

Kể từ lần đầu tiên được mời ký hợp đồng, Houston từng được chiêu dụ nhiều lần (từ Michael Zager năm 1980 đến Elektra Records năm 1981) và vào năm 1983, một đại diện của hãng A&R đến từ Arista chứng kiến Houston biểu diễn với mẹ trong một hộp đêm ở thành phố New York, ông liền thuyết phục Houston về đầu quân cho hãng của ông. Lần đó, Houston đã đồng ý ký. Album đầu tay của cô phải mất đến 2 năm mới hoàn thành.

1963 - 1986: Thành công với album đầu tay, bắt đầu ảnh hưởng trên toàn thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Album đầu tay được đặt theo tên của cô, Whitney Houston phát hành năm 1985, ban đầu chỉ nhận được sự quan tâm hời hợt từ phía khán giả cho đến mùa hè năm đó, khi ca khúc You Give Good Love nằm trong top 5 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100(#3) album mới thật sự trở thành một hiện tượng trong giới âm nhạc[15]. Lúc đó, Whitney Houston leo lên đứng đầu các bảng xếp hạng album, và sản sinh ra các đĩa đơn Saving All My Love for You, How Will I KnowGreatest Love of All đều ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Tổng cộng album bán được hơn 25 triệu bản, trong đó có 13 triệu bản album được tiêu thụ tại Mỹ. Cho đến nay, nó vẫn là album đầu tay bán chạy nhất của một nữ nghệ sĩ.[16] Năm 1986, Whitney Houston tổ chức tour lưu diễn vòng quanh thế giới đầu tiên trong sự nghiệp với tên gọi The Greatest Love Tour. Cũng năm đó cô đã giành giải Grammy đầu tiên với danh hiệu Giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất dành cho Saving All My Love for You; hai giải thưởng âm nhạc Mỹ ở hạng mục "Video Soul/R&B được yêu thích nhất" (Saving All My Love for You) và "Ca khúc Soul/R&B được yêu thích nhất" (You Give Good Love); một giải MTV Video Music Awards ở hạng mục "Video xuất sắc nhất của nữ nghệ sĩ" dành cho How Will I Know và 1 giải Emmy.[17] All at Once không được phát hành thành đĩa đơn nhưng tại Ý, nó đạt vị trí thứ 4, sau khi Whitney trình diễn bài hát tại San Remo Music Festival. Thành công của Whitney Houston đã mở đường cho các nghệ sĩ nữ người Mỹ gốc Phi thành công trên kênh MTV sau này như: Janet JacksonAnita Baker.[18][19]

1987 - 1991: Whitney, I'm Your Baby Tonight, One Moment in TimeThe Star-Spangled Banner[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nhiều kỳ vọng, album thứ hai, Whitney được phát hành vào năm 1987, bao gồm hầu hết những ca khúc nhạc Pop giống như album tiền nhiệm của nó. Album được sản xuất bởi Masser, KashifWalden cũng như Jellybean Benitez, những người đã sản xuất các bài hát trong album đầu của cô. Điều này đã nhận được không ít những lời phàn nàn từ giới phê bình.[20] Tuy vậy, album vẫn đạt được thành công lớn về mặt thương mại. Whitney trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên trong lịch sử âm nhạc ra mắt tại số một trên bảng xếp hạng Billboard 200, và là nghệ sĩ đầu tiên có album đứng đầu ở cả Mỹ lẫn Anh. Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me), trở thành một hit lớn trên toàn cầu, khi đạt vị trí thứ 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 cũng như tại nhiều quốc gia khác như Úc, ĐứcVương quốc Anh. Ba đĩa đơn tiếp theo, Didn't We Almost Have It All, So EmotionalWhere Do Broken Hearts Go tất cả đều đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng Hot 100, đem lại cho cô tổng số 7 quán quân liên tiếp, giúp cô phá vỡ kỷ lục trước đó được giữ bởi The BeatlesThe Bee Gees.[21][22] Whitney Houston đã trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên tạo ra được 4 đĩa đơn quán quân liên tiếp từ một album. Whitney đã được chứng nhận 9× Bạch kim bởi Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA), công nhận 9 triệu album đã được bán ra tại đây. Tính đến nay, album đã bán được 20 triệu bản.[23]

One Moment in Time là một bài hát đã đoạt giải Emmy được Albert HammondJohn Bettis sáng tác, Narada Michael Walden sản xuất và được trình bày bởi Whitney dành cho Thế vận hội Mùa hè 1988 và Paralympic mùa hè tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc. Đây là một bài hát bất hủ trong lịch sử thể thao, đứng top 10 trong các bảng xếp hạng tại nhiều quốc gia và được đề cử một giải Grammy ở hạng mục Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất. Và đặc biệt những phút xuất thần của Whitney tại Grammy 1989 đã biến màn live của cô trở thành một trong "Ba màn trình diễn lịch sử tại Grammy"(#2 sau Micheal Jackson).

Album thứ 3 của cô, I'm Your Baby Tonight (1990), gồm những ca khúc hát và sản xuất chung với Babyface, Stevie Wonder, và Luther Vandross, chiếm vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ. Mặc dù không đạt được thành công về mặt thương mại như hai album trước nhưng nhạc phẩm này cũng bán được 8 triệu bản trên toàn thế giới. Một năm sau đó, Houston bắt tay vào thực hiện chuyến lưu diễn có tên gọi I'm Your Baby Tonight Tour mà tạp chí Rolling Stone bầu chọn là "Chuyến lưu diễn tồi tệ nhất của năm"[24] .

1992 - 1997: Thành công rực rỡ với The Bodyguard: Original Soundtrack Album , Waiting to Exhale: Original Soundtrack AlbumThe Preacher's Wife: Original Soundtrack Album[sửa | sửa mã nguồn]

Một điểm đáng chú ý trong sự nghiệp của Houston đó là sự đóng góp của những ca khúc nhạc trong phim mà cô rất thành công. Không những ngay cả những bộ phim đó thể hiện sự xuất sắc trên thị trường điện ảnh mà chính những ca khúc nhạc trong phim cũng trở thành đề tài khen ngợi của các nhà phê bình cũng như khán giả. Bản nhạc trong The Bodyguard Sountrack là một ví dụ, nó đã trở thành album nhạc phim bán chạy nhất mọi thời đại: hiện tại doanh số bán ra là 44 triệu bản trên toàn thế giới trong đó có hơn 13 triệu bản tính riêng tại Mỹ[25]. Album giành giải Album của nămGhi âm của năm tại giải thưởng Grammy. Nhạc phẩm thành công nhất trong album là I Will Always Love You đạt vị trí quán quân tại Mỹ trong 14 tuần liên tiếp (một kỷ lục tại Mỹ lúc bấy giờ) và tại Anh trong 10 tuần thực sự được công chúng yêu nhạc toàn thế giới đánh giá là một trong những bản tình ca bất diệt. I Will Always Love You xếp vị trí thứ 49 cho bài hát vĩ đại nhất mọi thời đại, xếp thứ 27 cho bài hát R&B vĩ đại nhất mọi thời đại và xếp thứ 6 cho bản tình ca vĩ đại nhất mọi thời đại theo tạp chí Billboard. Hai ca khúc tiếp theo là I'm Every WomanI Have Nothing đều nằm trong tốp 5 tại Mỹ[26]. Tiếp theo thành công của bộ phim The Bodyguard, Houston thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới vào năm 1993 với tên gọi The Bodyguard World Tour, trong đó có một số buổi hòa nhạc đặc biệt tại châu Phi.[27][28]

Whitney Houston thu âm 3 ca khúc làm nhạc trong bộ phim Waiting to Exhale (đạt doanh thu 60 triệu USD) là Exhale (Shoop Shoop) (#1), Count On Me (#8) và Why Does It Hurt So Bad (#26). Album Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album đã bán đựoc 5,7 triệu bản tại Mỹ[29]. Các ca khúc trong album như Exhale (Shoop Shoop) đã được đề cử cho Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất. Count On Me với Cece Winans được để cử cho Hợp tác giọng Pop xuất nhấtBài hát được viết cho nhạc phim hoặc nhạc kịch xuất sắc nhất.

The Preacher's Wife: Original Soundtrack Album là album soundtrack của bộ phim cùng tên, phát hành vào ngày 26 tháng 11 năm 1996. Các bài hát trong album được thể hiện bởi Whitney Houston, người đóng vai chính trong bộ phim này. Đây là album nhạc gospel bán chạy nhất mọi thời đại, khi bán được 6 triệu bản trên toàn thế giới. Bản soundtrack cho tác phẩm điện ảnh The Preacher's Wife trong đó có phần thu âm thể loại gospel đầu tiên của Houston bán được 5 triệu bản trên toàn nước Mỹ.[30]. Album nhạc phim cũng đạt vị trí thứ ba trên Billboard 200[31]. Vào lễ trao giải Grammy lần thứ 39 (năm 1997) album đã được để cử cho Album của năm. Album cũng đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Top R&B Albums và Top Gospel Albums, cũng như được chứng nhận 3 đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA). Album phát hành 3 đĩa đơn: Đĩa đơn đầu tiên, I Believe in You and Me (cover lại của The Four Tops), trở thành 1 đĩa đơn nằm trong top 5 ở Mỹ và được đề cử giải Grammy ở hạng mục Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất, cũng như giải Album R&B xuất sắc nhất cho album. Đĩa đơn thứ hai, Step by Step cũng đạt được một số thành công nhất, khi nằm trong top 10 và 20 của nhiều quốc gia. Đĩa đơn cuối cùng, My Heart Is Calling trở thành đĩa đơn phát hành cuối cùng của một soundtrack.

1998 - 2005: My Love Is Your Love; Just Whitney...; One Wish: The Holiday Album, các album tổng hợp và những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dành nhiều thời gian vào đầu và giữa những năm 1990 cho việc đóng phim và các soundtrack album, Whitney ra mắt album phòng thu đầu tiên sau hơn 8 năm. My Love Is Your Love (1998), album studio thứ 4 của Houston, bao gồm nhiều ca khúc mới và ban đầu được kì vọng là album tổng hợp. Album gồm nhiều ca khúc thuộc thể loại mới như dance, hip hop, R&B mid-tempo, reggaeballad[32]. Được thu âm và phối khí chỉ trong vòng 6 tuần và được sản xuất bởi Rodney Jerkins, Wyclef JeanMissy Elliott, My Love Is Your Love "nhận" được nhiều lời chỉ trích nặng nề nhưng vẫn đạt được doanh số cao trên thị trường (13 triệu bản trên toàn thế giới trong đó có 4 triệu bản tính riêng tại thị trường Mỹ, được RIAA chứng nhận 4 lần bạch kim[33]). Houston là một trong số những nhà sản xuất chính của album đậm chất R&Bhip-hop này, khác hoàn toàn so với những nhạc phẩm trước đây. Album ra mắt tại vị trí thứ 15 trên bảng xếp hạng Billboard 200[34]

Từ cuối năm 1998 đến đầu năm 2000, nhiều đĩa đơn được phát hành từ album đã trở thành các hit lớn: Ca khúc đầu tiên, When You Believe, hát chung với Mariah Carey, được thu âm làm sountrack cho bộ phim hoạt hình The Prince of Egypt, đã trở thành một hit trên toàn cầu khi nằm trong top 10 các bảng xếp hạng của nhiều quốc gia và giành một giải Oscar lần thứ 71 (năm 1998) tại hạng mục Ca khúc trong phim xuất sắc nhất[35]. Bài hát cũng được đề cử cho Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất tại giải Grammy thứ 42. Các đĩa đơn khác như It's Not Right but It's Okay, Heartbreak HotelMy Love Is Your Love đã lọt vào top 5 của Billboard Hot 100. Album đã thắng một giải cho Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất cho bài It's Not Right but It's Okay[36] và đề cử cho Album R&B xuất sắc nhất, Hợp tác R&B xuất sắc nhất cho bài Heartbreak Hotel tại giải Grammy thứ 41 và 42. Heartbreak Hotel còn nhận được một đề cử tại giải MTV VMA năm 1999 ở hạng mục Video R&B xuất sắc nhất[37] và đứng thứ nhất bảy tuần liên tiếp trên bảng xếp hạng Billboard R&B. Đĩa đơn My Love Is Your Love đã bán được 3 triệu bản trên toàn cầu[38], xếp tại vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và thứ 2 trên bảng xếp hạng UK Singles Chart. I Learned from the Best cũng lần lượt xếp thứ 27 tại Mĩ và thứ 19 tại Anh.[39][40]. Tất cả các đĩa đơn, trừ When You Believe đã trở thành những hit đầu bảng xếp hạng Billboard Hot Dance/Club Play chart

Album đã nhận được nhiều ý kiến mạnh mẽ hơn tất cả các album trước đó của Whitney. Tạp chí Rolling Stone cho rằng Whitney đang hát "cùng với một vết thương trong giọng của cô"[41] và tạp chí The Village Voice nhận xét răng: "Giọng của Whitney đang rất sắc và đang làm chúng ta thỏa mãn hơn bao giờ hết[42]. Năm 1999, Whitney tham dự chương trình VH-1's Divas Live 99 cùng với Brandy, Mary J.Blige, Tina TurnerCher. Cũng trong năm này, Whitney tổ chức tour diễn dài 70 ngày với tên gọi My Love Is Your Love World Tour. Các buổi nằm trong tour được tổ chức tại châu Âu đã giúp My Love Is Your Love World Tour trở thành tour diễn ăn khách nhất châu Âu năm 1999.[43]. Trong tháng 11 năm 1999, Whitney đã được ghi danh trong danh sách các nữ nghệ sĩ R&B có doanh số nhiều nhất thiên niên kỉ với 51 triệu album bán lẻ được cấp chứng nhận tại Mĩ. The Bodyguard Sountrack cũng được ghi danh trong danh sách các album sountrack bán chạy nhất thiên niên kỉ bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Mĩ RIAA[44]. Đồng thời, Whitney cũng được trao giải thưởng Nghệ sĩ của thập kỉ tại lễ trao giải Soul Train Music Award lần thứ 14 và một giải thưởng âm nhạc MTV châu Âu dành cho nghệ sĩ R&B xuất sắc nhất (MTV Europe Music Award for Best R&B) [45][46][47][48][49]

Whitney: The Greatest Hits là album tổng hợp đầu tiên của Whitney Houston, được phát hành vào tháng 5 năm 2000 trên toàn thế giới. Album bao gồm một đĩa với những bản ballad và một đĩa với các bài hát được remix lại cũng như một số bài hát mới. Màn thể hiện The Star-Spangled Banner tại Super Bowl XXV; bài hát vận động cho Thế vận hội mùa hè 1988, One Moment in Time và ca khúc If You Say My Eyes Are Beautiful - hát với Jermaine Jackson cũng được bao gồm trong album này. Album có bốn ca khúc mới: Could I Have This Kiss Forever - song ca cùng Enrique Iglesias, If I Told You That - song ca cùng George Michael, Same Script, Different Cast - hát cùng Deborah CoxFine. Tất cả các ca khúc này đều được phát hành thành các đĩa đơn. Album cũng đi kèm 1 DVD bao gồm các video âm nhạc của cô trong quá khứ, cũng như những màn biểu diễn trực tiếp và phỏng vấn.[50][51] Cả 2 đĩa của album đạt ví trí thứ 5 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và thứ 1 trên bảng xếp hạng của Vương quốc Anh.[40][52]. Album cũng nằm trong top 10 tại các quốc gia khác.[53] Hiệp hội công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) đã chứng nhận 3 đĩa Bạch kim cho album vào ngày 12 tháng 11 năm 2002, công nhận 1,5 triệu album đã được bán tại Mỹ.[54][55] Tính đến nay, album đã bán được 10 triệu bản trên toàn thế giới. Album tuy có doanh số cao nhưng cũng nhận được những ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình. Nhiều ý kiến phàn nàn về các bản remix ở đĩa thứ hai, thay vì bản gốc của chúng. Tại Mỹ, bản sao được bán tại các cửa hàng Circuit City bao gồm 1/3 đĩa có chứa các bản hòa âm club mới. Album đạt vị trí trong top 10 tại bảng xếp hạng của các nước châu Âu, , Canada, ÚcNew Zealand. Album được chứng nhận 3 lần bạch kim bởi IFPI trong năm 2000 với doanh số 3 triệu bản tại châu Âu. Whitney: The Unreleased Mixes là một phiên bản giới hạn bốn bản thu âm vinyl, có đầy đủ 8 bản club được lựa chọn được tìm thấy trên phát hành ở Mỹ. Năm 2006, nó được phát hành kỹ thật số và lại mang tên Dance Vault Mixes: Whitney Houston – The Unreleased Mixes (Collector's Edition). Trong tháng 1 năm 2011, album đã được tái phát hành ở Vương quốc Anh với danh sách bài hát giống như ở Mỹ, nhưng nó được đổi tên thành The Essential Whitney Houston[56]. Ngoài việc thay đổi tiêu đề, việc phát hành lại cũng thay đổi ảnh bìa album. Ảnh bìa mới của album được sản xuất bởi David LaChapelle.[57] Tháng 2 năm 2012, sau cái chết của Whitney, album xuất hiện trở lại trên bảng xếp hạng Billboard 200 ở vị trí thứ 6 với 64.000 bản được bán ra.[58] Tại Canada, album nhảy lên vị trí thứ 3 với 7.800 bản được bán ra.[59] Ngày 29 Tháng 2, Whitney Houston đã trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên có 3 album nằm trong top 10 bảng xếp hạng Billboard 200 cùng một lúc (Whitney: The Greatest Hits ở vị trí thứ 2, The Bodyguard: Original Soundtrack Album ở vị trí thứ 6 và Whitney Houston ở vị trí thứ 9.[60])

Từ sau khi sản xuất The Prince of Egypt Soundtrack, Whitney không còn chú tâm vào sự nghiệp ca hát nữa.[61][62] Cô bắt đầu dính vào các rắc rối liên quan đến nghiện ngập, về tài chính,... Chuyển đến: Những vấn đề trong đời tư. Và cũng từ năm 2000 trở đi, giọng hát lẫn danh tiếng của cô đi xuống ngày một rõ rệt.[63]

Sau khi phát hành Whitney: The Greatest Hits, vào tháng 8 năm 2001, Whitney kí hợp đồng 100 triệu đô la Mĩ với Arista - hợp đồng có giá trị lớn nhất trong lịch sử ngành công nghiệp thu âm lúc bấy giờ, cho 6 album mới.[64][65][66] Từ thời gian này, Whitney bị dính vào những vấn đề cá nhân liên quan đến ma túy, đến tình hình sức khỏe. Cô bị các fan hâm mộ lẫn giới truyền thông đặt ra nhiều nghi ngại. Dù vậy, Whitney vẫn phát hành album tổng hợp thứ hai của mình - Love, Whitney vào năm 2001 ở châu Âu và vào năm 2002 tại Mĩ. Album là phiên bản tiếp nối của Whitney: The Greatest Hits. Đây là một bộ sưu tập những bản ballad đã trở thành thương hiệu của cô, trong đó có 9 ca khúc nằm trong top 20 hits. Theo trang Allmusic, album này "không thực sự là album tuyển tập những ca khúc hit" nhưng "nó là một album tuyển tập những bản tình ca vĩ đại của Whitney" và "dành cho hầu hết những người hâm mộ của cô.[67]. Tai Anh, album đã bán được 42000 bản.[68] Album nhận được những đánh giá trung bình và trên mức trung bình từ các trang đánh giá uy tín như Allmusic[67], Rolling Stone.[69]

Tháng 12 năm 2002 Whitney Houston phát hành album studio thứ năm, Just Whitney.... Album có sự hợp tác với chồng cô lúc bấy giờ, Bobby Brown cũng như một số ca sĩ khác như Missy Elliott và Babyface. Album đạt vị trí #9 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 200 và trở thành album có doanh số cao nhất trong tuần đầu tiên phát hành trong sự nghiệp của Whitney.[70]. Lượng bán ra của album trong tuần đầu là 205147 bản, phá kỉ lục của Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album (177284 bản trong tuần đầu).[71][72] Các đĩa đơn được phát hành từ album là Whatchulookinat, One of Those Days, Try It on My Own, Love That Man tuy trở thành các hit trong bảng xếp hạng Top R&B/Hip-hop Albums và đạt vị trí thứ 10 trong bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary[73] nhưng đều không thể lọt nổi vào tốp 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Mặc dù được cấp giấy chứng nhận album bạch kim ở Mĩ, chứng nhận vàng ở Pháp và quốc gia khác, doanh số bán ra trên toàn cầu là 3 triệu bản[74] nhưng Just Whitney… vẫn là album studio bán chậm nhất trong sự nghiệp của Whitney. Chỉ sau hai năm từ album Whitney: The Greatest Hits nhưng Just Whitney… đã "lọt" ra ngoài bảng xếp hạng 75 album của Anh quốc (#76). Whitney Houston chỉ phát hành một đĩa đơn duy nhất tại Anh là Whatchulookinat đạt vị trí #13 và chỉ có 2 tuần nằm trong tốp 40. Album nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ giới chuyên môn. Trang Allmusic đánh giá album ở mức trên trung bình[75], trong khi trang tờ Rolling Stone lại đánh giá album dưới mức trung bình.[76]. Album nhận được số điểm đánh giá là 53/100 từ Metacritic.[77]

One Wish: The Holiday Album là album Giáng sinh duy nhất của Whitney Houston, phát hành năm 2003. Album phát hành một đĩa đơn One Wish (for Christmas), lọt vào top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Adult Contemporary của Mỹ. Album đã trải qua sáu tuần trên bảng xếp hạng Billboard 200 và bán được 546000 bản tính cho đến nay. Album cũng có một bản song ca với cô con gái Bobbi Kristina Houston là The Little Drummer Boy. Album này cũngsử dụng lại 2 bài hát Joy to the WorldWho Would Imagine a King từ album Soundtrack của bộ phim The Preacher's Wife phát hành năm năm 1996.

2006 - 2012: I Look to You: Trở lại với âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 2007, Clive Davis của hãng Arista Records thông báo rằng Whitney đang bắt đầu thu âm một album mới.[78]. Album tổng hợp thứ ba của cô, The Ultimate Collection, phát hành cùng năm đó và chỉ riêng ở khu vực ngoài nước [79]

I Look to You là album phòng thu thứ sáu và cuối cùng của Whitney Houston. Phát hành lần đầu 28 tháng 8 năm 2009 thông qua Sony Music ở châu Âu, sau đó vào ngày 31 tháng 8 năm 2009 với hãng thu âm Arista ở Mỹ trước khi được phát hành bởi RCA Records ở Vương quốc Anh vào ngày 19 tháng 10 năm 2009. Album này là album phòng thu đầu tiên của Houston kể từ album One Wish: The Holiday Album (2003)[80].Về mặt chuyên môn, album nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, dựa trên điểm tổng hợp của 66/100 từ Metacritic [81]. Về mặt thương mại, album đạt được thành công khi ra mặt ở vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ, và là album đầu tiên của Houston ở vị trí số 1 kể từ album The Bodyguard (1992). Album phát hành hai đĩa đơn: Bài hát cùng tên với album, I Look to You, nằm trong top 20 bảng xếp hạng U.S. R&B chart, và đĩa đơn toàn cầu Million Dollar Bill[82], nằm trong top 10 của nhiều bảng xếp hạng trên toàn thế giới và cũng nằm trong top 20 R&B hit [83]. Kể từ khi phát hành, album đã bán được 5 triệu bản trên toàn thế giới, và được chứng nhận đĩa bạch kim tại bảy quốc gia và vàng tại tám quốc gia. Album cũng phát hành một đĩa đơn quảng bá, I Didn't Know My Own Strength, chỉ phát hành trên các đài phát thanh ở Vương quốc Anh nhằm thúc đẩy cho tour diễn Nothing But Love World Tour.

Whitney đã trình diễn I Look to You trên chương trình truyền hình Đức Wetten, dass...?Million Dollar Bill trên kênh truyền hình Pháp Le Grand Journal. Ngoài ra, cô cũng nhận vai trò là người cố vấn khách mời trong chương trình The X Factor phiên bản Anh. Cô tiếp tục trình diễn Million Dollar Bill vào đêm công bố kết quả của chương trình. Truyền thông Anh đánh giá màn trình diễn nàu của cô là "kì lạ", "chán", "kém".[84][85]. Tuy nhiên, Million Dollar Bill cũng đã nhảy từ vị trí 14 lên vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng UK Singles Chart, và album I Look to You phát hành sau đó đã được chứng nhận vàng. Sau đó, Whitney tiếp tục trình diễn Million Dollar Bill tại The X Factor phiên bản Italy, và nhận được những đánh giá tích cực.[86] Cô tiếp tục nhận được chứng nhận vàng ở Italy sau khi album I Look to You bán được 50000 bản.[87]. Trong tháng 11 năm 2009, cô trình diễn "I Didn't Know My Own Strength" tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mĩ (American Music Awards) tổ chức tại Los Angeles, California, Mĩ. Và vào tháng 12 năm 2009, album I Look to You của cô đã được chứng nhận bạch kim bởi RIAA với doanh thu đạt một triệu bản tại Mĩ.[88] Ngày 26 tháng 1 năm 2010, cô ra mắt lại album Whitney Houston với tên gọi mới là Whitney Houston - The Deluxe Anniversary Edition.[89]

Chuyến lưu diễn Nothing but Love World Tour là chuyến lưu diễn đầu tiên sau hơn 10 năm kể từ My Love Is Your Love World Tour và được kì vọng sẽ là một sự trở lại thành công của Whitney. Tuy nhiên, một số buổi biểu diễn không tốt và việc các buổi lưu diễn bị dời ngày đã thu hút những đánh giá truyền thông tiêu cực.[90][91]. Whitney đã hủy bỏ một số buổi diễn do ảnh hưởng từ sức khỏe kém của cô, và nhận được những lời bình luận tiêu cực từ fan. Các fan hâm mộ đã thất vọng trước giọng hát càng ngày càng trở nên tồi tệ của cô. Một số người đã ra khỏi buổi diễn của cô khi chưa kết thúc, còn một số đã yêu cầu trả lại tiền vé vì "không được nghe một Whitney Houston đích thực".[92]

Trong tháng 1 năm 2010, Whitney được đề cử 2 giải NAACP Image Awards cho hạng mục Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhấtVideo ca nhạc xuất sắc nhất. Cô thắng tại hạng mục Video ca nhạc xuất sắc nhất cho video I Look to You. Ngày 16 tháng 1 năm 2010, cô nhận giải The BET Honor Award for Entertainer cho những thành tựu mà cô đạt được trong suốt sự nghiệp 25 năm âm nhạc của mình. Giải thưởng này được tổ chức vào ngày 1 tháng 2 năm 2010, tại Warner Theatre, Washington D.C, Mĩ. Jennifer HudsonKim Burrell trình diễn để tri ân cô và đã nhận được những đánh giá tốt. Vào tháng 4 năm 2010, tờ báo The Mirror của Anh viết rằng Whitney đang nghĩ đến việc thu âm album phòng thu thứ bảy của mình và muốn hợp tác với will.i.am, lần đầu tiên cô lựa chọn một sự hợp tác.[93]

Whitney cũng trình diễn ca khúc I Look to You trên sân khấu "BET Celebration of Gospel" được tổ chức tại Staples Center, Los Angeles cùng với Kim Burrell vào ngày 30 tháng 1 năm 2011. Đầu năm 2011, cô cũng bất ngờ trình diễn một ca khúc để tri ân chị họ cô, Dionne Warwick tại bữa tiệc tiền giải Grammy được tổ chức hằng năm của Clive Davis.

Tháng 9 năm 2011, tờ The Hollywood Reporter đưa tin rằng Whitney sẽ cùng tham gia tái sản xuất bộ phim Sparkle (1976) với ngôi sao Jordin SparksMike Epps. Cô cũng đồng thời là người điều hành sản xuất cho bộ phim. Debra Martin Chase, nhà sản xuất của Sparkle, cho rằng Whitney xứng đáng với vai trò này vì cô đã nhận bản quyền phim từ năm 2001. Ca sĩ R&B Aaliyah, ban đầu được chọn làm ngôi sao trong Sparkle, đã qua đời vào năm 2001 trong một tai nạn máy bay. Cái chết của bà đã làm trì hoãn việc sản xuất, đáng lẽ phải được bắt đầu từ 2002.[94][95][96]. Bộ phim được thu hình vào mùa thu năm 2011, trong khoảng thời gian 2 tháng,[97] và được phát hành bởi hãng phim TriStar Pictures[98]. Vào ngày 21 tháng 5 năm 2012, Sparkle, ca khúc cuối cùng của Whitney, thu âm cùng Sparks, ra mắt tại trang RyanSeacrest.com. Ca khúc này được có sẵn để tải về trên iTunes vào ngày 5 tháng 6.[99]. Ca khúc cũng nằm trong Sparkle: Music from the Motion Picture, được phát hành thành đĩa đơn chính thức đầu tiên.[100]. Bộ phim ra mắt ngày 17 tháng 8 năm 2012 tại . Video ca nhạc của ca khúc Sparkle được thu hình ngày 30 tháng 5 năm 2012.[101]. Một đoạn ngắn của video ra mắt trên Entertainment Tonight vào ngày 4 tháng 6 năm 2012.[102]

Những vấn đề trong đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc phiện và tình hình sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có một thời gian Whitney thường được gọi là "gái ngoan" với hình ảnh tốt đẹp trước công chúng trong những năm 1980 và đầu những năm 1990 nhưng từ cuối những năm 1990, cô bắt đầu thay đổi. Cô thường ngồi hàng giờ cho các cuộc phỏng vấn, chụp ảnh và các buổi tập, hủy bỏ hàng loạt buổi diễn và những cuộc nói chuyện trên truyền hình.[103][104]. Việc cô bỏ các buổi biểu diễn và sút cân đã làm tin đồn về việc Whitney dùng thuốc phiện cùng chồng lan truyền khắp nơi. Sau khi phát hành album Whitney: The Greatest Hits, tháng 11 năm 2000, đội an ninh tại sân bay Hawaii đã phát hiện ra chất gây nghiện trong hành lý của Houston và Bobby Brown nhưng họ đã lên máy bay và bay mất trước khi cảnh sát kịp bắt giữ. Không có bản án nào được thi hành nhưng tin đồn về vụ việc này lan ra nhanh chóng.[105]. 2 tháng sau, Clive Davis được ghi danh tại sảnh danh vọng Rock and Roll. Whitney có lịch biểu diễn cho sự kiện này, nhưng cô đã không xuất hiện.[106] Ngay sau đó, Whitney lại có lịch biểu diễn tại lễ trao giải Oscar, nhưng cô đã được đạo diễn âm nhạc của chương trình- người bạn thân thiết của cô Burt Bacharach yêu cầu ra khỏi sự kiện. Phát ngôn viên truyền thông của cô đã giải thích việc này là do cô gặp vấn đề về họng. Trong cuốn sách của mình, The Big Show: High Times and Dirty Dealings Backstage at the Acedemy Awards, tác giả Steve Pond tiết lộ rằng: "Giọng của Houston đã trở nên run rẩy, cô ấy dường như bị phân tâm và bồn chồn, nhưng cô lại cố gắng tỏ vẻ bình thường", và lẽ ra lúc đó Whitney phải hát ca khúc Over the Rainbow thì cô lại hát một ca khúc khác.[107]. Sau này chính Whitney cũng thú nhận đã bị đuổi khỏi lễ trao giải Oscar năm đó.[108]. Cũng vào năm ấy, người bạn thân đồng thời cũng là quản lí lâu năm của Whitney, Robyn Crawford, từ chức khỏi công ty chủ quản của cô.[109]

Vào tháng 8 năm 2001, sau khi kí tiếp hợp đồng với Arista, cô xuất hiện tại lễ sinh nhật lần thứ 30 của Michael Jackson. Thân hình gầy đột ngột của cô đã tiếp tục làm dấy lên những tin đồn về việc cô sử dụng thuốc phiện. Phát ngôn viên truyền thông của Whitney đã giải thích rằng: "Whitney đã bị stress vì các vấn đề gia đình, và cô đã không ăn uống gì trong khoảng thời gian căng thẳng vừa qua".[110]. Cô cũng lên lịch cho màn biểu diễn thứ hai trong buổi tối tiếp theo nhưng cuối cùng đã hủy nó.[111]

Lúc đó, Houston trở nên nổi tiếng với những đề tài nóng hổi liên quan đến vụ việc, cô thường xuyên phải hủy hết buổi hòa nhạc này đến buổi hòa nhạc khác. Sau đó khoảng vài tháng, Houston xuất hiện trước báo giới bàn luận về thuốc phiện và các chất gây nghiện nhưng cô bác bỏ hoàn toàn việc sử dụng cocaine. Thế nhưng đến tháng 3 năm 2004, cô đã không thể giữ được bí mật khi buộc phải nhập trung tâm cai nghiện. Một năm sau, Houston lại tiếp tục phải dành thời gian trong trung tâm phục hồi chức năng vì tác hại của ma túy.

Vụ kiện cha đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối quan hệ không suôn sẻ giữa Whitney Houston và cha của cô, John Houston, bắt đầu vào năm 2002 khi công ty của John Houston kiện Whitney vì 100 triệu đôla - số tiền mà theo họ, họ phải vay để giúp đỡ sự nghiệp của Houston cũng như những câu chuyện thêu dệt xung quanh cuộc sống của nữ ca sĩ này[112]. Cả hai bố con đều xuất hiện trên truyền hình và chỉ trích lẫn nhau[113]. Sự việc chỉ tạm thời chấm dứt khi ông bố John Houston qua đời tháng 2 năm 2003.

Vấn đề về tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 1 năm 2007, tờ New York Post công bố "trong một bản báo cáo tài chính năm 2006, Houston gần như vuột mất buổi trình diễn trị giá 6 triệu đôla, 10 mẫu đất (khoảng 4 ha) tại hạt Morris vì khoản nợ hàng chục ngàn đôla tiền thuế". Bài báo sau đó cung cấp thêm nhiều thông tin chi tiết về việc Houston đã bán hàng trăm bộ cánh biểu diễn trên sân khấu tại một phiên đấu giá nhằm kiếm đủ số tiền để trả nợ. Tờ The Toronto Star thì cho biết ngày 4 tháng 1 năm 2007, đồ đạc được bán đấu giá để "che đậy những khoản phí chưa được chi trả"[114]. Còn hãng tin Reuters cũng công bố trong ngày hôm đó rằng Houston "bị buộc phải bán quần áo, nhạc cụ để trả nợ cho một cửa hàng quần áo" theo yêu cầu của tòa án cấp cao New Jersey[115] .

Houston mất quyền sở hữu khu đất ở Atlanta sau khi thế chấp hồi tháng 11 năm 2006. Cũng trong tháng đó, theo thông tin của Associated Press (AP), ngôi nhà của cô ở Mendham, New Jersey, lúc đó trị giá $5,6 triệu, cũng buộc phải bán vào tháng 1 năm 2007 vì số tiền thế chấp và thuế trị giá 1 triệu đôla chưa được bồi hoàn.

Cuộc sống gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Houston cưới ca sĩ nhạc R&B, Bobby Brown, năm 1992. Ngày 4 tháng 3 năm 1993, đôi uyên ương này vui mừng chào đón sự ra đời của cô con gái đầu lòng. Hai người đặt tên bé là Bobbi Kristina Houston Brown - một cái tên có cả họ tên của cha mẹ. Tháng 9 năm 2006, có tin đồn cho rằng cuộc hôn nhân của họ đang bên bờ vực thẳm, họ chuẩn bị ra tòa ly dị. Cuối cùng tin đồn cũng trở thành sự thật khi chính Houston là người nộp đơn lên tòa án, bắt đầu một chặng đường đầy khó khăn về mặt tinh thần. Theo đại diện của cô, Houston đã nộp đơn ly dị Brown vào ngày 8 tháng 9 năm 2006. Tuy nhiên, luật sư của Brown, Phaedra Parks, khẳng định rằng hành động trên hiện tại chỉ là ly thân chứ không thể kết luận là một bản thử nghiệm ly hôn để "chưng cầu ý dân". Trong hồ sơ ly hôn, Houston đòi quyền nuôi đứa con gái chung giữa hai người. Nhưng cuối cùng vào ngày 16 tháng 10 năm 2006, tòa án cũng chấp nhận đơn xin ly hôn của cô. Vào khoảng những năm 1997 - 2006, Bobby thường xuyên đánh Whitney và dụ dỗ cô vào con đường ma túy mặc dù cô vốn là "gái ngoan" của làng âm nhạc.

Houston được toàn quyền nuôi con. Ngày 24 tháng 4 năm 2007 là ngày chính thức cuộc hôn nhân của họ kết thúc. Ngày 26 tháng 4 năm 2007, Bobby Brown cũng đệ đơn lên tòa án cấp cao quận Cam nhằm chấm dứt hoàn toàn hôn nhân với Houston. Trong hồ sơ, anh khẳng định toàn bộ cuộc hôn nhân là một sự giả dối và anh hoàn toàn có khả năng chăm sóc con. Nhưng trên thực tế, Brown hiện đang là một người vô gia cư và trong tình trạng hoàn toàn suy thoái. Phiên tòa tiếp theo sẽ diễn ra vào tháng 6 năm 2007.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Whitney Houston bất ngờ đột tử vào ngày 11 tháng 2 năm 2012 ở tuổi 48. Tử thi của cô được phát hiện trong bồn tắm tại khách sạn Beverly Hills Hilton. Tang lễ của Whitney tổ chức trọng thể tại quê hương New Jersey với tham dự của khoảng 300 khách. Phần mộ của cô được chôn cất cạnh cha cô John Houston đã mất vào năm 2003 trước đó.

Ngày 22 tháng 3, 2012, cảnh sát hạt Los Angeles chính thức thông báo nguyên nhân dẫn đến cái chết của Houston là do "bệnh xơ vữa động mạch tim và sử dụng cocain".[116][117]

Những ngày cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày thứ 5 trước khi chết, Houston đã ghé thăm ca sĩ Brandy Norwood và Monica, cùng với Clive Davis, tại buổi diễn tập cho đêm trước ngày trao giải Grammy

Khách sạn Beverly Hilton, nơi thi thể Houston được tìm thấy

Ngày 11.2.2012, Houston được phát hiện là đã chết trong bồn tắm tại khách sạn Beverly Hilton ở Beverly Hills, tiểu bang California. Nhân viên y tế của Beverly HIlls đã đến vào khoảng 15h30 và phát hiện ra ca sĩ bất động nên đã thực hiện các biện pháp sơ cứu. Houston được tuyên bố là đã chết và 16h00. Cảnh sát địa phương cho biết không có dấu hiệu của một vụ ám sát.

Vào ngày 13.2.2012, TMZ cho biết cảnh sát hạt County Coroner bang L.A đã thông báo cho gia đình Houston rằng bà không chết do ngộp nước mà do hỗn hợp Xanax và những loại thuốc khác hòa trong rượu. Không có đủ lượng nước trong phổi chứng minh cho việc ca sĩ đã chết ngộp. Houston có thể đã chết trước khi bà chìm vào trong nước. TMZ cũng xác nhận rằng cô của Houston, bà Mary Jones, là người đầu tiên phảt hiện ra cái xác và cũng là người đầu tiên giám sát quá trình sơ cứu.

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Bữa tiệc của Clive Davis với nhiều tên tuổi tầm cỡ trong làng giải trí mà Houston dự định sẽ tham dự vẫn tiến hành theo kế hoạch nhưng chuyển thành một buổi tiệc tưởng nhớ Houston. Ông Davis phát biểu trong bữa tiệc: "Tất cả các bạn đều đã biết tin Whitney đã ra đi. Tôi không phải che đậy cảm xúc của mình đối với những người bạn thân thiết như các bạn. Tôi thực sự rất suy sụp trước mất mát về một con người xinh đẹp và tài năng vượt bậc. Cô công hiến cho sân khấu này với vẻ ngoài quý phái và những buổi biểu diễn đáng nhớ trong nhiều năm liền. Đơn giản, Whitney muốn âm nhạc sẽ tiếp diễn và gia đình của cô muốn chúng ta tiếp tục.

Tony Bennett đã đề cập tới việc Whitney Houston ra đi trước khi trình diễn tại bữa tiệc của Davis: "Trước tiên là Michael Jackson, sau đó là Amy Winehouse, và bây giờ là ca sĩ vĩ đại Whitney Houston. Tôi muốn mọi người ở đây vận động cho việc hợp thức hóa sử dụng thuốc phiện. Giống như là người Amsterdam đã làm. Không ai phải ẩn núp hay lén lút ở góc đường để mua thuốc. Người ta có thể tới gặp bác sĩ và mua". Đây là trích dẫn nguyên văn lời nói của Tony Bennet và diễn tả chân thực quan điểm của ông. Việc sử dụng nó không phải hàm ý rằng những hiểu biết của Tony về luật Hà Lan là chính xác. Bennet cũng đã phải vật lộn với cơn nghiện suốt những năm 70. Ông trình diễn bài hát "How do you keep the music playing" để tưởng nhớ Whitney Houston và cuộc chiến đấu với thuốc phiện dai dẳng của bà. "Đây là bài hát Frank Sinatra yêu cầu. Tôi muốn tặng nó cho Whitney. Lần đầu tiên gặp cô ấy, tôi đã gọi điện cho Clive Davis và nói rằng: "Anh đã tìm được cô ca sĩ tuyệt nhất mà tôi từng biết."

Danh sách các đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chi tiết Album của Whitney Houston

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album dành cho dịp nghỉ lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Album live[sửa | sửa mã nguồn]

Album soundtrack[sửa | sửa mã nguồn]

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Các đĩa đơn của Whitney Houston trong danh sách sau là các đĩa đơn quán quân tại các bảng xếp hạng của Mỹ (Billboard Hot 100, Billboard R&B/Hiphop Songs, Billboard Adult Contemporary, Billboard Hot Dance Club Songs), Liên hiệp Anh (UK Singles Chart), Úc (ARIA Singles Chart) và Đức (Media Control Charts).

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng
Flag of the United States.svg Flag of the United States.svg
R&B
Flag of the United States.svg
Adult
Flag of the United States.svg
Dance
Flag of the United Kingdom.svg Flag of Australia.svg Flag of Germany.svg
1985 "You Give Good Love" 3 1 4 - 93 58 -
"Saving All My Love for You" 1 1 1 - 1 20 18
"How Will I Know" 1 1 1 3 5 2 26
1986 "Greatest Love of All" 1 3 1 - 8 1 21
1987 "I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)" 1 2 1 1 1 1 1
"Didn't We Almost Have It All" 1 2 7 - 14 27 20
"So Emotional" 1 5 8 1 5 26 -
1988 "Where Do Broken Hearts Go" 1 2 1 - 14 48 -
"Love Will Save the Day" 9 5 10 1 10 77 37
"One Moment in Time" 5 5 1 - 1 54 1
1990 "I'm Your Baby Tonight" 1 1 7 17 5 6 5
"All the Man That I Need" 1 1 1 - 13 63 37
1992 "I Will Always Love You" 1 1 1 1 1 1 1
1993 "I'm Every Woman" 4 5 26 1 4 11 13
"I Have Nothing" 4 4 1 - 3 28 39
"Queen of the Night" - - - 1 14 88 64
1995 "Exhale (Shoop Shoop)" 1 1 5 - 11 18 26
1999 "Heartbreak Hotel" 2 1 - 1 25 17 61
"It's Not Right but It's Okay" 4 7 - 1 3 88 14
"My Love Is Your Love" 4 2 - 1 2 27 2
2000 "I Learned from the Best" 27 13 20 1 19 - 48
2002 "Whatchulookinat" 96 75 - 1 13 48 47
2003 "Try It on My Own" 84 80 10 1 - - -
"Love That Man" - - - 1 - - -
2009 "Million Dollar Bill" 100 16 - 1 5 - 41
Tổng Quán quân 11 8 9 14 4 3 3

Danh sách tour diễn và các buổi hòa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tour diễn thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Các buổi hòa nhạc phát sóng trên TV[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các phim và chương trình truyền hình đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các chương trình truyền hình đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2010, Whitney đã giành được 415 giải thưởng trong tổng số 562 đề cử.[119]. Cho đến nay, người ta ước tính được tổng số giải thưởng của cô vào khoảng hơn 600 giải, và không đếm hết được tổng số đề cử của cô.[120] Điều này một phần là do cô đã giành quá nhiều giải thưởng, trong đó có rất nhiều những giải thưởng nhỏ mà sau này vẫn chưa được thống kê lại đầy đủ. Chưa có báo cáo nào thống kê chính xác số giải thưởng và đề cử mà Whitney đã giành được cho đến nay. Dưới đây là danh sách cụ thể một số giải thưởng lớn của cô.

Giải thưởng và đề cử của Whitney Houston
Các giải thưởng lớn Số lần đoạt giải Số lần đề cử
Giải thưởng âm nhạc Mĩ (American Music Awards)
22 38
Giải Billboard Music Awards
31 66
Giải Emmy (Emmy Awards)
1 2
Giải Grammy (Grammy Awards)
7 26
Kỉ lục Guinness (Guinness World Records)
3 3
Giải NAACP Image Awards
19 34
Giải People's Choice Awards
6 9
Giải Soul Train Music Awards
8 16
Giải thưởng âm nhạc thế giới (World Music Awards)
6 6
Chứng nhận của RIAA
108
Chứng nhận của Music Canada
42
Chứng nhận của BPI
62
Chứng nhận của RIAJ
11
Tổng
Số giải thưởng đoạt được Trên 600 giải
Số đề cử Không thể đếm được

Các giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử Tác phẩm được đề cử Kết quả
1986 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất Saving All My Love for You[121][122] Đoạt giải
1986 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất You Give Good Love[121][123] Đề cử
1986 Album của năm Whitney Houston[121][124] Đề cử
1987 Thu âm của năm Greatest Love of All[125][126] Đề cử
1988 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me)[127] Đoạt giải
1988 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Didn't We Almost Have It All[128] Đề cử
1988 Album của năm Whitney[129] Đề cử
1989 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất One Moment in Time[130][131] Đề cử
1990 Trình diễn giọng R&B nhóm/tập thể xuất sắc nhất It Isn't, It Wasn't, It Ain't Never Gonna Be[132] Đề cử
1991 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I'm Your Baby Tonight[133] Đề cử
1992 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất All The Man That I Need[134][135] Đề cử
1993 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I Belong To You Đề cử
1994 Album của năm The Bodyguard: Original Soundtrack Album Đoạt giải
1994 Thu âm của năm I Will Always Love You Đoạt giải
1994 Trình diễn giọng Pop nữ xuất sắc nhất I Will Always Love You Đoạt giải
1994 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I'm Every Woman Đề cử
1997 Album của năm Waiting to Exhale: Original Soundtrack Album Đề cử
1997 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất Count On Me (với Cece Winans) Đề cử
1997 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất Exhale (Shoop Shoop) Đề cử
1997 Bài hát hay nhất được viết cho phim hoặc chương trình truyền hình Count On Me Đề cử
1998 Album R&B xuất sắc nhất The Preacher's Wife: Original Soundtrack Album Đề cử
1998 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất I Believe In You And Me Đề cử
2000 Trình diễn giọng R&B nữ xuất sắc nhất It's Not Right but It's Okay Đoạt giải
2000 Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất When You Believe (với Mariah Carey) Đề cử
2000 Album R&B xuất sắc nhất My Love Is Your Love Đề cử
2013 Tòa nhà danh vọng của giải Grammy Whitney Houston Được ghi danh

Các giải thưởng âm nhạc thế giới (World Music Awards)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Người được đề cử Kết quả
1994 Nghệ sĩ bán được nhiều bản thu âm nhất thế giới Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nghệ sĩ Pop bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới trong năm Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nghệ sĩ R&B bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới trong năm Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nghệ sĩ Mỹ bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới trong năm Whitney Houston Đoạt giải
1994 Nữ nghệ sĩ bán được nhiều đĩa nhạc nhất thế giới của kỷ nguyên Whitney Houston Đoạt giải
2004 Giải thưởng huyền thoại (Legend Award) Whitney Houston Đoạt giải

Các giải Emmy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Tác phẩm được đề cử Kết quả
1986 Màn trình diễn xuất sắc nhất trước công chúng/trong một chương trình âm nhạc Màn trình diễn tại giải Grammy lần thứ 28 (ca khúc Saving All My Love for You) Đoạt giải
1998 Sản phẩm/Chương trình ca nhạc xuất sắc nhất Rodgers & Hammerstein's Cinderella Đề cử

Các kỉ lục Guinness[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Người được đề cử Kết quả
2006 Ca sĩ có số lượng đĩa đơn liên tiếp đứng đầu các bảng xếp hạng tại Mĩ nhiều nhất Whitney Houston Đoạt giải
2006 Nghệ sĩ được trao nhiều giải thưởng nhất/có ảnh hưởng rộng nhất mọi thời đại Whitney Houston Đoạt giải
2012 Ca sĩ có nhiều hit liên tiếp nhất tại Vương quốc Anh Whitney Houston Đoạt giải

Các kỉ lục trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng đầu bảng nhiều tuần nhất
Ca khúc Ca sĩ Số tuần
đầu bảng
Thời gian
I Will Always Love You Whitney Houston 14 1992-1993
Đứng nhì bảng nhiều tuần nhất
Xếp thứ Ca khúc Ca sĩ Số tuần nhì bảng Thời gian
01 Exhale (Shoop Shoop) Whitney Houston 11 1995
Nghệ sĩ có nhiều ca khúc đầu bảng nhất
Xếp thứ Nghệ sĩ Số ca khúc
08 Whitney Houston 11 ca khúc
Nghệ sĩ có nhiều ca khúc đầu bảng liên tục nhất
Xếp thứ Nghệ sĩ Số ca khúc
(thời gian)
01 Whitney Houston 7 ca khúc
(1985-1988)

Các kỉ lục trong UK Singles Chart (Bảng xếp hạng đĩa đơn tại Vương quốc Anh)[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng đầu bảng nhiều tuần nhất
Ca khúc Ca sĩ Số tuần
đầu bảng
Thời gian
I Will Always Love You Whitney Houston 10 1992-1993
Nghệ sĩ nằm trong bảng xếp hạng UK Singles Chart lâu nhất (tính theo thập kỉ)
Thập niên Xếp thứ Ca sĩ Số tuần
nằm trong bảng xếp hạng
1990 09 Whitney Houston 169

Các kỉ lục trong bảng xếp hạng Billboard 200[sửa | sửa mã nguồn]

Album đứng đầu bảng nhiều tuần nhất
Album Ca sĩ Số tuần
đầu bảng
Thời gian
The Bodyguard: Original Soundtrack Album Whitney Houston 21 1992
Nghệ sĩ có tổng số tuần nhất trên bảng xếp hạng nhiều nhất
Xếp thứ Nghệ sĩ Số tuần
05 Whitney Houston 46

Giải thưởng điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải MTV Movie Awards[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Phim Vai diễn trong phim Kết quả
1993 Diễn xuất của diễn viên nữ xuất sắc nhất The Bodyguard Rachel Marron Đề cử
1993 Diễn xuất có bước đột phá nhất The Bodyguard Rachel Marron Đề cử
1993 Hợp tác trong phim xuất sắc nhất (cùng Kevin Costner) The Bodyguard Rachel Marron Đề cử

Các giải NAACP Image Award[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Hạng mục Phim Vai diễn trong phim Kết quả
1996 Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong một bộ phim điện ảnh Waiting to Exhale Savannah Jackson Đề cử
1997 Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong một bộ phim điện ảnh The Preacher's Wife Julia Biggs Đoạt giải
1998 Sê-ri phim truyền hình xuất sắc nhất Rodgers & Hammerstein's Cinderella Fairy Godmother Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Paul Finkelman (2009). Encyclopedia of African American history, 1896 to the present: from the age of segregation to the twenty-first century. Oxford University Press. tr. 459–460. ISBN 978-0-19-516779-5. 
  2. ^ “Sales and Certification Records”. Whitney Houston The Voice. Truy cập 25 tháng 10 năm 2014. 
  3. ^ “Whitney Houston, as of 2009, said she was "drug-free"”. Reuters. 15 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ “Whitney Houston Biography”. whitneyhouston.com. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ “Transformers: Whitney Houston”. AOL Black Voices. 2007. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  6. ^ “Christina performs on the 2001 BET Awards in a special tribute to Whitney Houston”. Billboard Magazine. 19 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  7. ^ “Whitney Houston Sings Her Way to Stardom with Hit Album, Road Tour”. Jet (Johnson Publishing Company) 68 (24): 59. 26 tháng 8 năm 1985. ISSN 0021-5996. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  8. ^ a ă â Huey, Steve (2006). “Whitney Houston biography”. Allmusic.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009 
  9. ^ "A History of Soul Music" (bằng). 2007-10-18. VH1. 
  10. ^ "Whitney Houston" (bằng). 'Biography'. 2007-10-18. The Biography Channel. 
  11. ^ Whitney Houston
  12. ^ “Whitney Houston Biography”. Rolling Stone. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011 
  13. ^ “Whitney Houston, 48, found dead in Beverly Hills”. Los Angeles Times. 11 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  14. ^ “Houston Hits: Master Plan, Blind Luck”. Los Angeles Times. http://articles.latimes.com/1986-06-08/entertainment/ca-9249_1_houston-hits. 
  15. ^ “RIAA Certification Searchable Database”. Recording Industry Association of America. 29 tháng 7 năm 1999. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ Johnson Publishing Company (13 tháng 10 năm 1986). Jet. Johnson Publishing Company. tr. 16. ISSN 00215996. 
  17. ^ Rizzo, Frank (30 tháng 8 năm 1987). “Houston Tops New Wave of Women With Pop Punch Aplenty”. Orlando Sentinel (Orlando Sentinel). tr. 11. 
  18. ^ Hunt, Dennis (1 tháng 2 năm 1987). “Anita Baker: 'Most Powerful Black Woman Singer of 80s'”. San Francisco Chronicle. tr. 44.  Đã định rõ hơn một tham số trong |work=|newspaper= (trợ giúp);
  19. ^ Aletti, Vince (13 tháng 8 năm 1987). “Review: Whitney. Wenner Media, LLC. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  20. ^ Johnson Publishing Company (2 tháng 5 năm 1988). Jet. Johnson Publishing Company. tr. 54. ISSN 00215996. 
  21. ^ Nielsen Business Media, Inc. (13 tháng 5 năm 2000). Billboard. Nielsen Business Media, Inc. tr. 104. ISSN 00062510. 
  22. ^ “Gold & Platinum search results”. Recording Industry Association of America. 29 tháng 11 năm 1995. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2010. 
  23. ^ Rolling Stone, tháng 12 năm 1991.
  24. ^ “Behind the glitter and glitz, the real Dolly Parton shines”. Seattle Pi. 
  25. ^ “Houston Still Plugged In As Contender”. Chicago Tribune. 
  26. ^ Today, USA (5 tháng 10 năm 1994). “Greeting Mandela with elegance and esteem”. Gannett Company, Inc.. 
  27. ^ “White House Lionizes Mandela.”. The Free Lance–Star Publishing Company. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 1994. 
  28. ^ “Gold & Platinum search results”. RIAA. Truy cập Retrieved June 13, 2010. 
  29. ^ “Answers to readers' questions about the 'Grease' Soundtrack, Whitney Houston and Crossfade.”. 
  30. ^ “"Billboard 1996 The Year in Music, Year-End Chart listing of Hot Adult Contemporary Artists, Hot Adult Contemporary Singles & Tracks and Top Soundtrack Albums"”. Billboard. 
  31. ^ “Houston Finds a New Groove with Arista Set”. Billboard: 1, 86. Truy cập 31 tháng 10 năm 1998. 
  32. ^ “RIAA Certification Searchable Database”. RIAA. Truy cập 29 tháng 7 năm 1999. 
  33. ^ “The Billboard chart listing for the week of December 5th, 1998”. Billboard: 126. 5 tháng 12 năm 1998. Truy cập 5 tháng 12 năm 1998. 
  34. ^ “Academy Award for Best Original Song”. Wikipedia English. 
  35. ^ “Past Winners Search: Whitney Houston”. National Academy of Recording Arts and Sciences. 
  36. ^ “1999 Video Music Awards”. MTV. Truy cập 9 tháng 9 năm 1999. 
  37. ^ “"My Love Is Your Love" single; triple platinum worldwide”. Billboard: 137. 20 tháng 11 năm 1999. 
  38. ^ “Whitney Houston Billboard chart history”. Billboard. 
  39. ^ a ă “Artist Chart History: Whitney Houston”. The Official Charts Company. 
  40. ^ “The Greatest Voice of All - Whitney Houston my love is your love”. Vibe Media Group.: 60. Tháng 4 năm 1999. 
  41. ^ Aletti, Vince. “Look Who's Ticking”. The Village Voice Music. Truy cập 8 tháng 12 năm 1988. 
  42. ^ “Whitney Houston World Tour '99 Becomes Europe's Highest Grossing Arena Tour of the Year”. all Business. Truy cập 19 tháng 10 năm 1999. 
  43. ^ “The American Recording Industry Announces its Artists of the Century”. RIAA. Truy cập 10 tháng 11 năm 1999. 
  44. ^ “TLC Nominated For Three Soul Train Music Awards”. MTV News. Truy cập 11 tháng 2 năm 2000. 
  45. ^ “TLC Rides Soul Train”. Billboard: 20. 18 tháng 3 năm 2000. 
  46. ^ “Entertainment Dublin gears up for MTV show”. BBC News. Truy cập 11 tháng 11 năm 1999. 
  47. ^ “Spears Tops 1999 MTV Europe Music Awards”. Billboard. Truy cập 12 tháng 11 năm 1999. 
  48. ^ “Bono Honored As Britney Spears Dominates MTV Europe Awards”. MTV News. Truy cập 12 tháng 11 năm 1999. 
  49. ^ “Houston's Latest 'Hits' Is Full Of Lots Of Little Extras”. Truy cập 23 tháng 6 năm 2000. 
  50. ^ “Whitney: The Greatest Hits review”. All Music. 
  51. ^ “The Billboard 200 chart listing for the week of June 3, 2000”. Billboard: 116. 3 tháng 6 năm 2000. 
  52. ^ “Hits of the World”. Billboard: 88. 17 tháng 6 năm 2000. 
  53. ^ “RIAA Gold & Platinum searchable database”. RIAA. 
  54. ^ “Florida Orchestra Sues Arista Over Anthem”. Billboard. Truy cập 17 tháng 12 năm 2001. 
  55. ^ “The Essential Whitney Houston CD”. Amazon. Truy cập 12 tháng 1 năm 2012. 
  56. ^ “David LaChapelle: 'Fashion, beauty and glamour are the mark of civilisation'”. The Guardian. Truy cập 19 tháng 2 năm 2012. 
  57. ^ “Whitney Houston Re-Enters Top 10 on Billboard 200”. Billboard. Truy cập 14 tháng 2 năm 2012. 
  58. ^ “Whitney Houston re-enters charts”. canoe.ca. Truy cập 1 tháng 3 năm 2012. 
  59. ^ “Ask Billboard: Madonna vs. Whitney: Who's Sold More?”. Billboard. Truy cập 14 tháng 8 năm 2009. 
  60. ^ Nguyên Minh. “'When You Believe': Ca khúc thay đổi Whitney Houston và Mariah Carey”. thethaovanhoa.vn. Truy cập 22 tháng 10 năm 2014. 
  61. ^ “'When You Believe': Ca khúc thay đổi Whitney và Mariah”. Zing News. Truy cập 22 tháng 10 năm 2014. 
  62. ^ “Whitney Houston: Huyền thoại một diva”. nguoiduatin.vn. Truy cập 27 tháng 12 năm 2012. 
  63. ^ “Whitney Houston Signs $100 Million Contract With Arista Records”. Jet: 18. 20 tháng 8 năm 2001. 
  64. ^ “The Rolling Stone Report”. Rolling Stone. Truy cập 4 tháng 7 năm 2002. 
  65. ^ “Arista Aims New Houston Album At 'Core Urban' Fans”. Billboard: Bìa trước. 14 tháng 12 năm 2002. 
  66. ^ a ă “Review by Jose F. Promis”. All Music. 
  67. ^ “Eagles top UK album chart”. Music Week. Truy cập 5 tháng 11 năm 2007. 
  68. ^ “Whitney Houston Albumguide”. Rolling Stone. 
  69. ^ “Vibe Media Group”. Vibe: 186. Tháng 9 năm 2003. 
  70. ^ “Just Whitney - Music Guide”. wikimusicguide.com. 
  71. ^ “NEWS - Whitney Houston's 'Just Whitney' On Track For Huge Opening Week”. classicwhitney.com. Truy cập 12 tháng 12 năm 2002. 
  72. ^ “Album artist 37 - Whitney Houston”. tsort.ìno. Truy cập 5 tháng 11 năm 2014. 
  73. ^ Bain, Becky. “Whitney Houston Was In Debt At Time Of Death, Owes Sony Millions”. idolator.com. Truy cập 1 tháng 3 năm 2012. 
  74. ^ “Allmusic - Just Whitney”. Allmusic. Truy cập 28 tháng 9 năm 2010. 
  75. ^ Caramanica, Jon. “Just Whitney”. Rolling Stone. Truy cập 30 tháng 12 năm 2002. 
  76. ^ “Just Whitney”. metacritic.com. Truy cập 10 tháng 12 năm 2002. 
  77. ^ “Whitney Houston Starts Work on New Album Today”. Fox News. 13 tháng 1 năm 2007. Truy cập 13 tháng 1 năm 2010. 
  78. ^ “Whitney Houston - The Ultimate Collection CD”. Amazon. 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập 11 tháng 2 năm 2011. 
  79. ^ “I Look to You”. Wikipedia English. 
  80. ^ “'I Look to You' by Whitney Houston”. Metacritic. CBS Interactive. 31 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010. 
  81. ^ “Million Dollar Bill Charts in the US”. Billboard. Truy cập tháng 8 năm 2009. 
  82. ^ “I Look to You song leads the way for Houston Charts in the US”. Billboard. Truy cập tháng 8 năm 2009. 
  83. ^ “Whitney Houston's weird performance on The X Factor gives her top five hit”. The Telegraph. 20 tháng 10 năm 2009. 
  84. ^ “Nearly 15m watch X Factor as Cheryl Cole performs solo single (apart from the bits she mimed)”. Mail Online. 20 tháng 10 năm 2009. 
  85. ^ “Whitney Houston sparkles on Italian X Factor”. Metro. 22 tháng 10 năm 2009. 
  86. ^ “Whitney Conquers Italy - Again!”. Whitney Houston. 21 tháng 10 năm 2009. 
  87. ^ “'I Look to You' Album Certified Platinium”. Whitney Houston. 1 tháng 12 năm 2009. 
  88. ^ “"Whitney Houston" 25th Anniversary”. Whitney Houston. 20 tháng 11 năm 2009. 
  89. ^ “This just in: Whitney Houston disappoints in Australia, Charlie Sheen enters rehab, Placido Domingo to undergo surgery”. The Washington Post. 24 tháng 2 năm 2010. 
  90. ^ “Whitney cancels more shows”. ITN. 24 tháng 2 năm 2010. 
  91. ^ “Whitney Houston Postpones Paris Show Due To Illness”. Billboard. 24 tháng 2 năm 2010. 
  92. ^ “Houston eyes will.i.am collaboration”. Digital Spy. 6 tháng 4 năm 2010. 
  93. ^ “Whitney Houston in Talks to Star Alongside Jordin Sparks in 'Sparkle' Remake”. Billboard. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  94. ^ “Whitney Houston circling 'Sparkle' musical remake with Jordin Sparks”. Entertainment Weekly. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  95. ^ “Whitney Houston in Talks to Star in Music-Themed Drama 'Sparkle' (Exclusive)”. The Hollywood Reporter. Truy cập 12 tháng 9 năm 2011. 
  96. ^ “Cee-Lo Green joins ‘Sparkle' cast”. Variety. Truy cập 23 tháng 9 năm 2011. 
  97. ^ “Sony dates a trio of pics”. Variety. Truy cập 8 tháng 12 năm 2011. 
  98. ^ “Volledige naam”. Twitter. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012. 
  99. ^ “WORLD PREMIERE: Whitney Houston & Jordin Sparks Duet ‘Celebrate’ From ‘Sparkle’ [AUDIO]”. ryanseacrest.com. Truy cập 21 tháng 5 năm 2012. 
  100. ^ “Havin a fun day/nite on#celebrate video”. Twitter. Truy cập 30 tháng 5 năm 2012. 
  101. ^ “Guys!!! Don't forget! TONIGHT”. Twitter. Truy cập 4 tháng 6 năm 2012. 
  102. ^ “Whitney Houston biography”. Rolling Stone. Truy cập 12 tháng 2 năm 2012. 
  103. ^ “Whitney Houston Gets Bad Press”. The Washington Post. Truy cập 6 tháng 4 năm 2000. 
  104. ^ “Fears for Whitney Houston grows”. TCM Breaking News. Truy cập 11 tháng 9 năm 2001. 
  105. ^ “Whitney Insider Tells of Drug Use, Failed Intervention”. Rolling Stone. Truy cập 7 tháng 6 năm 2000. 
  106. ^ “Houston was replaced at that Oscar telecast by singer Faith Hill.”. IMDB. Truy cập 23 tháng 12 năm 2004. 
  107. ^ “Transcript: Whitney Houston: 'I'm a Person Who Has Life'”. abc News. Truy cập 13 tháng 2 năm 2012. 
  108. ^ “The Rolling Stone Money Report: The pop stars who earned the most last year – and how they did it”. Rolling Stone. Truy cập 4 tháng 7 năm 2002. 
  109. ^ “Reports of Whitney Houston's Death Denied”. abc News. Truy cập 13 tháng 9 năm 2001. 
  110. ^ “In Switch, Whitney Houston has to sell an Album”. The New York Times. Truy cập 11 tháng 9 năm 2002. 
  111. ^ "'Celebrity Justice' Producer Discusses Whitney Houston Trial", CNN, December 5, 2002.
  112. ^ Transcript of Primetime Live feature, ABC, December 4, 2002; hosted at fan site Whitney-Fan.com
  113. ^ http://www.thestar.com/artsentertainment/article/167604
  114. ^ http://today.reuters.com/news/articlenews.aspx?type=peopleNews&storyID=2007-01-03T221146Z_01_N03276278_RTRIDST_0_PEOPLE-HOUSTON-AUCTION-DC.XML
  115. ^ “Whitney Houston drowned after cocaine use, says coroner”. BBC. 22 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  116. ^ Wynter, Kareen; Martinez, Michael (22 tháng 3 năm 2012). “Coroner: Drowning, heart disease, cocaine use killed Houston”. CNN. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  117. ^ “Album diễn live đầu tiên của Whitney Houston”. Công an thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập 25/10/2014. 
  118. ^ “All Of Whitney Houston’s Awards And Accomplishments”. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  119. ^ “Whitney Houston Awards”. 
  120. ^ a ă â “Grammy Awards and nominations for Whitney Houston - 1986”. Wikipedia. 
  121. ^ “28th Annual Grammy Awards Final Nominations”. Billboard: 64, 73. 25 tháng 1 năm 1986. 
  122. ^ “28th Annual Grammys A 'World'-class Event”. Los Angeles Times. Truy cập 26 tháng 2 năm 1986. 
  123. ^ “NARAS to Clive: We Stand Pat, Whitney's not a new artist”. Billboard: 74. 25 tháng 1 năm 1986. 
  124. ^ “Grammy Awards and nominations for Whitney Houston - 1987”. Wikipedia. 
  125. ^ “GRAMMY NOMINATIONS: HIGHS AND LOWS : Winwood, Gabriel and Simon Garner Most Nominations”. Los Angeles Times. Truy cập 9 tháng 1 năm 1987. 
  126. ^ “U2, Jackson Top Grammy Nominees : Simon, Winwood Seek Reprise of '87 Wins”. Los Angeles Times. Truy cập 15 tháng 1 năm 1988. 
  127. ^ “U2, Paul Simon Winners of Major Grammy Awards”. Los Angeles Times. Truy cập 3 tháng 3 năm 1988. 
  128. ^ “Grammy Awards and nominations for Whitney Houston - 1988”. Wikipedia. 
  129. ^ “Chapman, McFerrin Lead Grammy Race : Baker, Sting, Michael, Winwood Also Capture Mutliple Nominations”. Los Angeles Times. Truy cập 13 tháng 1 năm 1989. 
  130. ^ “Grammys to McFerrin and Chapman”. The New York Times. Truy cập 23 tháng 2 năm 1989. 
  131. ^ “The Grammys, Round 1 : Pop Music: Rock 'n' roll veterans lead pack of recording industry awards nominees.”. Los Angles Times. Truy cập 12 tháng 1 năm 1990. 
  132. ^ “List of 33rd Grammy Awards Nominations”. The Times News: 24. 11 tháng 1 năm 1991. 
  133. ^ “The Grammy Nominations”. Los Angeles Times. Truy cập 9 tháng 1 năm 1992. 
  134. ^ “34th Grammy Awards are set for Tuesday”. 22 tháng 2 năm 1992. 


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]