Beyoncé

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Beyoncé Knowles)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Beyoncé

Beyoncé năm 2013
Sinh Beyoncé Giselle Knowles
4 tháng 9, 1981 (32 tuổi)
Houston, Texas, Mỹ
Nơi cư trú Manhattan, New York, Mỹ[1]
Tên khác
  • Beyoncé Knowles
  • Beyoncé Knowles-Carter
Công việc Ca sĩ, diễn viên
Năm hoạt động 1997–nay
Tài sản $350 triệu đô-la (được tính vào tháng 5 năm 2013)[2]
Vợ (hoặc chồng) Jay-Z (k.hôn  2008–nay) «start: (2008-04-04)»"Hôn nhân: Jay-Z đến Beyoncé" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Beyonc%C3%A9)
Con cái 1
Cha mẹ
Người thân Solange Knowles (em gái)
Chữ ký
Chữ ký của Beyoncé
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Giọng hát
Hãng đĩa Columbia
Hợp tác Destiny's Child
Website
beyonce.com
Giải thưởng xem Danh sách giải thưởng và đề cử


Beyoncé Giselle Knowles, phát /biˈjɒns/ bee-YON-say, (sinh ngày 4 tháng 9 năm 1981) [3] hay còn được biết đến với nghệ danh Beyoncé [4][5] là một nghệ sĩ thu âm nhạc R&B, diễn viên và nhà thiết kế thời trang người Mỹ. Cô được sinh ra và lớn lên tại Houston, Texas, Mỹ. Tại đây, cô đã tham gia vào vài buổi diễn nghệ thuật tại trường và đồng thời bộc lộ tài năng của mình trong các cuộc thi âm nhạc khi còn nhỏ. Tên tuổi của Knowles sau đó đã nở rộ vào cuối thập niên 1990 với tư cách là ca sĩ chính của nhóm nhạc nữ R&B Destiny's Child, một trong những nhóm nhạc nữ có số lượng đĩa bán chạy nhất mọi thời đại.

Trong khoảng thời gian tạm ngừng hoạt động của Destiny's Child, Knowles đã phát hành album phòng thu riêng đầu tay của cô là Dangerously in Love vào năm 2003, gồm hai đĩa đơn quán quân là "Crazy in Love" và "Baby Boy" và trở thành một trong những album thành công nhất năm ấy khi đã giúp Knowles giành được năm Giải Grammy.[6] Sau khi nhóm đã tan rã vào năm 2005, Knowles đã phát hành album phòng thu thứ hai của mình mang tên B'Day vào năm 2006. Album xuất hiện tại vị trí đầu bảng trên bảng xếp hạng Billboard 200 và kèm theo hai ca khúc thành công là "Irreplaceable" và "Beautiful Liar". Tiếp đó, cô cũng đã phát hành album I Am... Sasha Fierce vào năm 2008, cùng đĩa đơn quán quân "Single Ladies (Put a Ring on It)". Album đã giúp cô tiếp tục giành thêm sáu giải Grammy tại lễ trao Giải Grammy lần thứ 52 cùng kỷ lục Nghệ sĩ nữ đoạt nhiều giải Grammy nhất trong một đêm.[7][8] Năm 2011, Knowles đã phát hành album phòng thu thứ tư, 4, trở thành album quán quân solo thứ tư liên tiếp của cô trên bảng xếp hạng Billboard 200. Album đã giúp Knowles trở thành nghệ sĩ nữ thứ hai và nghệ sĩ tổng thể thứ ba có bốn album phòng thu của mình đều xuất hiện tại vị trí đầu bảng.

Ngoài công việc chính của mình là âm nhạc, Knowles đồng thời cũng tham gia vào ngành "Nghệ thuật Thứ 7". Năm 2001, cô đã xuất hiện trong bộ phim truyền hình nhạc kịch đầu tiên của mình mang tên Carmen: A Hip Hopera. Cô sau đó cũng đã tham gia vào những bộ phim màn ảnh rộng, đáng chú ý nhất chính là Dreamgirls (2006), đã giúp cô nhận được hai đề cử Quả Cầu Vàng, và bộ phim Cadillac Records (2008). Năm 2004, Knowles và mẹ của cô đã giới thiệu về hãng thời trang gia đình của họ, House of Deréon; Knowles đồng thời còn là đại sứ cho các thương hiệu nổi tiếng như Pepsi, Tommy Hilfiger, ArmaniL'Oréal. Vào tháng 6 năm 2010, Knowles đã được Forbes liệt kê vào danh sách 100 Người nổi tiếng Quyền lực và có tầm Ảnh hưởng nhất trên thế giới với vị trí á quân,[9][10] và vị trí đầu bảng trong danh sách Những Nhạc sĩ Quyền lực và có tầm Ảnh hưởng nhất trên thế giới.[11]

Knowles đã nhận được khá nhiều giải thưởng và những danh hiệu quý giá trong sự nghiệp của mình. Ngoài ra, cô còn là một trong những nghệ sĩ được vinh danh bởi Giải Grammy, và là nghệ sĩ nữ đứng thứ ba[12] với tổng cộng 16 giải thưởng mà cô đã nhận[13] - trong đó có 13 giải Grammy với tư cách là một ca sĩ solo kèm theo 3 giải thưởng nữa với tư cách là thành viên của Destiny's Child.[14] Tại giải 2011 Billboard Music Awards, Knowles đã nhận được Giải Billboard Thiên niên kỷ cho những đóng góp thành tựu trong sự nghiệp của cô cũng như ảnh hưởng của cô trong ngành công nghiệp âm nhạc. Knowles sau đó còn được liệt kê ở vị trí thứ 4 trong danh sách Những Nghệ sĩ của Thập niên 2000,[15] trở thành Nghệ sĩ nữ thành công nhất và là Nghệ sĩ hàng đầu trên Đài phát thanh của Thập kỷ do Billboard bầu chọn.[16] Hiệp hội Recording Industry Association of America (RIAA), đồng thời cũng đã liệt kê Knowles là nghệ sĩ có số đĩa tiêu thụ cao nhất thập kỷ.[17][18] Tính riêng tại Hoa Kỳ, Knowles đã bán tổng cộng 11.2 triệu album và gần 25 triệu đĩa đơn vào tháng 5 năm 2010. Vào tháng 9 năm 2009, cô đã bán tổng 75 triệu đĩa toàn thế giới, giúp cô trở thành một trong những nghệ sĩ có số đĩa bán chạy nhất mọi thời đại.[19]

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1981-1996: Cuộc sống và bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Knowles được sinh ra tại Houston, Texas, là con gái của Mathew Knowles, một người quản lý ghi âm chuyên nghiệp, và Tina Knowles (nhũ danh Beyoncé), một nhà thiết kế trang phục kiêm nhà tạo mẫu tóc. Cha của Knowles là một người Mỹ gốc Phi và mẹ của cô thuộc dòng dõi của Creole (người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa, người Pháp).[20] Knowles đã rửa tội sau khi lấy tên thời con gái của mẹ cô, được cô coi như sự tôn kính đến mẹ của mình.[20] Cô còn một người em gái của Solange, một ca sĩ kiêm nhạc sĩ và diễn viên.

Knowles đã theo học tại Trường tiểu học St. Mary ở Texas, nơi cô đăng ký theo học lớp khiêu vũ, bao gồm cả múa balêjazz. Tài năng của cô được phát hiện khi người hướng dẫn múa của cô bắt đầu khó khăn với một bài hát và cô đã giúp giáo viên của mình hoàn thành bài hát này bằng cách hát ca khúc với nhiều nốt khó.[21] Lên 7 tuổi, cô bắt đầu chú ý đến những chương trình tài năng tại trường học. Knowles đã tham gia cuộc thi và cô đã hát bài hát của John Lennon, "Imagine" và giành chiến thắng.[22][23] Ở tuổi đó, Knowles bắt đầu đạt được sự chú ý từ báo chí địa phương, cô còn xuất hiện trong một bài báo của Houston Chronicle với tư cách là một ứng cử viên cho giải thưởng The Sammy về biểu diễn nghệ thuật ở địa phương.[24] Vào mùa thu năm 1990, Knowles đã đăng ký vào trường tiểu học Parker, một trường chuyên dạy âm nhạc tại Houston, nơi cô sẽ thể hiện bản thân trên sân khấu với dàn hợp xướng của nhà trường.[21] Cô cũng đã theo học Trường trung học biểu diễn và nghệ thuậtHouston[25] và sau đó đã chuyển đến Trường trung học Alief Elsik, nằm ở vùng ngoại ô tự quản Houston, Alief.[20][26] Knowles còn là một nghệ sĩ solo trong đoàn ca nhà thờ nơi cô sinh sống, St. John's United Methodist Church.[21] Cô chỉ kéo dài thời gian hoạt động trong các đoàn ca chỉ trong hai năm.[27]

Khi lên 8 tuổi, Knowles đã gặp LaTavia Roberson tại một buổi thử giọng cho một nhóm nhạc nữ.[28] Họ cùng bạn của Knowles là Kelly Rowland, đã thành lập nhóm nhạc rap và nhảy múa. Ban đầu nhóm được đặt tên là Girl's Tyme[22] nhưng sau đó họ đã dần giảm đến sáu thành viên.[21] Nhà sản xuất nhạc R&B, Arne Frager, đã bay sang Houston để xem họ biểu diễn. Ông cuối cùng đã mang họ đến phòng thu của mình - The Plant Recording Studios - ở Bắc California, và chú ý để giọng hát của Knowles.[21] Là một phần của nỗ lực để đưa Girl's Tyme giành một hợp đồng cho một hãng thu lớn, chiến lược đầu tiên của Frager là để họ tham gia chương trình Star Search [29], chương trình tài năng lớn nhất trên truyền hình quốc gia trong thời gian đó.[21] Girl's Tyme tham gia vào cuộc thi, nhưng thất bại vì bài hát mà họ chọn không được thực hiện tốt, Knowles cũng thừa nhận điều đó.[30][31] Knowles đã gặp trở ngại đầu tiên trong sự nghiệp của mình, nhưng cô đã lấy lại sự tự tin sau khi biết rằng ngôi sao nhạc pop như Britney SpearsJustin Timberlake đều có những trải nghiệm tương tự.[21] Để quản lý được nhóm, cha của Knowles (trong thời gian đó là một nhân viên bán thiết bị y tế) đã từ bỏ công việc hiện tại của mình vào năm 1995.[32] Ông đã giành thời gian riêng của mình và thành lập một trại hè cho việc đào tạo nhóm.[29] Việc di chuyển liên tục đã làm giảm thu nhập của gia đình Knowles một nửa và khiến cha mẹ cô phải dọn vào căn hộ nhỏ hơn do áp lực.[20] Không lâu sau khi nhóm xuất hiện thêm Rowland, Mathew cắt giảm đội hình thành bốn người,[21] thành viên LeToya Luckett cũng đã tham gia năm 1993.[28] Tập luyện tại tiệm Salon Headliners của mẹ cô và vườn sau nhà, nhóm tiếp tục trình diễn các tiết mục mở màn cho những nhóm nữ R&B trong thời điểm ấy;[28] Mẹ cô đã thiết kế trang phục cho nhóm, việc bà vẫn tiếp tục làm trong suốt thời kỳ hoạt động của Destiny's Child. Với sự hỗ trợ của Mathew, họ đã thử giọng trước khi ghi đĩa và cuối cùng đã ký kết với hãng thu Elektra Records. Họ sau đó đã chuyển sang Atlanta để thực hiện bản thu đầu tay của họ, nhưng bị cắt bởi công ty thu âm vào năm 1995. Nhóm đã trở về nhà để bắt đầu lại từ đầu.[20] Điều này đã đẩy gia đình cô vào tình thế căng thẳng, cha mẹ của Knowles sau đó đã li thân một thời gian khi cô chỉ 14 tuổi. Năm 1996, gia đình cô đã đoàn tụ và nhóm đồng thời cũng giành được hợp đồng với hãng Columbia Records.[33]

1997-2001: Kỷ nguyên của Destiny's Child và tạm thời tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Destiny's Child
Destiny's Child đang trình diễn ca khúc thành công năm 2000 của mình, "Say My Name".

Lấy từ một đoạn trong quyển sách Book of Isaiah, tên của nhóm đã được đặt lại là Destiny’s Child vào năm 1993.[28] Cùng với nhau, các thành viên đã tham gia các sự kiện tại địa phương, và sau bốn năm cùng nhau, nhóm đã ký hợp đồng với Columbia Records vào cuối năm 1997. Cùng năm đó, Destiny's Child đã chính thức ghi đĩa bài hát đầu tay của mình, "Killing Time", làm nhạc nền của bộ phim năm 1997,Men in Black .[28][31] Một năm sau, nhóm phát hành album đầu tay tự làm của họ,[30] thành công lớn đầu tiên của họ "No, No, No". Album thành lập nhóm như là một hành động có hiệu quả trong ngành công nghiệp âm nhạc, vừa tích lũy kinh nghiệm vừa kiếm thu nhập nhưng họ đã giành được 3 giải thưởng của Soul Train Lady of Soul Awards là "Đĩa đơn hay nhất cho R&B/Soul", "Album R&B/Soul tốt nhất của năm" và "Best R&B/Soul or Rap New Artist" cho "No, No, No".[28] Tuy nhiên, nhóm đã đạt đến trình độ ngôi sao sau khi họ phát hành và giành được đĩa bạch kim với album thứ hai The Writing's on the Wall trong năm 1999. Album có một số bài hát của nhóm được nhiều người biết đến như "Bills, Bills, Bills", đĩa đơn đầu tiên trong album thứ hai của nhóm, "Jumpin' Jumpin'", và "Say My Name", mà đã trở thành bài hát thành công nhất của họ vào thời điểm đó, và sẽ vẫn là một trong những bài hát dạo đầu của họ. "Say My Name" giành chiến thắng trong Best R&B Performance by a Duo or Group with VocalsGiải Grammy dành cho Bài hát R&B xuất sắc nhất tại Giải Grammy 2001.[28] The Writing's on the Wall đã bán được hơn bảy triệu bản,[30] về cơ bản trở thành album đột phá của họ.[34][35]

Cùng với những thành công thương mại của họ, nhóm đã vướng vào tình trạng mâu thuẫn nội bộ - công bố công khai liên quan đến việc nộp đơn vụ kiện về vi phạm hợp đồng. Hai thành viên của nhóm - LeToya LuckettLaTavia Roberson - buộc tội ông Mathew Knowles chia lợi nhuận của nhóm không đều cho các thành viên, giành quyền kiểm soát quá nhiều và thiên vị một cách không công bằng đối với cô con gái Beyoncé của ông. Trong khi cả hai không hề có ý định rời khỏi nhóm nhưng mối quan hệ mâu thuẫn giữa các thành viên trong nhóm vẫn tự nhiên lớn lên theo một chiều hướng xấu. Khi video "Say My Name" của nhóm ra mắt, rất nhiều người hâm mộ rất ngạc nhiên khi thấy 2 thành viên mới là Michelle WilliamsFarrah Franklin xuất hiện cùng với Beyoncé và Kelly Rowland.[28] Không lâu sau, Farrah Franklin, người thay thế một thành viên trong nhóm cách đó 5 tháng, rời nhóm vì không chịu nổi áp lực làm việc.[30] Cùng thời gian đó, vào cuối năm 2000, Roberson và Luckett từ bỏ vụ kiện chống lại Rowland và Knowles nhưng vẫn tiếp tục theo kiện chống lại cha của Knowles. Theo như thỏa thuận giữa hai bên, không bên nào được công kích phía còn lại trước báo chí và công luận.[28] Qua những vụ kiện, nhóm chỉ còn ba thành viên đó là Beyoncé Knowles, Kelly RowlandMichelle Williams.

Tháng 10 năm 2000, nhóm được nhận lời mời hát nhạc phim cho bộ phim "Charlie's Angels" (Những thiên thần của Charlie), với "Independent Women Part 1". Bài hát này đã dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ trong 11 tuần liên tục,[28][34] góp phần đưa danh tiếng của Destiny's Child lên một tầm cao mới.[22] Năm 2001, album giành được giải Nhóm nhạc trình diễn thể loại R&B hay nhấtBài hát R&B hay nhất tại lễ trao giải Grammy lần thứ 43. "Survivor", album thứ ba của nhóm đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200, bán được hơn 663.000 bản trong tuần đầu tiên.[36] Đến nay, Survivor đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới, hơn bốn mươi phần trăm trong số đó đã được bán riêng ở Hoa Kỳ.[37] Bên cạnh "Independent Women Part 1", album có các bài hát nổi bật như "Survivor", "Bootylicious", bài hát thứ hai trong album đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100Hoa Kỳ, và "Emotion". Nội dung của bài hát "Survivor" đã khiến cho Roberson và Luckett khởi kiện lại nhóm nhạc vì cho rằng bài hát đã phá vỡ thỏa thuận giữa đôi bên về việc không được công kích phía còn lại.[28] Vụ kiện này đã được dàn xếp vào tháng 6 năm 2002.[35] Trong thời gian đó, nhóm cho ra 2 album khác bao gồm "8 days of Christmas" dành riêng cho ngày lễ Giáng sinh 2001 và "This is The Remix" tổng hợp các bản remix. Các album ra đời đưa làn sóng các những người hâm mộ càng lên cao. Nhóm cũng đã hoàn thành chuyến lưu diễn quốc tế trong năm này. Năm 2002, Destiny’s Child kiếm được 71 triệu đôla từ tổng doanh thu bán đĩa, những hoạt động tài trợ, đỡ đầu và lưu diễn. Sau đó, nhóm đã thông báo nhóm sẽ tan rã trong một thời gian ngắn để mỗi thành viên trong nhóm theo đuổi sự nghiệp solo của riêng mình.[28]

2000-2002: Phát triển sự nghiệp Solo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm 2000, Knowles ký hợp đồng thu 3 album cho hãng đĩa Columbia Records.[38] Khi còn ở trong nhóm Destiny's Child, Knowles cũng góp mặt trong bài hát song ca với Marc Nelson "After All is Said and Done", video ca nhạc "I Got That" của nghệ sĩ nhạc rap Amil.[38] Vừa hoàn thành xong album "Survivor" của Destiny's Child, đầu năm 2001, Beyoncé nhận vai Carmen trong bộ phim truyền hình ăn khách của kênh MTV Hoa Kỳ, Carmen: A Hip Hopera, đóng cặp với diễn viên Mekhi Phifer. Được làm tại Philadelphia, bộ phim là một sự thể hiện hiện đại của vở opera thế kỷ 19 Carmen của nhà soạn nhạc người Pháp Georges Bizet.[39]

Năm 2002, Beyoncé nhận vai Foxxy Cleopatra trong bộ phim hài Austin Powers in Goldmember cùng với diễn viên Mike Myers.[40] Bộ phim này đã gặt hái nhiều thành công với doanh thu 73,1 triệu đô la trong tuần công chiếu đầu tiên.[22] Cũng trong năm đó, cô cho ra đời đĩa đơn đầu tiên trong sự nghiệp solo mang tên "Work It Out" cho bộ phim.[41] Đây là ca khúc mang một phong cách khác biệt của Knowles tuy nhiên không đạt được thành công tại Hoa Kỳ. Năm tiếp theo đó, Knowles cùng diễn viên Cuba Gooding, Jr. đóng cùng với nhau trong bộ phim hài lãng mạn "The Fighting Temptations", và thu âm bài hát "Fighting Temptation" để làm nhạc phim (cùng với các ca sĩ nữ Missy Elliott, MC Lyte, và nghệ sĩ hát rap Free) và một bản Cover của "Fever".[42][43]

Cùng trong năm 2003, Knowles cùng với bạn trai - bây giờ là chồng của cô là Jay-Z thu âm bài hát "'03 Bonnie & Clyde".[22] Đồng thời cô cũng thu âm lại bài "In Da Club" của 50 Cent và được ra mắt vào tháng 3 năm 2003.[44] Luther Vandross và Knowles đã thu âm lại ca khúc "The Closer I Get to You", chính là phiên bản cover của ca khúc được sản xuất năm 1977 do Roberta FlackDonny Hathaway trình bày.[45] Bài hát này đem cho họ một giải Grammy cho Best R&B Performance by a Duo or Group with Vocals. Vandross, người hát cùng với cô, giành một giải Grammy cho Best Male R&B Vocal Performance nhờ một bài hát khác cũng với sự góp giọng của Knowles với tựa đề "Dance With My Father".[46][47]

2003-2004: Dangerously In Love[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Dangerously in Love

Sau khi Williams và Rowland phát hành những bài hát trong nỗ lực solo của họ, Knowles phát hành album solo đầu tay của cô, Dangerously in Love, vào tháng 6 năm 2003.[45] Với đặc trưng là có nhiều cộng tác viên âm nhạc, album chứa một sự kết hợp của những bài hát uptempoSlow jam. Album ra mắt đã đứng vị trí số một trong Billboard 200, bán được 317.000 bản sao trong tuần đầu tiên phát hành.[36] Chứng nhận 4x bạch kim vào 5 tháng 8 2004 bởi Recording Industry Association of America,[48] album đã bán được 4,2 triệu bản sao cho đến nay tại Hoa Kỳ.[49]

"Crazy in Love", được phát hành như bài hát đầu tiên của album đứng trong Billboard Hot 100 trong 8 tuần liên tiếp[50] và đứng đầu bảng xếp hạng nhiều nước trên toàn thế giới. Knowles cũng thành công trong việc thống trị âm nhạc tại Vương quốc Anh, đồng thời đứng đầu bảng xếp hạng album và đĩa đơn ở đó.[51][52] Bài hát thứ hai trong Album, "Baby Boy", mà tính năng múa minh họa ca sĩ Sean Paul, cũng đã trở thành một trong những hit lớn nhất của năm 2003, thống trị radio airplay Hoa kỳ và chiếm vị trí đứng đầu trong chín tuần liên tiếp trên Billboard Hot 100 - hơn một tuần so với "Crazy in Love".[53][54] Không giống như "Crazy in Love", ba đĩa đơn cuối cùng đạt được nhiều thành công ngay lập tức về thương mại, thúc đẩy album đứng vào vị trí đầu bảng xếp hạng và đi một chặng đường dài về hướng là nó đang được chứng nhận nhiều đĩa bạch kim.[55]

Knowles giành được 5 giải thưởng trong giải Grammy lần 46 năm 2004, cho nỗ lực solo của mình, bao gồm Best Female R&B Vocal Performance cho "Dangerously in Love 2", Bài hát R&B hay nhất cho "Crazy in Love", và Best Contemporary R&B Album. Cô có cùng điểm nổi trội này với bốn nữ nghệ sĩ khác: Lauryn Hill (1999), Alicia Keys (2002) Norah Jones (2003) và Amy Winehouse (2008)[34][56] cho đến năm 2010, khi cô giành 6 giải Grammy trong một đêm. Năm 2004, cô đã giành một giải BRIT Award cho nữ ca sĩ quốc tế hát solo.[57]

2004- 2005: Destiny Fulfilled (Sứ mệnh được hoàn tất) và sự tan rã của Destiny's Child[sửa | sửa mã nguồn]

Destiny's Child biểu diễn ca khúc "Say My Name" trong chuyến lưu diễn chia tay của nhóm với tên gọi Destiny Fulfilled... and Lovin' It.

Trong năm 2004, Knowles có ý định phát hành album thứ hai của mình, bao gồm những bài hát chưa được xuất hiện trong album đầu tay Dangerously In Love. Tuy nhiên ý định của cô không thành công vì lịch trình của cô bị ảnh hưởng bởi việc thu âm của Destiny's Child và album cuối cùng của nhóm.[58] Đầu năm 2004, Knowles biểu diễn trong lễ quốc khánh Hoa KỳSuper Bowl XXXVIII tại Sân vận động ReliantHouston; cô thừa nhận rằng việc đó là giấc mơ lớn của mình khi cô còn bé.[59]

Năm 2004, sau khi chia tay được ba năm, mỗi thành viên tập trung vào các dự án solo cá nhân của mình, Knowles tái nhập với Rowland và Williams để cho ra album Destiny Fulfilled, phát hành vào tháng 11 năm 2004.[28] Album này đứng ở vị trí thứ 2 của bảng xếp hạng Billboard 200 và mang lại cho nhóm 3 đĩa đơn đứng trong tốp 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100 bao gồm "Lose My Breath" và "Soldier".[60] Trong việc hỗ trợ cho album, Destiny's Child bắt tay vào việc thực hiện lưu diễn trên thế giới Destiny Fulfilled... And Lovin' It trong năm 2005, bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 9. Tháng 6 năm 2005, nhóm thông báo tại buổi diễn tại Barcelona, Tây Ban Nha rằng họ sẽ chính thức tan rã sau chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới và điểm dùng chân cuối cùng là ở Bắc Mỹ.[28][61] Nhưng chính Beyoncé nói rằng sự chia tay này không phải là vĩnh viễn mà chỉ là sự ra đi tạm thời của cô khỏi những dự án mới của nhóm trong tương lai. Beyoncé nói với MTV News:

"Bất cứ khi nào chúng tôi xuất hiện trên show truyền hình, những người chủ chương trình đều nói rằng đây là show cuối cùng nhưng đối với chúng tôi đó không phải là cuối cùng. Bởi vì chúng tôi vẫn hát với nhau, hát đi hát lại nhiều lần. Chúng tôi yêu nhau và chúng tôi là bạn. Đó là album cuối cùng nhưng không phải là show cuối cùng."

Tuy album không giành được một giải Grammy nào nhưng chính album này cũng được nằm trong danh sách đề cử. Trong thời gian đó, nhóm được vinh dự nhận một giải thưởng mà tên gọi của nó là mong muốn của nhiều nhiều các nhóm nhạc khác, giải Nhóm nhạc nữ bán chạy nhất mọi thời đại.

Tháng 10 năm 2005, nhóm cho ra đời album #1's tổng hợp các bài hát hay nhất của nhóm và 3 ca khúc mới. Số hit lớn nhất của bộ sưu tập cũng bao gồm ba bài nhạc mới, bao gồm "Stand Up for Love". Destiny's Child được vinh danh với một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood vào tháng 3 năm 2006.[59] Họ cũng được công nhận là nhóm nhạc nữ trên thế giới có số đĩa bán chạy nhất mọi thời đại.[62][63] Nhà soạn nhạc nổi tiếng David Foster, và con gái của ông Amy Foster-Gillies, cùng với Knowles viết bài hát "Stand Up For Love". Ca khúc đã trở thành bài hát chính thức của Ngày Trẻ em thế giới liên quan đến những vấn đề như nạn nghèo đói ở thế giới thứ 3 và thiên tai. "Stand Up For Love" là đĩa đơn cuối cùng của nhóm. "#1's " đứng ở vị trí số 6 trong tổng số top 40 album hay nhất trên bảng xếp hạng Anh quốc và bán được hơn 30.000 bản trong tuần đầu tiên, hơn thế nữa nó còn đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 album của Hoa Kỳ với 113.000 bản bán ra trong tuần đầu ra mắt. Buổi trình diễn cuối cùng của Destiny’s Child được phát sóng trên truyền hình là tại NBA All-Star Game ngày 19 tháng 2 năm 2006, tại Houston, Texas – quê hương của các cô gái.

Tiếp tục với sự nghiệp diễn xuất, Knowles nhận lời mời đóng phim The Pink Panther. Trong bộ phim này cô vào vai Xania, ca sĩ nhạc Pop nổi tiếng, đóng cùng với diễn viên Steve Martin, người đóng vai Inspector Clouseau.[64][65] Bộ phim phát hành vào ngày 10 tháng 2 năm 2006 và chiếm được ngôi đầu bảng xếp hạng tại Hoa Kỳ với 21,7 triệu đô la thu về từ tuần đầu tiên.[22] Beyoncé còn thu âm bài hát "Check on It" cho soundtrack của bộ phim, với hai ca sĩ nhạc rap Slim ThugBun B. "Check On It" giành vị trí đầu bảng của bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ trong 5 tuần liên tục.[64] Video clip của ca khúc giành giải "Video R&B xuất sắc nhất" trong lễ trao giải MTV Video Music Awards năm 2006.

Vào cuối năm 2005, Knowles một lần nữa để album thứ hai của mình bị giữ lại sau khi cô hoàn thành vai phụ trong bộ phim âm nhạc Giấc mơ danh vọng, bộ phim được làm lại từ vở Broadway cùng tên vào năm 1981 nói về cuộc đời ca hát của nhóm nhạc nữ nổi tiếng tại hãng thu âm Motown, The Supremes. Trong bộ phim, cô đóng vai Deena Jones - được coi là hiện thân của Diana Ross.[64][66] Knowles nói với tạp chí Billboard: "Tôi sẽ không viết cho album này cho đến khi tôi thực hiện xong bộ phim.""[49] Ra mắt vào tháng 12 năm 2006, dàn diễn viên của Dreamgirls bao gồm Jamie Foxx, Eddie Murphy, và Jennifer Hudson. Knowles cũng đã thu âm bài hát "Listen"[67] cho soundtrack của bộ phim. Phim đã giành 3 giải thưởng quan trọng tại lễ trao giải Quả Cầu Vàng lần thứ 64. Vào 14 tháng 12 năm 2006, Knowles đã giành được hai đề cử cho Diễn viên chính Xuất sắc cho thể loại phim Nhạc Kịch hay Phim hàiGiải Nhạc phim của năm cho Listen.[68]

2006- 2007: B'Day[sửa | sửa mã nguồn]

Knowles biểu diễn "Listen" từ Dreamgirls, trong chuyến lưu diễn The Beyoncé Experience năm 2007.

Sau khi hoàn tất vai diễn Denna Jones trong bộ phim Dreamgirls, Knowles tiếp tục bắt tay vào album thứ hai của mình. Cô nói với MTV News: "Khi bộ phim hoàn thành, tôi đã có rất nhiều ý tưởng cho album mới của mình".[69] Trong album này, Beyoncé đã hợp tác với nhiều nhạc sĩ như Rich Harrison, Rodney JerkinsSean Garrett tại một tòa nhà thu âm của Sony ở thành phố New York. Cô đồng sáng tác và đồng sản xuất gần như tất cả các bài hát trong album, album mới của cô được hoàn tất chỉ sau ba tuần.[70]

B’Day được phát hành trên toàn thế giới vào ngày 4 tháng 9 năm 2006, 5 tháng 9Hoa Kỳ để đúng vào dịp sinh nhật lần thứ 25 của cô. Album đứng đầu trên bảng xếp hạng Billboard 200, bán được hơn 541.000 bản tính riêng tại Hoa Kỳ trong tuần đầu tiên, ngay lập tức trở thành album số 1 đem về cho cô danh hiệu Album của một nữ ca sĩ có doanh số cao nhất trong tuần đầu tại Hoa Kỳ của năm 2006.[71] B'Day được chứng nhận 3x Bạch Kim tại Hoa Kỳ bởi Recording Industry Association of America.[48]Anh, album vụt lên vị trì đầu bảng với đĩa đơn đầu tiên "Déjà Vu" hát cùng với ca sĩ nhạc rap Jay-Z. "Irreplaceable", đĩa đơn toàn cầu thứ hai và đĩa đơn thứ ba ở Hoa Kỳ của album được phát hành và tháng 10 năm 2006, vươn lên vị trì thứ nhất trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong 10 tuần liên tiếp, trở thành đĩa đơn đứng ở vị trí đầu bảng lâu nhất trong sự nghiệp solo của Knowles.[72] Tuy là một thành công về mặt thương mại, nhưng thời gian sản xuất khá ngắn là điểm khiến album hứng chịu công kích từ giới phê bình.[73][74][75] Album trở thành một thành công lớn của Beyoncé trong năm ấy, vượt mặt cả nữ ca sĩ nhạc Pop nổi tiếng Christina Aguilera vốn đã rất thành công trên thị trường âm nhạc. Các bảng xếp hạng âm nhạc R&B tại Hoa KỳAnh Quốc tràn ngập tên của Beyoncé. Báo chí nhắc đến cô như một hiện tượng âm nhạc đối với đại bộ phận giới trẻ. Album tổng cộng giành được 6 đề cử và thắng 1 giải Grammy.

Knowles đã phát hành lại B’Day vào 3 tháng 4 năm 2007 như là một ấn bản cao cấp hơn,[76] với 5 ca khúc mới và phiên bản tiếng Tây Ban Nha của "Irreplaceable" và "Listen".[77] Knowles cũng phát hành đĩa DVD của album với tên gọi B'Day Anthology (Tuyển tập B'Day) bao gồm video âm nhạc của 10 bài hát trong album B'Day.[77][78] Cô bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới với tên gọi The Beyoncé Experience với trên 90 địa điểm. Buổi biểu diễn ở Staples Centre, Los Angeles vào ngày 2 tháng 9 năm 2007 với sự tham gia của các nghệ sỹ khách mời đặc biệt Jay-Z, Kelly RowlandMichelle Williams - 2 thành viên còn lại của Destiny's Child - đã được thu lại và phát hành dưới dạng DVD mang tên "The Beyoncé Experience Live".[79]

Tại đêm trao giải Grammy năm 2007, B'Day đã mang lại cho Knowles một giải thưởng Grammy là Album R&B hiện đại xuất sắc nhất.[80] Tại lễ trao giải American Music Awards 2008 (Giải Thưởng Âm Nhạc Thường Niên Mỹ năm 2008), Knowles đã lập nên lịch sử khi trở thành nữ ca sĩ đầu tiên giành được giải thưởng International Artist Award (Giải thưởng Nghệ sỹ toàn cầu xuất sắc).[59] Knowles cũng trở thành người nghệ sỹ, người mẫu không chuyên đầu tiên được xuất hiện trên bìa của tạp chí Sports Illustrated ấn phẩm đặc biệt năm 2007.

2008- 2010: I Am... Sasha Fierce[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: I Am... Sasha Fierce
Beyoncé hát "America the Beautiful" trong buổi lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 18 tháng 1 năm 2009.

Vào ngày 10 tháng 2 năm 2008, Knowles biểu diễn cùng với một trong những nghệ sỹ có tầm ảnh hưởng lớn với cô, Tina Turner tại lễ trao giải Grammy lần thứ 50. Hai người đã hát ca khúc "Proud Mary", một trong những bài hát nổi tiếng của Tina Turner, và nhận được nhiều lời khen từ giới báo chí. Năm 2008, Knowles, cùng với những ca sĩ nổi tiếng là Mariah Carey, Leona Lewis, Rihanna, Leann Rimes, Miley CyrusMary J. Blige cùng thu âm bài hát Just Stand Up!, cho quỹ từ thiện Stand Up to Cancer. Đồng thời, cô cũng cho ra mắt album thứ ba của mình, I Am… Sasha Fierce, vào tháng 11 năm 2008.

Knowles phát hành album thứ ba của cô, I Am… Sasha Fierce, vào 18 tháng 11, 2008.[81] Knowles nói rằng tên Sasha Fierce là tên nghệ danh của cô đã dùng khi cô biểu diễn trên sân khấu.[82] Album được biết trước với việc phát hành hai đĩa đơn của nó, "If I Were a Boy" và "Single Ladies (Put a Ring on It)".[83][84] Trong khi If I Were A Boy đứng đầu các bảng xếp hạng trên toàn thế giới, chủ yếu là ở các nước châu Âu, Single Ladies (Put a Ring on It) đạt vị trí quán quân trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Hoa Kỳ, trở thành đĩa đơn quán quân thứ 5 trong sự nghiệp solo của Knowles và giúp cô trở thành nữ nghệ sỹ với nhiều đĩa đơn quán quân nhất của thập kỷ (danh hiệu này được chia sẻ với Rihanna).

Knowles xuất hiện trong bộ phim âm nhạc về cuộc đời của một nhân vật có thật, Cadillac Records,[85] trong đó Knowles đã được đóng vai ca sĩ blues nổi tiếng Etta James. Diễn suất của cô trong phim đã nhận được lời khen ngợi từ các nhà phê bình[86] và bài hát "Once in a Lifetime", một sự hợp tác với Scott McFarnon, được đề cử giải Grammy và một giải Quả cầu vàng. Knowles cũng đóng vai chính đối diện Ali LarterIdris Elba trong một bộ phim phim kinh dị gọi là Obsessed, được sản xuất từ tháng 5 năm 2008. Bộ phim đã chứng tỏ là một thành công thương mại và đã được phát hành tại Hoa Kỳ ngày 24 tháng 4 năm 2009, bộ phim thu về 11,1 triệu đô la vào ngày đầu tiên phát hành[87] và kết thúc cuối tuần của mình ở vị trí số một, với tổng số là 28,6 triệu đô la.[87] Tuy vậy, cô bị đề cử 1 Giải Mâm xôi vàng cho diễn viên nữ chính tồi nhất.

"Halo", đĩa đơn thứ tư của album, đạt vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng này và là đĩa đơn tốp 10 thứ 12 của Knowles, đưa cô thành nữ nghệ sỹ với nhiều đĩa đơn tốp 10 nhất của thập kỷ.[88][89] Cô cũng là nữ nghệ sĩ với những tuần tích lũy lớn nhất ở vị trí số một trong thập kỷ này, với tổng số 36 tuần tại vị trí số một, 5 lần đứng nhất và 13 lần nằm trong top 10 trong thập kỷ qua,[88][89] cũng như trên hầu hết 40 hit của thập kỷ với 18 lần đứng đầu trong 40 hit.[90]

Knowles thắng giải Nữ nghệ sỹ xuất sắc tại lễ trao giải NAACP Image Awards.[91] Cô cũng đoạt giải Best R&B Artist (Nghệ sỹ R&B xuất sắc) tại lễ trao giải Teen Choice Awards 2009. Tại Lễ Nhậm Chức của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, Knowles biểu diễn bài hát "America the Beautiful" trong lễ khai mạc và bài hát "At Last" hát lại của Etta James trong lúc Tổng thống Hoa Kỳ Obama và vợ Michelle Obama nhảy điệu nhảy đầu tiên vào ngày 20 tháng 1 năm 2009.

Mùa xuân năm 2009, Knowles bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới với tên gọi I Am... Tour bắt đầu tại Edmonton, Canada và tiếp tục với các điểm dừng tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Australia, SingaporeMalaysia. Cô kết thúc chuyến lưu diễn tại Hoa Kỳ bằng một đợt diễn đặc biệt trong 4 ngày tại nhà hát 1500 chỗ ngồi Encore Theater tại khu nghỉ mát Steve Wynn ở Las Vegas từ 30 tháng 7 đến 2 tháng 8 với tên gọi I Am... Yours. Theo phóng viên Bob Allen của tạp chí âm nhạc Billboard, với doanh thu trên 36 triệu đô, I Am... Tour lọt vào danh sách tốp 15 chuyến lưu diễn với doanh thu cao nhất năm.[92][93]

Knowles tại giải Oscar lần 81 vào tháng 2 năm 2009.

Video của đĩa đơn "Single Ladies (Put a Ring on It)" chiến thắng giải thưởng BET Awards cho Video của năm. Thêm vào đó, video này còn nhận được 9 đề cử trong năm 2009 MTV Video Music Awards và chiến thắng 3 giải trong đó có giải thưởng Video của năm. Video này đánh mất giải thưởng Video xuất sắc của nữ nghệ sỹ vào tay của Taylor Swift với video "You Belong With Me", sự việc dẫn đến tranh cãi khi Kanye West ngắt lời Taylor Swift trong lúc nhận giải và tuyên bố rằng "Beyoncé có video hay nhất của mọi thời đại!". Đến cuối buổi lễ trao giải, khi Knowles lên nhận giải thưởng cho Video của năm, cô nói "Khi tôi 17 tuổi, cùng với Destiny's Child chúng tôi chiến thắng giải thưởng MTV đầu tiên. Đó là một giây phút thật tuyện vời với tôi. Vì vậy, tôi mời Taylor bước ra sân khấu và có được giây phút của riêng mình." Cô mời Swift ra sân khấu và Swift hoàn tất diễn văn nhận giải của mình.[94][95][96][97] Vào tháng 10 năm 2009, cô được tạp chí Billboard trao giải thưởng Người phụ nữ của năm.[98] Chấp nhận giải thưởng, Knowles nhận xét: "Tôi là người phụ nữ may mắn nhất trên thế giới.".[98] Trong tháng 11 năm 2009, Knowles đã được công bố như là người chiến thắng 'World's Greatest Popstars' của 4Music của Vương quốc Anh được tài trợ bởi Rimmel. Hơn 100.000 lá phiếu, với Knowles đứng ở vị trí cao với những lá phiếu công khai, thậm chí còn đứng trước cả Madonna, Britney Spears, EminemPink.[99] Knowles tham gia vào "Hope for Haiti Now: A Global Benefit for Earthquake Relief". Cô xuất hiện tại London với Jay-Z, Rihanna, và U2 BonoThe Edge, cô đã thực hiện một phiên bản khác của bài hát "Halo" của cô.[100] Knowles đã đứng đầu giải Grammy lần thứ 52, nhận được 10 đề cử, bao gồm Album của năm cho I Am… Sasha Fierce, Giải Grammy cho Thu âm của Năm cho "Halo", và Bài hát của năm cho "Single Ladies (Put a Ring on It)"; cuối cùng cô giành được giải thưởng Bài hát của Năm cho "Single Ladies (Put a Ring on It)" trong số này.[101] Knowles đã lập một kỷ lục cho số các giải thưởng Grammy được đoạt trong một đêm duy nhất của một nghệ sĩ nữ vào 31 tháng 1 năm 2010, khi cô đã mang về nhà sáu giải thưởng từ mười đề cử của mình.[102] Hai tuần cuối cùng của ngày biểu diễn cho "I Am... Tour" đã diễn ra trong tháng 2 năm 2010 tại Nam MỹCaribê.[103]

2010-nay: 4 [sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng Giêng 2010, Knowles được thực hiện một buổi phỏng vấn cùng USA Today và tuyên bố rằng cô sẽ nghỉ ngơi vào năm 2010. Cô nói "đương nhiên tôi sẽ phải nghỉ một chút, để có thể nạp lại năng lượng...Như trong sáu tháng qua tôi đã không đến phòng thu để làm việc. Tôi muốn sống cuộc sống của tôi, và sau đó tôi có thể tìm được nguồn cảm hứng."[104] Trong thời gian này, chương trình 60 Minutes đã trình chiếu những hình ảnh khi cô học tại nhà khi vẫn còn bé và cầu nguyện trước mỗi buổi diễn.[105] Vào tháng Hai 2010, cô kết hợp cùng ca khúc của ca sĩ Lady Gaga, "Telephone". Ca khúc vươn lên vị trí quán quân ở bảng xếp hạng Pop Songs tại Mĩ, trở thành ca khúc quán quân thứ sáu của Knowles và Gaga. Nhờ thế mà họ đã đánh Mariah Carey cho ca khúc quán quân nhiều nhất trên các bảng xếp hạng kể từ khi xuất hiện Bảng xếp hạng 40 ca khúc của Nielsen BDS-based trên các đài phát thanh năm 1992.[106] Ca khúc nhận được đề cử giải Grammy cho Best Pop Collaboration with Vocals tại giải 53rd Grammy Awards.[107]

Vào tháng Mười một 2010, Knowles tiết lộ rằng cô đang trong kế hoạch thực hiện album thứ tư của mình mang tên 4, và đang viết và sản xuất một thể loại âm nhạc.[108] Cô nói rằng cô dùng cuộc sống của cô để có thể tạo nên chất liệu nhạc riêng của cô. Sau đó, Knowles nói tiếp rằng "Tôi sẽ không nói rằng tôi sẽ phát minh ra một thể loại âm nhạc mới...Tôi chỉ hòa trộn những thể loại nhạc mà tôi thích và đầy cảm hứng từ nhiều thể loại khác nhau. Đó không phải là R&B. Đó không đơn thuần là Pop. Đó không phải là Rock. Đó chính là những gì tôi yêu thích và tạo nên một hỗn hợp âm nhạc."[109] Knowles tiết lộ thêm album sẽ lấy cảm hứng từ vài nghệ sĩ như Fela Kuti, The Stylistics, Lauryn Hill, Stevie WonderMichael Jackson.[109] Những nhà sản xuất và nhạc sĩ thực hiện album gồm Jim Jonsin,[110] Ne-Yo,[111] Sean Garrett,[112] The Dream, Symbolyc One,[113] Diplo, Switch, Derek Miller[114] and Frank Ocean.[115] 4 sẽ được phát hành chính thức vào ngày 28 tháng Sáu, 2011.[116] Album đã phát hành đĩa đơn đầu tiên là "Run the World (Girls)" được phát hành vào ngày 21 tháng Tư, 2011.[117]

Bên cạnh đó, Knowles cho biết cô sẽ trở lại với sự nghiệp điện ảnh trong bộ phim làm lại từ A Star Is Born, người sẽ đạo diễn và sản xuất là Clint Eastwood cùng hãng Warner Bros. Bộ phim được làm lại từ Bản năm 1976 của Barbra StreisandKris Kristofferson.[118] Vào tháng Hai 2011, một nguồn tin đã khẳng định Knowles sẽ biểu diễn tại Glastonbury Festival 2011, cô sẽ trình diễn các tiết mục gồm 90 phút tại sân khấu vào ngày 26 tháng Sáu, 2011.[119] Cô cùng sẽ trình diễn tại Oxegen Festival ở Ireland, và T in the Park Festival ở Scotland vào tháng Bảy 2011.[120] Trong một vài tài liệu cho biết cô đã nhận 1 triệu đô-la từ Muammar Gaddafi trong gia đình tổng thống Libya trong các buổi diễn.[121] Sau đó, một người đã tiết lộ Knowles đã gửi tiền số tiền ấy ủng hộ cho quỹ Clinton Bush Haiti Fund, để trợ giúp cho các đồng bào Động đất Haiti 2010.[122] Vào 28 tháng Ba, 2011, các thông tin đã tuyên bố rằng Knowles đã không còn được quản lý bởi cha cô Mathew Knowles, vì một số lý do cá nhân chưa tiết lộ.[123]

Các lợi ích kinh tế khác[sửa | sửa mã nguồn]

House of Deréon (Nhà của Deréon)[sửa | sửa mã nguồn]

Knowles và mẹ của cô đã phát triển dòng thời trang House of Deréon, hãng quần áo thời trang dành riêng cho phụ nữ, vào năm 2005. Dòng thời trang được dành cho ba thế hệ phụ nữ trong gia đình, và Deréon được sử dụng trong từ House of Deréon là tên của bà ngoại của cô, Agnèz Deréon, người đã từng là một nữ thiết kế thời trang nổi tiếng một thời.[124][125] Theo Tina Knowles, phong cách tổng thể của dòng sản phẩm tốt nhất phản ánh thị hiếu và phong cách của Knowles.[126] Ngoài ra, hãng còn cung cấp cho nhóm Destiny’s Child những bộ quần áo thời trang trong chuyến lưu diễn quảng bá album Destiny Fulfilled vào năm 2006.[125][127][128] Cửa hiệu House of Deréon đã có mặt tại hai nước đó là Hoa KỳCanada. Cửa hàng còn bán quần áo thể thao, quần bò may với lông thú, áo khoác và phụ kiện thời trang.[125] Ngoài ra, hãng cũng cho ra mắt House of Brands, chuyên bán các loại giày cao gót dành cho phụ nữ.[129] Năm 2004, Knowles và mẹ cô thành lập công ty của gia đình họ Beyond Productions, cung cấp giấy phép và quản lý thương hiệu cho House of Deréon.[130] Cuối năm 2008, hãng cho ra mắt Beyoncé Fashion Diva, một trò chơi trực tuyến dành cho điện thoại di động, nhằm để quảng bá rộng rãi cho hãng.[130]

Hãng cũng đã bị có nhiều lời chỉ trích từ Hiệp hội bảo vệ động vật (PETA) vì đã sử dụng lông thú trong dòng sản phẩm.[20] Việc tổ chức này đã gửi thư kháng nghị và phải đối đầu với những người nổi tiếng tại một bữa ăn tối để bàn về vấn đề này. Knowles vẫn chưa đáp ứng.[131]

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2002, Knowles nhận một hợp đồng quảng cáo từ hãng nước giải khát Pepsi,[132] trong đó bao gồm quảng cáo xuất hiện trên truyền hình, cũng như các đài phát thanh và quảng cáo Internet. Cô đã giúp công ty tiếp cận người tiêu dùng nhiều hơn về nguồn gốc chủng tộc, văn hóa và bản sắc dân tộc.[133] Năm 2004, cô quay quảng cáo Pepsi cùng Britney Spears, PinkEnrique Iglesias vào vai các hiệp sĩ Hi Lạp cổ đại,[134] vài năm sau cùng với Jennifer Lopez và cầu thủ David Beckham quay quảng cáo có tựa Samurai.[135] Hàng loạt các thoả thuận của Knowles về thương mại và sản phẩm cũng bao gồm các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp và nước hoa. Cô đã làm việc với L'Oréal từ năm 18 tuổi,[136] và ký kết các hợp đồng với các công ty mỹ phẩm trong năm 2003, thu nhập của cô khoảng 1 triệu đô la.[137] Năm 2004, cô cũng quảng cáo cho hãng nước hoa True Star thuộc hãng Tommy Hilfiger, Knowles cũng hát lại bài hát "Wishing on a Star" cho quảng cáo của hãng, mang về cho cô 250 nghìn đô la.[138] Tiếp đó, cô cũng là đại sứ của sản phẩm True Star Gold thuộc hãng Tommy Hilfiger vào năm 2005 và hãng nước hoa cao cấp Emporio Armani's Diamonds vào năm 2007.[139] Forbes báo cáo rằng Knowles kiếm được 80 triệu đô la trong thời gian từ tháng 6 2007tháng 6 2008, kết hợp với album, tour diễn của cô, kinh doanh thời trang, và thoả thuận về quảng cáo.[140] Knowles đã đánh bại các "đối thủ" như Britney Spears, Miley Cyrus và "Anh em nhà Jonas" để chiếm vị trí đầu trong danh sách Các ngôi sao dưới 30 tuổi kiếm tiền nhiều nhất với hơn 87 triệu đôla thu nhập giữa năm 20082009. Đặc biệt, tạp chí Forbes đã liệt kê Beyoncé đứng thứ tư trong danh sách Những người nổi tiếng có ảnh hưởng nhất thế giới.[141]

Cuộc sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

Knowles tạo bất ngờ khi viếng thăm- tổng thống Barack Obama lúc đó là vẫn là ứng cử viên tại Sistrunk Boulevard trong Fort Lauderdale, Florida, vào ngày cuối của cuộc bầu cử.

Trong tình trạng hỗn loạn của Destiny's Child vào năm 2000, Knowles đã thừa nhận trong tháng 12 năm 2006[142] rằng cô đã có trải qua tình trạng trầm cảm tích tụ từ những cuộc đấu tranh: sự chia rẽ công khai của LeToya LuckettLaTavia Roberson, bị công khai tấn công bởi các phương tiện truyền thông, nhà phê bình và blog làm chia cách họ,[143] và một bạn trai lâu năm (mà cô đã có từ 12-19 tuổi) để lại cho cô.[144]

Bệnh trầm cảm của cô rất nặng đã kéo dài trong một vài năm, trong khi cô đã giữ mình trong phòng ngủ của mình hàng ngày và từ chối bất cứ thứ gì để ăn. Knowles nói rằng cô ấy đấu tranh để nói về trầm cảm của mình vì Destiny's Child vừa đoạt giải Grammy đầu tiên của họ và cô ấy sợ không có ai cho rằng cô nghiêm túc.[145] Tất cả những sự kiện đã làm cho cô ấy đặt câu hỏi cho mình và những người bạn của cô, mô tả về tình hình cô nói: Bây giờ tôi là một người nổi tiếng. Tôi đã sợ tôi không bao giờ muốn tìm ai đó một lần nữa để yêu thương tôi cho tôi. Tôi đã sợ làm những người bạn mới.[144] Cô thừa nhận mẹ cô, Tina Knowles, đã giúp cô ra khỏi bệnh trầm cảm của mình, bằng câu nói: "Vì sao con cứ nghĩ đến ai đó có thể không yêu con làm chi? Con có biết con dễ thương, thông minh và đẹp lắm không ? ("Why do you think a person wouldn't love you? Don't you know how smart and sweet and beautiful you are?")[144]

Năm 2002, Knowles đã có tình cảm với anh chàng nhạc rap Jay-Z, khi cô song ca với anh trong bài "'03 Bonnie and Clyde".[22] Bất chấp những tin đồn dai dẳng về mối quan hệ của họ, họ vẫn giữ kín đáo về nó.[146][147] Trong năm 2005, dư luận bắt đầu xôn xao về chuyện đám cưới bí mật của họ, nhưng hai người vẫn luôn luôn kín miệng trước những câu hỏi này.[148]

Vào ngày 4 tháng 4 năm 2008, Knowles và Jay-Z đã kết hôn ở thành phố New York[149]. Knowles giấu chiếc nhẫn cưới và không công bố tin hôn nhân của mình, cho đến buổi hòa nhạc Fashion Rocks vào ngày 5 tháng 9 năm 2008 tại New York [150]. Trước khi họ cưới nhau, Knowles và Jay-Z đã được tạp chí TIME liệt kê vào danh sách những cặp đôi quyền lực nhất trong 100 người có ảnh hưởng nhất của năm 2006 (Most Powerful Couple / Time 100 Most Influential people of 2006) [151]. Trong tháng 1 năm 2009, Forbes xếp họ như là cặp đôi có thu nhập hàng đầu của Hollywood, với tổng cộng 162 triệu $.[152].

Ngày 07 tháng 1 năm 2012, Knowles đã sinh ra một con gái, đặt tên là Blue Ivy Carter, tại Bệnh viện Lenox Hill ở New York [153]. Ngày 09 tháng 1 năm 2012, Jay-Z phát hành "Glory", một bài hát dành riêng cho con gái của họ, và công bố trên trang mạng xã hội LifeandTimes.com của mình.

Các đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh
Năm Tựa phim Vai Ghi chú
2002 Austin Powers in Goldmember Foxxy Cleopatra Đề cử — Black Reel Award: Best Breakthrough Performance
Đề cử — MTV Movie Award for Best Breakthrough Performance
2003 The Fighting Temptations Lilly Đề cử — Black Reel Award: Best Actress
Đề cử — NAACP Image Award for Outstanding Actress in a Motion Picture
2004 Fade to Black Chính cô Phim tư liệu của Jay-Z
2006 The Pink Panther Xania
2006 Dreamgirls Deena Jones Đề cử — Golden Globe Award for Best Actress – Motion Picture Musical or Comedy
Đề cử — MTV Movie Award for Best Performance - Female
Đề cử — Black Reel Award: Best Actress
Đề cử — NAACP Image Award for Outstanding Actress in a Motion Picture
Đề cử — Satellite Award for Best Actress – Motion Picture Musical or Comedy
Đề cử — Screen Actors Guild Award for Outstanding Performance by a Female Actor in a Leading Role
2008 Cadillac Records Etta James Thắng — Black Reel Award: Best Ensemble
Đề cử — NAACP Image Award for Outstanding Supporting Actress in a Motion Picture
Đề cử — Satellite Award for Best Supporting Actress – Motion Picture
2009 Obsessed Sharon Charles Thắng — MTV Movie Award for Best Fight
2012 A Star Is Born Esther Hoffman Vai chính và bộ phim sẽ được phát hành năm 2012
Truyền hình
Năm Tựa của chương trình Vai Ghi chú
2001 Carmen: A Hip Hopera Carmen Vai chính, Phim truyền hình
2007 My Night at the Grammys Chính cô Chương trình truyền hình
2009 Wow! Wow! Wubbzy! Shine (lồng tiếng) "Wubbzy's Big Makeover/The Big Wuzzlewood" (Mùa 2, tập 22)
"Wubb Girlz Rule!/Wuzzleburg Idol" (Mùa 2, tập 19)
"Bye Bye Wuzzleburg/Wubbzy's Wacky Journey" (Mùa 2, tập 20)
"Lights, Camera, Wubbzy!/A Wubbstar Is Born" (Mùa 2, tập 23)
2009 Beyoncé: For The Record Chính cô Chương trình phỏng vấn dài một tiếng trên kênh 4Music

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Galante, Meredith (8 tháng 11 năm 2012). “There's A Bidding War For A TriBeCa Apartment Inside The Building Where Jay-Z And Beyonce”. Business Insider. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ Vincent, Alice (31 tháng 5 năm 2013). “The 10 women who made Beyonce”. The Daily Telegraph (London: Telegraph Media Group). Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  3. ^ “Beyonce Knowles' name change”. The Boston Globe. 23 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ Adams, Guy (6 tháng 2 năm 2010). “Beyoncé: Born to be a star”. The Independent. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “Monitor”. Entertainment Weekly (1275). 6 tháng 9 năm 2013. tr. 25. 
  6. ^ Patel, Joseph (4 tháng 2 năm 2004). “Beyonce Wins Most, Outkast Shine, 50 Cent Shut Out At Grammys”. MTV. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ La Gorce, Tammy (January 31, 2010)."Beyoncé's Golden Record". Grammy.com. Retrieved February 1, 2010.
  8. ^ Sisario, Ben (February 1, 2010). "At Hot Contest, Cool Beyoncé Is a Dynamo but Never a Diva". The New York Times. Retrieved 2010-02-01.
  9. ^ Dorothy Pomerantz and Lacey Rose (28 tháng 6 năm 2010). “The Celebrity 100: 2 Beyonce Knowles”. Forbes. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ Dorothy Pomerantz and Lacey Rose (28 tháng 6 năm 2010). “The World's Most Powerful Celebrities”. Forbes. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2010. 
  11. ^ “Celebrity 100: Musicians”. Forbes. 29 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2010. 
  12. ^ Shriver, Jerry (February 1, 2010). "One fierce night for Beyonce, Swift and Gaga at the Grammys". USA Today. Retrieved August 13, 2010
  13. ^ — "Beyonce-- Grammy History". Grammy.com. Retrieved March 8, 2011
  14. ^ Trust, Gary (May 28, 2010). "Ask Billboard: Beyonce Vs. Gaga Vs. Rihanna". Billboard. Retrieved August 13, 2010
  15. ^ “Artists Of The Decade Music Chart”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2011. 
  16. ^ “Top 100 Music Hits, Top 100 Music Charts, Top 100 Songs & The Hot 100”. Billboard. 31 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2010. 
  17. ^ Pedersen, Erik (17 tháng 2, 2010). "Beyoncé Tops Decade's RIAA Sales". The Hollywood Reporter. Lori Burgess. Retrieved 2010-02-18.
  18. ^ Lamy, Johnathan, Cara Duckworth and Liz Kennedy. (17 tháng 2, 2010). "RIAA Tallies the Decade's Top Gold and Platinum award Winners". Recording Industry Association of America. Retrieved 2010-02-18.
  19. ^ “The 50 people who matter today: 41–50”. New Statesman (UK). 24 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  20. ^ a ă â b c d “Beyonce Knowles' Biography”. Fox News. 15 tháng 4 năm 2008. Truy cập 5 tháng 6 năm 2008. 
  21. ^ a ă â b c d đ e Beyonce: All New. 
  22. ^ a ă â b c d đ “Beyoncé Knowles: Biography - Part 1”. People. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  23. ^ “Beyoncé: The Ice Princess”. Blender. 25/10/2006. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  24. ^ Gillings, Andrew (22 tháng 4 năm 2001). “Destiny's Child: Soul-Survivors”. Essence. Truy cập 25 tháng 2 năm 2009. 
  25. ^ “Distinguished HISD Alumni”. Houstonisd.org. Truy cập 17 tháng 4 năm 2008. 
  26. ^ “Famous Alumni - Elsik High School”. ElsikAlumni.com. Truy cập 17 tháng 4 năm 2008. 
  27. ^ “Cameo: Fat Joe Interviews Beyoncé and Mike Epps”. MTV News. Truy cập 24 tháng 4 năm 2008. 
  28. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Kaufman, Gil (13 tháng 6 năm 2005). “Destiny's Child's Long Road To Fame (The Song Isn't Called "Survivor" For Nothing)”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  29. ^ a ă “Driven”. VH1. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008. 
  30. ^ a ă â b Farley, Christopher John (15 tháng 1 năm 2001). “Call Of The Child”. TIME. Truy cập 12 tháng 4 năm 2008. 
  31. ^ a ă Reynolds, J.R. (3 tháng 3 năm 1998). “All Grown Up”. Yahoo! Music. Bản gốc lưu trữ 16/12/2008. Truy cập 12 tháng 1 năm 2007. 
  32. ^ Tyrangiel, Josh (30 tháng 6 năm 2003). “Destiny's Adult”. TIME. Truy cập 12 tháng 4 năm 2008. 
  33. ^ Biography Today. Detroit, Michigan: Omnigraphics. 2010. tr. 11. ISBN 978-0-7808-1058-7. 
  34. ^ a ă â “The Best in Hip hop/Soul”. American Society of Composers, Authors and Publishers. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  35. ^ a ă Anthony, James (18 tháng 8 năm 2006). “Of course you can lose yourself”. The Guardian. Truy cập 16 tháng 4 năm 2008. 
  36. ^ a ă Todd, Martens (2 tháng 7 năm 2003). “Beyonce, Branch Albums Storm The Chart”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  37. ^ Carpenter, Troy (22 tháng 10 năm 2003). “Destiny's Child Slapped With Infringement Suit”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  38. ^ a ă Seymour, Craig (18 tháng 10 năm 2000). “Manifest Destiny”. Entertainment Weekly. Truy cập 26 tháng 2 năm 2009. 
  39. ^ Basham, David (18 tháng 1 năm 2001). “Beyoncé To Star In "Carmen" Remake”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  40. ^ Moss, Corey (6 tháng 12 năm 2001). “Beyonce Records Song Written By Mike Myers For 'Powers' Flick”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  41. ^ Moss, Corey (23 tháng 5 năm 2002). “Beyonce, Britney Serve Up First Singles From "Goldmember"”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  42. ^ Downey, Ryan J. (14 tháng 8 năm 2003). “Beyonce Teams With Diddy, Destiny On "Temptations" Soundtrack”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  43. ^ Moss, Correy. “Beyoncé: Genuinely In Love - Part 1”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  44. ^ Reid, Shaheem (7 tháng 4 năm 2003). “Beyonce's First Solo Single Will Be A Club Banger”. MTV News. Truy cập 31 tháng 3 năm 2008. 
  45. ^ a ă Moss, Corey (2 tháng 6 năm 2003). “Beyonce Pushes Up Release Date Of Solo Debut”. MTV News. Truy cập 31 tháng 3 năm 2008. 
  46. ^ Sullivan, James (9 tháng 2 năm 2004). “Beyonce, OutKast Top Grammys”. Rolling Stone. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  47. ^ Moss, Corey (21 tháng 7 năm 2003). “Beyonce, Ruben Studdard To Appear In Luther Vandross Video”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  48. ^ a ă “Gold and Platinum”. Recording Industry Association of America. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  49. ^ a ă Hope, Clover (30 tháng 5 năm 2006). “Beyoncé To Celebrate "B'Day" In September”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  50. ^ Bonson, Fred (17 tháng 2 năm 2006). “Chart Beat Chat”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  51. ^ Sexton, Paul (21 tháng 7 năm 2003). “Beyonce Continues U.K. Chart Dominance”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  52. ^ Sexton, Paul (14 tháng 7 năm 2003). “Beyonce Rules Again On U.K. Charts”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  53. ^ Martens, Todd (11 tháng 9 năm 2003). “Beyonce, Sean Paul Creep Closer To No. 1”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  54. ^ Martens, Todd (28 tháng 11 năm 2003). “"Stand Up" Ends "Baby Boy" Reign”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  55. ^ Stacy-Deanne; Kelly Kenyatta, Natasha Lowery (2005). Alicia Keys, Ashanti, Beyonce, Destiny's Child, Jennifer Lopez & Mya: Divas of the New Millennium. Amber Books Publishing. tr. 60–61. ISBN 0974977969. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  56. ^ “Yes, America, Amy Winehouse Is a Star”. BBC America. 11 tháng 2 năm 2008. Truy cập 13 tháng 2 năm 2008. 
  57. ^ “Brit Awards 2004 winners”. BBC UK. 17 tháng 2 năm 2004. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  58. ^ Patel, Joseph (7 tháng 1 năm 2004). “Beyonce Puts Off Second Solo LP To Reunite Destiny's Child”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  59. ^ a ă â “Beyoncé Knowles: Biography - Part 2”. People. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  60. ^ Whitmire, Margo (24 tháng 11 năm 2004). “Eminem Thankful To Remain No. 1”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  61. ^ Cohen, Jonathan (12 tháng 6 năm 2005). “Destiny's Child To Split After Fall Tour”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  62. ^ “Beyonce Knowles”. TIME. Truy cập 12 tháng 4 năm 2008. 
  63. ^ Keller, Julie (1 tháng 9 năm 2005). “Destiny's World Domination”. Yahoo! Music. Truy cập 28 tháng 12 năm 2006. 
  64. ^ a ă â Otto, Jeff (8 tháng 2 năm 2006). “Interview: Beyonce Knowles”. IGN. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  65. ^ Moss, Corey (25 tháng 3 năm 2004). “Beyonce To Star Opposite Steve Martin In "Pink Panther"”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  66. ^ Tecson, Brandee J. (3 tháng 2 năm 2006). “Beyonce Slimming Down And "Completely Becoming Deena"”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  67. ^ Reid, Shaheem (13 tháng 12 năm 2006). “Beyonce Wants End To Drama Over New Drama "Dreamgirls"; Sets Tour”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  68. ^ “Nominees for the 2007 Golden Globe Awards in full”. Times Online (London). 15 tháng 12 năm 2006. Truy cập 12 tháng 1 năm 2007. 
  69. ^ Reid, Shaheem. “Be All You Can, B.”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  70. ^ Vineyard, Jennifer (31 tháng 5 năm 2006). “Beyonce's Triple Threat: New Album, Film, Fashion Line Before Year's End”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  71. ^ Hasty, Katie (13 tháng 9 năm 2006). “Beyonce's 'B-Day' Makes Big Bow At No. 1”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 5 tháng 1 năm 2008. 
  72. ^ Hasty, Katie (8 tháng 2 năm 2007). “Beyonce Makes It Ten Weeks At No. 1 With 'Irreplaceable'”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  73. ^ Hiatt, Brian (21 tháng 9 năm 2006). “Beyonce: B'Day”. Rolling Stone. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  74. ^ Rodman, Sarah (4 tháng 9 năm 2006). “Beyonce shows rage and range on new release”. The Boston Globe (The New York Times Company). Truy cập 31 tháng 1 năm 2009. 
  75. ^ Kellman, Andy. “Album Review: B'Day”. Allmusic. Truy cập 8 tháng 1 năm 2008. 
  76. ^ MTV News staff (13 tháng 2 năm 2007). “For The Record: Quick News On Mariah, Notorious B.I.G., Paul Wall, Beyonce, Shakira, Fall Out Boy & More”. MTV News. Truy cập 1 tháng 4 năm 2008. 
  77. ^ a ă “For The Record: Quick News On Mariah, Notorious B.I.G., Paul Wall, Beyonce, Shakira, Fall Out Boy & More”. MTV News. 13 tháng 2 năm 2007. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  78. ^ Vineyard, Jennifer. “Beyonce: Behind The B'Day Videos 1”. MTV News. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  79. ^ The Beyonce Experience Live DVD="Guy Charbonneau (engineer)
  80. ^ “49th Annual Grammy Award Winnerslist”. The Recording Academy. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2006. Truy cập 2 tháng 4 năm 2008. 
  81. ^ Vineyard, Jennifer (8 tháng 10 năm 2008). “Beyonce Releases Two Tracks From I Am..., Inspired By Jay-Z And Etta James”. MTV.com. Truy cập 8 tháng 10 năm 2008. 
  82. ^ “Beyoncé: dream girl”. The Telegraph. 11 tháng 8 năm 2008. 
  83. ^ “New Beyonce Album Set for Release on Tuesday, November 18”. 18/9/2008. 
  84. ^ Cohen, Jonathan. “New Beyonce Album Arriving In November”. Billboard. Truy cập 9 tháng 9 năm 2008. 
  85. ^ “Rodney Jerkins at Clive Davis' Pre-Grammy Party”. Rap-Up TV. 10 tháng 2 năm 2008. Truy cập 15 tháng 2 năm 2008. 
  86. ^ Masterson, Lawrie (12 tháng 4 năm 2009). “Is Beyonce beyond her best?”. Daily Telegraph. Truy cập 13 tháng 4 năm 2009. 
  87. ^ a ă “Box Office Mojo”. 
  88. ^ a ă “Chart Beat: Depeche Mode, Pet Shop Boys, Oak Ridge Boys, Hannah Montana”. 30 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2009. 
  89. ^ a ă “Flo Rida Has Sweet Week On Billboard Hot 100”. 30 tháng 4 năm 2009. 
  90. ^ Chart Beat Thursday: Whitney Houston, Black Eyed Peas, Demi Lovato. (07-30-2009). Billboard. Truy cập 07-31-2009.
  91. ^ “Hudson tops winners at NAACP Image Awards”. CBC. 13 tháng 2 năm 2009. Truy cập 15 tháng 2 năm 2009. 
  92. ^ “Beyonce I AM Tour Ranks No.1 Worldwide”. Singersroom.com. 31 tháng 7 năm 2009. Truy cập 18 tháng 11 năm 2009. 
  93. ^ “Beyonce's Four-Night Stint at Wynn Las Vegas a Resounding Success”. PR Newswire. Truy cập 3 tháng 8 năm 2009. 
  94. ^ “Kanye West Storms the VMAs Stage During Taylor Swift's Speech”. Rolling Stone. 13 tháng 9 năm 2009. Truy cập 13 tháng 9 năm 2009. 
  95. ^ Powers, Ann (14 tháng 9 năm 2009). “Beyonce and Taylor Swift: Sisterhood is powerful, especially when male-directed”. Los Angeles Times. Truy cập 21 tháng 11 năm 2011. 
  96. ^ Respers, Lisa (14 tháng 9 năm 2009). “Anger over West's disruption at MTV awards”. CNN. Truy cập 15 tháng 9 năm 2009. 
  97. ^ “Adam Lambert, Donald Trump, Joe Jackson Slam Kanye West's VMA Stunt”. MTV. 13 tháng 9 năm 2009. Truy cập 13 tháng 9 năm 2009. 
  98. ^ a ă Concepcion, Mariel (2 tháng 10 năm 2009). “Beyonce Accepts Billboard's Woman Of the Year Award, Lady Gaga Is Rising Star”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 3 tháng 10 năm 2009. 
  99. ^ “World's Greatest Popstars”. 4Music. 29 tháng 8 năm 2009. Truy cập 31 tháng 12 năm 2009. 
  100. ^ Rap-Up.com || Beyoncé Added to Haiti Telethon
  101. ^ Donahue, Ann (2 tháng 12 năm 2009). “Beyonce, Taylor Swift, Peas Lead Grammy Award Nominations”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập 3 tháng 12 năm 2009. 
  102. ^ “Beyonce breaks Grammy record”. MSN. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2010. 
  103. ^ Rap-Up.com || Beyoncé: ‘Sasha Fierce Is Done!’
  104. ^ Gardner, Elysa (28 tháng 1 năm 2010). “Beyonce is poised to take a well-deserved break in 2010”. USA Today. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010. 
  105. ^ “How Gradual Success Helped Beyoncé”. CBS News. 31 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2010. 
  106. ^ Trust, Gary (15 tháng 3 năm 2010). “Lady Gaga, Beyoncé Match Mariah's Record”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2010. 
  107. ^ “2010 Grammy Award Nominations”. USA Today. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  108. ^ Weiner, David (18 tháng 11 năm 2010). “ET Exclusive: Beyonce Strives to Create 'Own Genre of Music'”. Entertainment Weekly. CBS Studios Inc. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  109. ^ a ă Vena, Jocelyn (23 tháng 11 năm 2010). “Beyonce Inspired by Michael Jackson, Lauryn Hill for New Album”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2010. 
  110. ^ “Beyonce Already Working on New Album?”. Rap-Up. 4 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  111. ^ Vena, Jocelyn (22 tháng 9 năm 2010). “Beyonce Has An 'Agenda' For New Album, Ne-Yo Says”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  112. ^ James, Amber (17 tháng 9 năm 2010). “Beyonce Working on 'Biggest Album Ever'”. Pop Eater. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  113. ^ Montgomery, James (12 tháng 1 năm 2011). “Beyonce Working With Kanye West Producer S1”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011. 
  114. ^ “Beyonce Calls on M.I.A. Hitmaker Diplo for New album”. Rap-Up. 24 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2011. 
  115. ^ “Beyonce Dives Into Studio with Frank Ocean”. Rap-Up. 12 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2011. 
  116. ^ “Beyonce's New Album "4" To Be Released on Tuesday, June 28” (Thông cáo báo chí). New York: Columbia Records. 18 tháng 5 năm 2011. 
  117. ^ “Beyonce Drops Official Version Of 'Run The World (Girls)'”. MTV. 21 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
  118. ^ Warner, Kara (20 tháng 1 năm 2011). “Beyonce To Star In Clint Eastwood's 'A Star Is Born' Remake”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011. 
  119. ^ “Beyonce to Headline Glastonbury Festival – NEW YORK, Feb. 10, 2011”. PR Newswire (PR Newswire Association LLC.). 10 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  120. ^ “BBC News - Beyonce to play Oxegen festival at Punchestown”. BBC News. 5 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2011. 
  121. ^ Knopper, Steve (25 tháng 2 năm 2011). “Industry Lashes out at Mariah Carey, Beyonce and Others Who Played For Qaddafis Fammily”. Rolling Stones. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  122. ^ Kaufman, Gil (3 tháng 3 năm 2011). “Beyonce Donated Gadhafi Money To Haiti Relief Last Year”. MTV News (MTV Networks). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2011. 
  123. ^ “Beyonce Cuts Management Ties with Father”. Rap-Up. 28 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  124. ^ Silverman, Stephen (16 tháng 11 năm 2005). “Beyoncé Unveils Her New Fashion Line”. People. Truy cập 17 tháng 4 năm 2008. 
  125. ^ a ă â Rashbaum, Alyssa (19 tháng 12 năm 2005). “Tina Knowles - House of Dereon”. VIBE. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  126. ^ “The Beyoncé Experience”. Cosmopolitan. Truy cập 5 tháng 4 năm 2008. 
  127. ^ Adenitire, Adenike (8 tháng 6 năm 2005). “Destiny's Child Put On A Fashion Show At U.K. Concert”. MTV News. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  128. ^ Moss, Corey (12 tháng 4 năm 2005). “Beyonce In Talks For Potential "Dream" Film Role”. MTV News. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  129. ^ Butler, Meredith (15 tháng 8 năm 2005). “Rancho Bernardo company teams with singer”. North Country Times. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  130. ^ a ă “Beyonce Fashion Diva Hits the Runway as the Most Stylish Game for Phones”. Business Wire (Reuters). 15 tháng 1 năm 2008. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  131. ^ “Showbiz Tonight”. Cable News Network. 20 tháng 6 năm 2006. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  132. ^ “Pepsi FAQs”. Pepsi. Truy cập 8 tháng 9 năm 2011. 
  133. ^ Nat, Ives (18 tháng 12 năm 2002). “Pepsi Switches To a New Voice Of a Generation”. The New York Times. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  134. ^ Jeckell, Barry (23 tháng 1 năm 2004). “Pop Stars Clash in U.K. Pepsi Ad”. Reuters (Yahoo). Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  135. ^ “For The Record: Quick News On Britney Spears, Paris Hilton, Sum 41, Lil' Kim, Gerald Levert, Morrissey & More”. MTV News. 28 tháng 2 năm 2005. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  136. ^ Mitchell, Gail (2 tháng 10 năm 2009). “Beyonce: The Billboard Q&A”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 8 tháng 10 năm 2009. 
  137. ^ Susman, Gary (15 tháng 4 năm 2003). “Bills, Bills, Bills”. Entertainment Weekly. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  138. ^ Jessen, Monique, et al. (22 tháng 6 năm 2004). “Beyoncé Launches New True Star Fragrance”. Entertainment Weekly. Truy cập 12 tháng 4 năm 2008. 
  139. ^ Givhan, Robin (18 tháng 5 năm 2007). “The Aura of a Pinup: Beyoncé's Winning Image”. The Washington Post. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  140. ^ Rose, Lacey (22 tháng 9 năm 2008). “World's Best-Paid Music Stars”. Forbes. Truy cập 23 tháng 9 năm 2008. 
  141. ^ “#4 Beyoncé Knowles”. Forbes. 3 tháng 6 năm 2009. Truy cập 4 tháng 6 năm 2009. 
  142. ^ “Access Hollywood - Beyonce Speaks About Her Past Depression”. 15 tháng 12 năm 2006. 
  143. ^ “Contact Music - Beyonce: "I was depressed at 19"”. 12 tháng 1 năm 2008. 
  144. ^ a ă â “CBS News - Beyonce On Love, Depression and Reality...”. 13 tháng 12 năm 2006. 
  145. ^ “Female First - Beyonce Knowles Opens Up About Depression”. 18 tháng 12 năm 2006. 
  146. ^ “Beyonce keeps 'em guessing”. The Times of India. 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập 21 tháng 3 năm 2008. 
  147. ^ Aswad, Jem (2 tháng 4 năm 2008). “Jay-Z And Beyonce Take Out Marriage License: Reports”. MTV News. Truy cập 3 tháng 4 năm 2008. 
  148. ^ Vineyard, Jennifer (4 tháng 10 năm 2005). “Beyonce Shoots Down Jay-Z Marriage Rumors In Vanity Fair Interview”. MTV News. Truy cập 5 tháng 4 năm 2008. 
  149. ^ Helling, Steve (22 tháng 4 năm 2008). “Beyoncé and Jay-Z File Signed Marriage License”. People. Truy cập 23 tháng 4 năm 2008. 
  150. ^ “Beyoncé's ring revealed!”. People magazine 70 (12): 26. 22 tháng 9 năm 2008. 
  151. ^ “Beyonce, Jay-Z the richest pair”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. 
  152. ^ Kaufman, Gil (13 tháng 1 năm 2010). “Jay-Z And Beyonce Named Top-Earning Couple In Entertainment”. MTV News. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2011. 
  153. ^ “Beyonce Gives Birth To a Baby Girl”. Billboard. Prometheus Global Media. 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Bài hát của Beyoncé