Beyoncé Knowles
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
|
||||||||||||||||||||
Beyoncé Giselle Knowles (sinh ngày 4 tháng 9 năm 1981 tại thành phố Houston tiểu bang Texas, Hoa Kỳ) là một ca sĩ nhạc R&B, nhạc sĩ, diễn viên, vũ công và nhà thiết kế thời trang người Mỹ. Sinh trưởng trong một gia đình có hai nguồn gốc Pháp và châu Phi, Beyoncé bắt đầu nổi tiếng khi cô tham gia và trở thành trưởng nhóm Destiny's Child, nhóm nhạc nữ thành công nhất mọi thời đại[1][2][3].
Sau một loạt thành công mang tính thương mại với nhóm nhạc mà cô gắn bó lâu năm, Knowles phát hành album solo đầu tay mang tên Dangerously in Love vào năm 2003. Album trở thành một trong những thành công lớn nhất của năm, đứng đầu tại các bảng xếp hạng nước Mỹ và Anh quốc. Trong album này có các ca khúc đoạt vị trí cao trên các bảng xếp hạng là "Crazy in Love" và "Baby Boy" đem về cho Beyoncé 5 giải thưởng Grammy vào năm 2004. Album thứ hai của Knowles, B’Day, được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 4 tháng 9 năm 2006 tiếp tục thêm vào danh sách thành tựu to lớn của cô. Các ca khúc "Déjà Vu", "Ring the Alarm" và "Irreplaceable" đều chiếm ngôi vị cao tại các bảng xếp hạng đĩa đơn danh tiếng. Album mới nhấy I Am... Sasha Fierce đã đượ phát hành vào ngày 18 tháng 11 năm 2008 với 2 đĩa đơn mở đầu là "If I Were a Boy" và "Single Ladies (Put a Ring on It)"
Beyoncé cũng bước sang nghiệp điện ảnh với vai diễn Deena Jones trong phim Dreamgirls. Bài hát Listen của cô nhận được đề cử bài hát hay nhất trong phim của giải Oscar và Quả Cầu Vàng (Golden Globe). Cô cũng được đề cử Quả Cầu Vàng cho danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất nhưng không giành được giải.
Mục lục |
[sửa] Tiểu sử
| Thông tin ở đây có thể đã lỗi thời hay có thể không còn đúng nữa. Nếu bạn biết gì về thông tin mới cho trang Beyoncé Knowles thì xin bạn giúp đỡ cập nhật các thông tin này. (Xin xem phần Trợ giúp ở đây.) |
[sửa] Bắt đầu sự nghiệp
Ngay từ khi lên 7 tuổi, Beyoncé đã có năng khiếu về ca hát. Cô giáo trong trường đã hướng dẫn và đưa Beyoncé đi dự các kỳ thi tài năng liên trường. Beyoncé từng thắng đến 30 giải thi hát và múa cấp địa phương.Trong khi các bạn cùng trang lứa vẫn mải chơi búp bê và ngậm kẹo thì cô bé Beyonce đã lên kế hoạch cho tương lai ở tuổi 11. Beyoncé cùng những người bạn thân thành lập một nhóm tứ ca và đi thi tại các cuộc thi hát địa phương.Cuộc đời nghệ thuật của Beyoncé tiến vào một ngã rẽ quan trọng vào năm 1993. Trong kỳ thi giải tài năng Star Search trên đài truyền hình, nhóm tứ ca đã bị chấm rớt. Nhìn Beyoncé khóc thật nhiều vì thất bại này, thân phụ cô quyết định bỏ nghề để làm quản trị viên cho nhóm tứ ca. Ông tin tưởng vào tài năng của con gái mình và quyết chí đưa con gái lên đài danh vọng.Từ một gia đình có đời sống sung túc, kể từ khi người cha bỏ nghề, kinh tế gia đình Beyoncé đã xuống cấp, chỗ ở phải di chuyển thường xuyên vì thiếu hụt tài chính. Nhưng Beyoncé đã không phụ lòng mong đợi của cha cô.Năm 1996, hãng đĩa Columbia ký hợp đồng với nhóm tứ ca của Beyoncé. Nhưng hợp đồng chưa thực hiện được bao lâu thì hãng Columbia phải hủy vì một thành viên trong nhóm đã tự ý rút ra khỏi nhóm. Từ đó, nhóm nhạc của Beyoncé còn lại 3 người và mang tên mới là Destiny Child. Tam ca này ký hợp đồng với hãng Def Jam Records năm 1997 và sự nghiệp của nhóm bắt đầu đi lên từ đó.
[sửa] Dangerously in Love
Năm 2003, Beyonce ra mắt album solo đầu tiên của cô, Dangerously in Love. Lọt vào bảng xếp hạng Billboard 200 với 317.000 bản bán ra trong tuần đầu tiên, album được phong tặng là album bạch kim chỉ sau 3 tuần phát hành. Dangerously in Love còn nằm trong danh sách của bảng xếp hạng album ở Anh, Canada, Hà Lan, Đức, Hy Lạp và Philippines. Tổng cộng album này đã bán được hơn 4 triệu bản tại Mỹ và hơn 11 triệu bản trên toàn thế giới. Khi đĩa đơn và album của cô đồng thời đoạt thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng tại hai quốc gia Anh và Mỹ, cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên đạt danh hiệu cao quý Thành tựu nhân đôi này kể từ năm 1983 trở lại đây. Trước đó, vào thập niên 1960 và 70, ban nhạc Beatles, Simon & Garfunkel, và Rod Stewart cũng từng đoạt danh hiệu này. Ngay lập tức, Beyoncé trở thành một trong những nghệ sĩ có nhạc phẩm bán chạy nhất năm 2003.
Tại lễ trao giải Grammy 2006, Knowles giành một giải thưởng trong hạng mục "Phong cách trình diễn R&B xuất sắc nhất cho song ca hoặc nhóm nhạc" cho ca khúc "So Amazing" hát chung với Stevie Wonder.
[sửa] B'Day
Album thứ hai của Knowles có tên gọi B’Day được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 4 tháng 9 năm 2006, trùng với ngày sinh nhật lần thứ 25 của cô và tại Mỹ sau đó 1 ngày. Chỉ trong vòng tuần đầu tiên, album đã bán được hơn 541.000 bản tính riêng tại Mỹ, ngay lập tức trở thành album số 1 đem về cho cô danh hiệu Album có doanh số cao nhất trong tuần đầu. Beyoncé trở thành một nghệ sĩ hát solo có tiếng xinh đẹp và tài năng vượt qua cả nữ ca sĩ nhạc Pop Christina Aguilera vốn cũng rất thành công trên thị trường âm nhạc[cần dẫn nguồn].
Đĩa đơn chủ đạo của album là "Déjà Vu" trở thành một hit hàng đầu tại nước Mỹ. Các bảng xếp hạng nhạc R&B của Hoa Kỳ và Anh quốc tràn ngập tên của Beyoncé. Báo chí nhắc đến cô như một hiện tượng âm nhạc đối với đại bộ phận giới trẻ.
[sửa] Điện ảnh
Thành công trong sự nghiệp âm nhạc, Beyoncé tiếp tục khẳng định mình trong vai trò là diễn viên. Beyoncé đã tham gia đóng phim từ năm 2001 với các vai: Carmen trong Carmen: A Hip Hopera (2001), Foxxy trong Austin Powers in Goldmember hay Lilly trong The Fighting Temptations (2003)...
Trong mùa lễ tình nhân 2006, Beyonce xuất hiện với vẻ đẹp tươi sáng, duyên dáng và gợi cảm trong phim The Pink Panther do Shawn Levy đạo diễn. Beyoncé vào vai nàng Xania - ngôi sao ca nhạc nổi tiếng, người yêu của Yves - một huấn luyện viên bóng đá người Pháp. Sau khi Yves bị kẻ thủ ác "xử" bằng một phi tiêu tẩm độc để cuỗm chiếc nhẫn đính viên kim cương khổng lồ trên tay ông, Xania bất đắc dĩ dính líu vào "màn" điều tra ngớ ngẩn của một tay thám tử đa nghi... Phim chiếm được ngôi đầu bảng xếp hạng trong tuần lễ phim tình nhân với 21,7 triệu USD thu về.
Cuối năm 2006, cô trình làng với vai Deena - thành viên một nhóm tam ca ở thành phố Chicago - trong bộ phim Dreamgirls (phiên bản từ vở ca kịch cùng tên của sân khấu Broadway). Beyoncé đã xem Deena là vai diễn "trời sinh" lớn nhất cho đến nay của cô. Dreamgirls đã giành 3 giải quan trọng tại lễ trao giải Quả Cầu Vàng lần thứ 64. Bản thân Beyoncé Knowles cũng được đề cử cho vai nữ chính xuất sắc nhất nhưng thật tiếc là cô không nhận được giải này mà giải thưởng đã rơi vào tay nữ diễn viên kỳ cựu, Meryl Streep.
Tại lễ trao giải Oscar 2006, vai diễn Deena cũng được mọi người kỳ vọng sẽ đem lại cho Beyoncé một tượng vàng danh giá. Nhưng tiếc rằng tượng vàng Oscar lại về tay diễn viên da màu Jennifer Hudson, bạn diễn của Beyoncé trong Dreamgirls. Tuy nhiên, sau những ấn tượng để lại qua vai diễn Deena Jones, cô đang được các nhà làm phim chào đón với nhiều vai diễn mới.
[sửa] Thời trang
Hàng năm, tạp chí thời trang thể thao danh tiếng Sports Illustrated đều xuất bản một ấn bản đặc biệt giới thiệu các mẫu áo tắm hấp dẫn được thể hiện với một loạt các người đẹp thể thao, người mẫu hàng đầu thế giới.
Vậy nên, việc một người đẹp "ngoại đạo" như Beyoncé Knowles được lên bìa ấn bản áo tắm Sports Illustrated 2007 là một điều khá bất ngờ. Beyoncé là người mẫu không chuyên duy nhất được xuất hiện trên bìa tạp chí này. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sức hấp dẫn và vẻ đẹp bốc lửa của nữ ca sĩ da màu 25 tuổi này đã được sánh ngang với những chân dài tên tuổi như Elle Macpherson, Heidi Klum, Tyra Banks, Petra Nemcova...
Điều đặc biệt là tất cả những bộ đồ tắm Beyoncé "diện" trong chùm ảnh này đều là trang phục của hãng thời trang cao cấp của Beyoncé và mẹ cô - House of Dereon. Chuỗi cửa hiệu thời trang này của hai mẹ con Beyoncé đang ngày một ăn nên làm ra.
[sửa] Quảng cáo
Thành công ở lĩnh vực ca hát, mon men nhảy vào danh sách các "đại gia" điện ảnh, song Beyoncé Knowles chưa từ bỏ những ước mơ khác. Cùng với sự nghiệp ca nhạc đang nở rộ, người đẹp da màu có thân hình nóng bỏng này còn là người mẫu cho sản phẩm nước hoa True Star, L'Oreal và hãng nước ngọt Pepsi. Beyoncé còn ký hợp đồng quảng cáo trị giá đến 2,5 triệu USD làm người mẫu độc quyền cho nhãn hiệu Tommy Hilfiger của Mỹ.
[sửa] Cuộc sống riêng tư
Về cuộc sống riêng tư, Beyoncé hiện đang là bạn gái của rapper Jay-Z từ năm 2002. Họ chưa hề một lần lên tiếng công bố chính thức mối quan hệ của mình trước công chúng bởi Beyonce khẳng định rằng việc công bố như thế chẳng có ích lợi gì cho mối quan hệ của họ. Cô ca sĩ thể hiện mong muốn được sớm xây dựng gia đình và có những đứa con với người tình Jay-Z còn anh chàng ca sĩ đồng nghiệp của cô thì tỏ ra không quá mặn mà với ước mơ "ngôi nhà và những đứa trẻ".
[sửa] Danh sách đĩa nhạc
[sửa] Album
[sửa] EP
|
[sửa] DVD
[sửa] Tour lưu diễn
|
[sửa] Đĩa đơn quán quân
| Năm | Đĩa đơn | Vị trí cao nhất[4][5][6] | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
Mỹ |
Anh |
Úc |
Đức |
Pháp |
Châu Âu |
Thế giới |
||
| 2003 | "Crazy in Love" (với Jay-Z) | 1 | 1 | 2 | 6 | 21 | 1 | 1 |
| "Baby Boy" (với Sean Paul) | 1 | 2 | 3 | 4 | 8 | 4 | 3 | |
| 2006 | "Check on It" (với Slim Thug) | 1 | 3 | 5 | 11 | 32 | 6 | 2 |
| "Déjà Vu" (với Jay-Z) | 4 | 1 | 12 | 9 | 23 | 5 | 8 | |
| "Irreplaceable" | 1 | 4 | 1 | 11 | 10 | 4 | 1 | |
| 2007 | "Beautiful Liar" (với Shakira) | 3 | 1 | 5 | 1 | 1 | 1 | 2 |
| 2008 | "If I Were a Boy" | 3 | 1 | 3 | 3 | 5 | 1 | - |
| "Single Ladies (Put a Ring on It)" | 1 | 7 | 5 | - | - | - | - | |
| Tổng | 5 | 4 | 1 | 1 | 1 | 3 | 2 | |
[sửa] Chú thích
- ^ “Destiny's Child Named The World's Best Selling Female Group Of All Time!”. Sony BMG Australia (2 tháng 9, 2005). Truy cập 28 tháng 12 năm 2006.
- ^ “Destiny's World Domination”. Yahoo! Music (1 tháng 9, 2005). Truy cập 28 tháng 12 năm 2006.
- ^ “Destiny's Child Ruled At World Music Awards”. Softpedia (3 tháng 9, 2005). Truy cập 28 tháng 12 năm 2006.
- ^ “Beyoncé Knowles: Charts”. MusicSquare.net. Truy cập 31 tháng 3 năm 2007.
- ^ “Chart Data: Beyoncé”. Mariah-Charts.com. Truy cập 31 tháng 3 năm 2007.
- ^ “Euro 200”. ApcChart.com. Truy cập 31 tháng 3 năm 2007.
[sửa] Liên kết ngoài
[sửa] Website
- Trang web chính thức tại Mỹ
- Trang web chính thức tại Anh
- Trang wed chính thức ở Nhật Bản
- Beyoncé trên trang Internet Movie Database
[sửa] Phỏng vấn
- Blender magazine interview (tháng 10, 2006)
- The Guardian interview (18 tháng 8, 2006)
- BBC interview (16 tháng 8, 2006)
- Interview at Cannes Film Festival (19 tháng 3, 2006)
- Monsters and Critics.com Q&A (8 tháng 2, 2006)
- IGN Films interview (8 tháng 2, 2006)
- ComingSoon.net interview (6 tháng 2, 2006)
- About.com interview (tháng 2, 2006)
- Teen Music interview (19 tháng 11, 2003)
- Cinema Confidential interview (16 tháng 11, 2003)
- Film Monthly interview (17 tháng 9, 2002)
- Life After Fame interview (18 tháng 12, 2006)
|
||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||

