Beyoncé Knowles
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Beyoncé | |
|---|---|
Beyonce biểu diễn tại Tây Ban Nha năm 2007
|
|
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Ngày sinh | 4 tháng 9 năm 1981 |
| Nơi sinh | |
| Thể loại | R&B, soul |
| Nghề nghiệp | ca sĩ, nhạc sĩ, nhà thu âm, diễn viên, người mẫu, nhà thiết kế thời trang |
| Năm hoạt động | 1990–nay |
| Hãng đĩa | Columbia, Sony Urban Music |
| Trang web | Trang wed chính thức |
Beyoncé Giselle Knowles (sinh ngày 4 tháng 9 năm 1981) là một ca sĩ nhạc R&B, nhạc sĩ, diễn viên, vũ công và nhà thiết kế thời trang người Mỹ. Beyonce bắt đầu nổi tiếng khi cô tham gia và trở thành trưởng nhóm Destiny's Child, nhóm nhạc nữ thành công nhất mọi thời đại[1][2][3].
Sau một loạt thành công mang tính thương mại với nhóm nhạc mà cô gắn bó lâu năm, Knowles phát hành album solo đầu tay mang tên Dangerously in Love vào năm 2003. Album trở thành một trong những thành công lớn nhất của năm, đứng đầu tại các bảng xếp hạng nước Mỹ và Anh quốc. Trong album này có các ca khúc đoạt vị trí cao trên các bảng xếp hạng là "Crazy in Love" và "Baby Boy" đem về cho Beyoncé 5 giải thưởng Grammy vào năm 2004. Album thứ hai của Knowles, B’Day, được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 4 tháng 9 năm 2006 tiếp tục thêm vào danh sách thành tựu to lớn của cô. Các ca khúc "Déjà Vu", "Ring the Alarm" và "Irreplaceable" đều chiếm ngôi vị cao tại các bảng xếp hạng đĩa đơn danh tiếng.
Beyonce cũng bước sang nghiệp điện ảnh với vai diễn Deena Jones trong phim Dreamgirls. Bài hát Listen của cô nhận được đề cử bài hát hay nhất trong phim của giải Oscar và Quả Cầu Vàng (Golden Globe). Cô cũng được đề cử Quả Cầu Vàng cho danh hiệu Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất nhưng không giành được giải.
Mục lục |
[sửa] Sự nghiệp âm nhạc
[sửa] Dangerously in Love
Năm 2003, Beyonce ra mắt album solo đầu tiên của cô, Dangerously in Love. Lọt vào bảng xếp hạng Billboard 200 với 317.000 bản bán ra trong tuần đầu tiên, album được phong tặng là album bạch kim chỉ sau 3 tuần phát hành. Dangerously in Love còn nằm trong danh sách của bảng xếp hạng album ở Anh, Canada, Hà Lan, Đức, Hy Lạp và Philippines. Tổng cộng album này đã bán được hơn 4 triệu bản tại Mỹ và hơn 11 triệu bản trên toàn thế giới. Khi đĩa đơn và album của cô đồng thời đoạt thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng tại hai quốc gia Anh và Mỹ, cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên đạt danh hiệu cao quý Thành tựu nhân đôi này kể từ năm 1983 trở lại đây. Trước đó, vào thập niên 1960 và 70, ban nhạc Beatles, Simon & Garfunkel, và Rod Stewart cũng từng đoạt danh hiệu này. Ngay lập tức, Beyoncé trở thành một trong những nghệ sĩ có nhạc phẩm bán chạy nhất năm 2003.
Tại lễ trao giải Grammy 2006, Knowles giành một giải thưởng trong hạng mục "Phong cách trình diễn R&B xuất sắc nhất cho song ca hoặc nhóm nhạc" cho ca khúc "So Amazing" hát chung với tevie Wonder.
[sửa] B'Day
Album thứ hai của Knowles có tên gọi B’Day được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 4 tháng 9 năm 2006, trùng với ngày sinh nhật lần thứ 25 của cô và tại Mỹ sau đó 1 ngày. Chỉ trong vòng tuần đầu tiên, album đã bán được hơn 541.000 bản tính riêng tại Mỹ, ngay lập tức trở thành album số 1 đem về cho cô danh hiệu Album có doanh số cao nhất trong tuần đầu. Beyoncé trở thành một nghệ sĩ hát solo có tiếng xinh đẹp và tài năng vượt qua cả nữ ca sĩ nhạc Pop Christina Aguilera vốn cũng rất thành công trên thị trường âm nhạc[cần dẫn nguồn].
Đĩa đơn chủ đạo của album là "Déjà Vu" trở thành một hit hàng đầu tại nước Mỹ. Các bảng xếp hạng nhạc R&B của Hoa Kỳ và Anh quốc tràn ngập tên của Beyoncé. Báo chí nhắc đến cô như một hiện tượng âm nhạc đối với đại bộ phận giới trẻ.
[sửa] Cuộc sống riêng tư
Về cuộc sống riêng tư, Beyonce hiện đang là bạn gái của rapper Jay-Z từ năm 2002. Họ chưa hề một lần lên tiếng công bố chính thức mối quan hệ của mình trước công chúng bởi Beyonce khẳng định rằng việc công bố như thế chẳng có ích lợi gì cho mối quan hệ của họ. Cô ca sĩ thể hiện mong muốn được sớm xây dựng gia đình và có những đứa con với người tình Jay-Z còn anh chàng ca sĩ đồng nghiệp của cô thì tỏ ra không quá mặn mà với ước mơ "ngôi nhà và những đứa trẻ".
[sửa] Danh sách các đĩa nhạc
[sửa] Album
[sửa] EP
|
[sửa] DVD
[sửa] Tour lưu diễn
|
[sửa] Đĩa đơn quán quân
| Năm | Đĩa đơn | Vị trí cao nhất[4][5][6] | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 2003 | "Crazy in Love" (featuring Jay-Z) | 1 | 1 | 2 | 6 | 21 | 1 | 1 |
| "Baby Boy" (featuring Sean Paul) | 1 | 2 | 3 | 4 | 8 | 4 | 3 | |
| 2006 | "Check on It" (featuring Slim Thug) | 1 | 3 | 5 | 11 | 32 | 6 | 2 |
| "Déjà Vu" (featuring Jay-Z) | 4 | 1 | 12 | 9 | 23 | 5 | 8 | |
| "Irreplaceable" | 1 | 4 | 1 | 11 | 10 | 4 | 1 | |
| 2007 | "Beautiful Liar" (với Shakira) | 3 | 1 | 5 | 1 | 1 | 1 | 2 |
| Tổng | 4 | 3 | 1 | 1 | 1 | 2 | 2 | |
[sửa] Phim đã đóng
Dưới đây là danh sách những bộ phim mà Beyoncé đã đóng từ năm 2002 - 2006.
| Bộ phim | Vai diễn | Năm | Hãng phim |
| Carmen : A hip hopera | Carmen Brown | 2001 | MTV |
| Austin Powers in Goldmember | Foxxy Cleopatra | 2002 | New line Cinema |
| The Fighting Temptations | Lilly | 2003 | MTV Films |
| The Pink Panther | Xania | 2006 | Metro-Goldwyn-Mayer |
| Dreamgirls | Denna Jones | 2006 | Dreamwork / Paramount |
[sửa] Chú thích
- ^ "Destiny's Child Named The World's Best Selling Female Group Of All Time!". Sony BMG Australia (September 2 2005). truy cập 2006-12-28.
- ^ "Destiny's World Domination". Yahoo! Music (September 1 2005). truy cập 2006-12-28.
- ^ "Destiny's Child Ruled At World Music Awards". Softpedia (September 3 2005). truy cập 2006-12-28.
- ^ "Beyoncé Knowles: Charts". MusicSquare.net. truy cập 2007-03-31.
- ^ "Chart Data: Beyoncé". Mariah-Charts.com. truy cập 2007-03-31.
- ^ "Euro 200". ApcChart.com. truy cập 2007-03-31.
[sửa] Liên kết ngoài
[sửa] Website
[sửa] Phỏng vấn
- Blender magazine interview (October, 2006)
- The Guardian interview (August 18, 2006)
- BBC interview (August 16, 2006)
- Interview at Cannes Film Festival (May 19, 2006)
- Monsters and Critics.com Q&A (February 8, 2006)
- IGN Films interview (February 8, 2006)
- ComingSoon.net interview (February 6, 2006)
- About.com interview (February 2006)
- Teen Music interview (September 19, 2003)
- Cinema Confidential interview (September 16, 2003)
- Film Monthly interview (September 17, 2002)
- Life After Fame interview (December 18, 2006)
| Bài này còn sơ khai trong lĩnh vực âm nhạc. Chúng ta đang có những nỗ lực để hoàn thiện bài này. Nếu bạn biết về vấn đề này, bạn có thể giúp đỡ bằng cách viết bổ sung (trợ giúp). |

