Katy Perry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Katy Perry
Perry đến dự lễ trao giải NRJ Music Award tại Cannes, Pháp ngày 14 tháng 12 năm 2013
Sinh Katheryn Elizabeth Hudson
25 tháng 10, 1984 (30 tuổi)
gần Santa Barbara, California, Hoa Kỳ
Nơi cư trú Los Angeles, California, Hoa Kỳ
Tên khác Katy Hudson
Công việc
Quê quán Santa Barbara, California, Hoa Kỳ
Tài sản 44 triệu đô-la Mỹ (số liệu ước tính tháng 10, 2014)[1]
Vợ (hoặc chồng) Russell Brand (k.hôn  2010–2012) «start: (2010)–2012 (2012-end+1:)»"Hôn nhân: Russell Brand đến Katy Perry" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Katy_Perry)
Người thân Frank Perry (chú)
David Hudson (em trai)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
Năm khoảng. 2000–nay
Hãng đĩa
Hợp tác

The Matrix


KATY'S signature.svg
Chữ ký của Katy Perry
Website
katyperry.com

Katheryn Elizabeth "Katy" Hudson (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1984)[2], được biết rộng rãi với nghệ danh Katy Perry, là một nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc, thương nhân, nhà hoạt động từ thiện và diễn viên người Mỹ. Cô sinh ra ở Santa Barbara bang California và lớn lên ở đó trước khi chuyển về sống tại Los Angeles. Do không được tiếp xúc nhiều với dòng nhạc thịnh hành khi còn nhỏ, cô theo đuổi thể loại Nhạc Phúc âm ở lứa tuổi thiếu niên và cho phát hành album đầu tay của mình, Katy Hudson (2001). Sau đó, cô thực hiện một album hợp tác cùng The Matrix; và tiếp sau là một album đơn ca cùng với Glen Ballard, nhưng dự án chưa bao giờ được phát hành.

Vào tháng 4 năm 2007, Perry ký hợp đồng thu âm cùng hãng Capitol Records. Cô bắt đầu đạt được danh tiếng khi phát hành đĩa đơn "I Kissed a Girl" cùng album phòng thu thứ hai mang tên One of the Boys (2008). Album này tiếp tục cho phát hành 3 đĩa đơn khác, có bao gồm đĩa đơn quán quân "Hot n Cold". Album phòng thu thứ ba, Teenage Dream (2010) tiếp tục phát hành hàng loạt các đĩa đơn đứng đầu Billboard Hot 100 như "California Gurls", "Teenage Dream", "Firework", "E.T.", "Last Friday Night (T.G.I.F.)", cũng như đĩa đơn đạt đến top 3 "The One That Got Away". Đây đồng thời là album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ có 5 đĩa đơn ăn khách đạt vị trí quán quân trong lịch sử Billboard Hot 100, và là album thứ hai trong tổng thể, chỉ đứng sau Bad (1987) của Michael Jackson. Vào tháng 3 năm 2012, cô tái bản lại album này với tên gọi Teenage Dream: The Complete Confection, có bao gồm đĩa đơn quán quân "Part of Me" và đĩa đơn Á quân "Wide Awake". Album phòng thu thứ tư của cô, Prism (2013) cho đến nay đã cho phát hành 5 đĩa đơn, có bao gồm 2 đĩa đơn quán quân "Roar" và "Dark Horse".

Perry đã nhận được vô số giải thưởng và đề cử, có bao gồm 11 đề cử cho giải Grammy, 3 Kỷ lục Guinness Thế giới và danh hiệu "Người phụ nữ của năm 2012" do tạp chí âm nhạc Billboard bình chọn. Cô còn lọt vào danh sách "Nữ nghệ sĩ bội thu nhất trong âm nhạc" của tạp chí Forbes trong các năm 2011, 2012 và 2013. Trong xuyên suốt sự nghiệp âm nhạc của mình, Perry đã bán ra hơn 11 triệu album và 81 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới, giúp cô trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc có số doanh thu lớn nhất mọi thời đại. Cô cũng cho ra nhiều sản phẩm thương mại theo tên tuổi của mình, như các dòng nước hoa Purr, Meow, và Killer Queen. Vào tháng 7 năm 2011, cô lần đầu tham gia lồng tiếng cho bộ phim điện ảnh mang tên The Smurfs. Một năm sau, cô phát hành bộ phim tài liệu tiểu sử của riêng mình dưới dạng 3D mang tên Katy Perry: Part of Me, miêu tả cuộc sống của cô khi đang là một nghệ sĩ đi lưu diễn vòng quanh thế giới và cuộc hôn nhân ngắn ngủi của cô cùng nam diễn viên người Anh Russell Brand vào đầu thập niên 2010.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1984–98: Những năm thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Katheryn Elizabeth Hudson được sinh ra gần Santa Barbara, California trong một gia đình của hai mục sư thuộc Phong trào Ngũ Tuần, Maurice Keith Hudson (sinh năm 1947) và Mary Christine Perry (sinh năm 1947),[3][4] của Đoàn Mục Sư Keith Hudson,[5] hai người tự xem là được sinh lại và tin Chúa sau những năm tháng "tuổi trẻ hoang đàng".[6] Em trai của cô, David (sinh năm 1988) là ca sĩ chính của ban nhạc Hudson.[7] Cô và David có một người chị gái tên là Angela (sinh năm 1982). Keith mang dòng máu Anh trong khi Mary lại có gốc gác từ Ireland, Bồ Đào Nha, AnhĐức. Cũng từ Mary, Katy còn là cháu gái kế của nam đạo diễn và sản xuất Frank Joseph Perry, Jr. (1930–1995).[8][9] Từ lúc lên 3 tới lúc 11 tuổi, Perry thường xuyên phải đi khắp nơi cùng gia đình khi cha mẹ cô thực hiện nhiều buổi truyền giáo trên khắp đất nước, trước khi họ ổn định tại Santa Barbara. Khi còn nhỏ, cô cùng các anh chị em của mình tham gia nhiều trường học và hội trại theo tôn giáo, bao gồm trường theo đạo Chúa Santa Barbara trong những năm chính khoá. Cả gia đình cô đã phải sống trong cảnh túng thiếu, khi nhiều lần sử dụng chương trình cung cấp thức ăn cho người nghèo và dùng thức ăn trong ngân quỹ để chia sẻ cùng giáo đoàn ở nhà thờ của cha mẹ cô.[10] Chính Katy cũng phải chơi guitar và hát để kiếm tiền trong suốt những năm niên thiếu của mình.[11][12]

Trong suốt thời gian trưởng thành, cô thường xuyên nghe nhạc theo thể loại Phúc âm,[13] khi cha mẹ cô không ủng hộ việc cô, David và Angela nghe những "loại nhạc trần tục" lúc bấy giờ,[14] mà chỉ được cho phép nghe một vài nghệ sĩ như Ella FitzgeraldBillie Holiday, cũng như Édith Piaf khi cô được may mắn thừa hưởng khả năng nghe và nói tiếng Pháp từ mẹ.[15] Cô khám phá những loại nhạc thịnh hành lúc đó nhờ những lần lén nghe những đĩa CD và xem kênh MTV ở nhà khi cha mẹ không để ý.[16] Cô còn thường lấy những cuộn băng cassette của chị mình ra để tập luyện và hát chúng trước sự chứng kiến của cha mẹ cô.[17] Cô bắt đầu học hát từ năm 9 tuổi,[18] sau đó bắt đầu sáp nhập vào đoàn mục sư của cha mẹ cô,[6] và tham gia hát tại các nhà thờ cho đến khi cô 16 tuổi.[6][14][19] Vào lần sinh nhật thứ 13, Perry được tặng cây đàn guitar đầu tiên,[6][20] và bắt đầu trình bày các bài hát tự sáng tác từ đó.[11] Lúc còn thiếu niên, Perry có tham gia chơi trượt ván, trượt pa-tanh và lướt sóng. David có lần mô tả cô như là một "tomboy" trong khoảng thời gian này.[21] Perry còn học nhảy swing, Lindy Hop, và jitterbug trong một trung tâm giải trí tại Santa Barbara.[22]

1999–2006: Katy HudsonThe Matrix[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Perry hoàn tất chương trình học trong năm đầu tại trường Trung học Dos Pueblos,[23] cô quyết định rời khỏi đó để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc của mình. Kế đến, Perry đăng ký một khoá opera tiếng Ý tại Nhạc Viện Phía Tây ở Santa Barbara.[17] Khả năng ca hát của cô nhận được sự chú ý từ Steve Thomas và Jennifer Knapp, những người sau này đã dắt cô về Nashville, Tennessee để hoàn thiện kỹ năng sáng tác.[5] Tại Nashville, cô bắt đầu ghi âm những bản thu thử đầu tiên và được dạy về cách để chơi guitar và phác thảo bài hát.[14][13] Sau khi ký kết cùng hãng thu âm Red Hill Records, Perry bắt tay vào thu âm và cho phát hành album đầu tay mang tên Katy Hudson vào ngày 8 tháng 2 năm 2001. Để quảng bá cho album, cô tham gia trình diễn trong The Strangely Normal Tour và tham gia mở đầu các chuyến lưu diễn cho Phil Joel, LaRue, Luna Halo, Earthsuit, và V*Enna;[24] đồng thời cho phát hành hai đĩa đơn "Trust in Me" hồi tháng 2 năm 2001 và "Search Me" vào tháng 6 cùng năm.[25] Tuy vậy, album này lại là một thất bại về mặt thương mại, khi chỉ bán ra tổng cộng chưa tới 200 bản,[26] khiến hãng thu âm phải chấm dứt hợp đồng với cô vào tháng 12 năm 2001[5]

Nhằm chuyển đổi từ dòng nhạc Phúc âm sang các thể loại mang tính truyền thông hơn, Perry bắt đầu sáng tác cùng nhà sản xuất Glen Ballard,[27] và chuyển đến Los Angeles, California năm 17 tuổi.[28] Vào năm 2003, cô trình diễn dưới nghệ danh "Katheryn Perry" để tránh nhầm lẫn với tên của nữ diễn viên Kate Hudson, trước khi chuyển sang sử dụng nghệ danh "Katy Perry".[29] Sau khi ký kết cùng hãng thu âm Island Records,[30] cô trở thành giọng ca nữ của The Matrix và cùng họ hợp tác trong một album. Dù vậy, Island Def Jam cho hủy album này ngay trước khi nó được phát hành. Không lâu sau, cô bị hãng thu âm chấm dứt hợp đồng, album đơn ca mà cô hợp tác cùng Ballard cũng vì vậy mà bị hoãn lại vô thời hạn. Perry sau đó có ký kết cùng hãng Columbia Records vào năm 2004,[5] nhưng cô lại tiếp tục bị hủy hợp đồng một lần nữa. Lúc đó, cô tham gia hoạt động trong một hãng A&R tư nhân mang tên Taxi Music.[31]

Perry có đạt được một vài thành công nhất định trong khoảng thời gian này. Bài hát "Simple" mà cô hợp tác cùng Ballard được phát hành trong phần nhạc phim của The Sisterhood of the Traveling Pants vào năm 2005.[32] Cô còn tham gia hát nền cho bài hát giành giải Quả Cầu Vàng cho "Ca khúc trong phim hay nhất"[33] của Mick Jagger, "Old Habits Die Hard".[34] Bài hát "Long Shot" mà Perry sáng tác cùng bạn trai Matt Thiessen và Ballard được Kelly Clarkson sử dụng lại trong album All I Ever Wanted vào tháng 3 năm 2009 của cô.[35] Cô tiếp tục tham gia hát nền và xuất hiện trong video âm nhac cho đĩa đơn "Goodbye for Now" của P.O.D..[36] Cuối tháng 11 năm đó, cô đóng vai người tình với người mà sau này đã trở thành bạn trai thật ngoài đời của cô, Travie McCoy của nhóm Gym Class Heroes, trong video ca nhạc "Cupid's Chokehold".[37]

2007–09: Thành công vượt bậc với One of the Boys[sửa | sửa mã nguồn]

A woman in a pink dress playing her guitar in front of a microphone
Perry trình diễn vào tháng 7 năm 2008

Sau khi bị hãng Columbia cắt hợp đồng vào năm 2006, Perry được tiến cử đến cho chủ tịch Jason Flom của hãng đĩa Virgin Records bởi nhà đại diện công khai của hãng đĩa, Angelica Cob-Baehler. Lúc đó, Flom bị thuyết phục về việc cô có thể là một ngôi sao sáng giá, giúp cho Katy có được hợp đồng cùng Capitol Music, một hãng đĩa hợp nhất từ Virgin và Capital vào tháng 4 năm 2007.[5] Hãng thu âm cũng tạo điều kiện cho cô hợp tác cùng nhà sản xuất Dr. Luke để phục vụ cho album phòng thu sắp tới,[38] mà thành quả là hai bài hát "I Kissed a Girl" và "Hot n Cold" mà họ đồng sáng tác trong album One of the Boys. Một chiến dịch được mở ra cùng lúc với thời điểm phát hành video "Ur So Gay" của cô hồi tháng 11 năm 2007, nhằm giới thiệu cô đến thị trường âm nhạc và định hình hình ảnh của cô. Một đĩa mở rộng kỹ thuật số cũng được phát hành nhằm tạo dấu ấn trên cộng đồng mạng.[6][39] Madonna có quảng bá cho "Ur So Gay" khi đề cao bài hát này trong chương trình JohnJay & Rich vào tháng 4 năm 2008.[40] Vào tháng 3 năm 2008, Perry tham gia trong vai ca sĩ phòng trà trong tập "Life's Too Short" của loạt phim Wildfire,[41] và xuất hiện trong một loạt ảnh vào tháng 6 của tạp chí Restless Style thuộc chương trình The Young and the Restless.[42]

Katy cho phát hành đĩa đơn đầu tiên cùng hãng Capitol, đồng thời là đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "I Kissed a Girl" vào ngày 28 tháng 4 năm 2008. The River tại Nashville là trạm phát thanh đầu tiên chọn phát ca khúc này. Sau ba ngày xuất hiện, bài hát nhận được rất nhiều lượt yêu cầu phát sóng của thính giả.[39] Cô cũng tham gia hát nền cho bài hát "Another Night in the Hills" trong album hát đơn của Gavin Rossdale, Wanderlust được phát hành đầu tháng 6 năm 2008.[43] Cũng trong tháng đó, "I Kissed a Girl" đạt được thành công vang dội trên thị trường âm nhạc quốc tế, khi có 7 tuần liên tiếp dẫn đầu Billboard Hot 100.[44] Ca khúc cũng là đĩa đơn đầu tiên của Perry đạt vị trí đầu bảng tại nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Anh, Úc, CanadaĐức. Ngày 20 tháng 6, cô bắt đầu chuyến lưu diễn Warped Tour 2008.[45]

One of the Boys được chính thức phát hành vào ngày 17 tháng 6 năm 2008 trong nhiều luồng đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc.[46] Album leo lên vị trí thứ 9 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được chứng nhận đĩa Bạch kim từ RIAA.[47] Đĩa đơn thứ hai của album, "Hot N Cold" được phát hành vào ngày 9 tháng 9. Đĩa đơn đạt đến vị trí thứ ba trên Billboard Hot 100 và đứng đầu bảng xếp hạng tại Canada, ĐứcĐan Mạch. Sau khi cô kết thúc chuyến lưu diễn Warped Tour, cô tiếp tục lưu diễn dài hạn tại khu vực Châu Âu. Hai đĩa đơn sau cùng của album, "Thinking of You" và "Waking Up In Vegas" lần lượt được phát hành vào năm 2009,[48][49] và đều đạt đến top 30 Hot 100.[50]

A woman in a seashell outfit singing
Perry trình diễn tại Life Ball vào tháng 5 năm 2009 tại Vienna, Áo

Cô giành giải "Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất" tại MTV Europe Music Awards 2008, nơi chính cô đứng ra làm chủ trì,[51] và giải "Nữ nghệ sĩ quốc tế xuất sắc nhất" tại BRIT Awards năm 2009.[52] Sau khi hoàn thành chuyến lưu diễn Warped Tour 2008, Perry chính thức bắt đầu chuyến lưu diễn tiếp theo, Hello Katy Tour, bao gồm 89 đêm diễn tại Bắc Mỹ, Châu Đại Dương, Châu Âu và Châu Á, bắt đầu từ 23 tháng 1 năm 2009,[53] đến tháng 11 cùng năm.[54]. Vào ngày 4 tháng 8 năm 2009, cô trình diễn mở màn cho chuyến lưu diễn Summer Tour 2009 của ban nhạc No Doubt. Album đầu tay cùng tên của The Matrix mà Perry tham gia thực hiện từng bị dừng sản xuất trước đây, lại được tái phát hành theo hãng đĩa Let's Hear It của nhóm, nhờ vào sự thành công ở sự nghiệp đơn ca của Perry lúc bấy giờ. Ban đầu, Perry ngỏ ý muốn dời ngày phát hành của album này đến sau ngày phát hành đĩa đơn thứ tư của One of the Boys, nhưng ban nhạc vẫn cho phát hành đúng theo kế hoạch vào ngày 27 tháng 1 năm 2009 trên Cửa hàng iTunes.[55] MTV Unplugged có xác nhận việc Katy hợp tác cùng họ,[56] bao gồm một album trực tiếp của cô với phần trình diễn mộc các ca khúc trong album One of the Boys và phần thể hiện lại bản "Hackensack" của Fountains of Wayne.[57] Album trực tiếp này của cô được thu âm vào ngày 22 tháng 7,[57]và được phát hành ngày 13 tháng 11.[58] Cô liếp tiếp xuất hiện trong bản phối lại của ca khúc "Starstrukk" do 3OH!3 trình bày vào tháng 9 năm 2009,[59] và song ca cùng Timbaland trong đĩa đơn "If We Ever Meet Again" vào tháng 1 năm 2010, trích từ Shock Value II.[60][61] Sách Kỷ lục Guinness ghi nhận Katy có "Khởi đầu xuất sắc nhất trên bảng xếp hạng kỹ thuật số cho một nghệ sĩ nữ" cho hai đĩa đơn đầu tay bán hơn 2 triệu bản phát hành kỹ thuật số.[62]

Sau kết thúc mối quan hệ cùng McCoy vào tháng 12 năm 2008,[63] Perry lần đầu gặp gỡ chồng tuơng lai của mình, Russell Brand vào mùa hè năm 2009, khi cô tham gia bộ phim Get Him to the Greek. Cảnh mà cô tham gia, khi cả hai hôn nhau, không thể vượt qua lần chỉnh sửa cuối cùng và bị cắt khỏi phim.[64] Cô bắt đầu hẹn hò cùng Brand sau khi gặp lại anh tại MTV Video Music Awards 2009.[65] Cả hai đính hôn vào ngày 31 tháng 12 năm 2009 trong khi đang đi dã ngoại tại Rajasthan, Ấn Độ.[66]

2010–12: Teenage Dream và cuộc sống hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tham gia dàn giám khảo của cuộc thi American Idol,[67] cô cho phát hành đĩa đơn đầu tiên trích từ album thứ ba Teenage Dream, "California Gurls" hợp tác cùng rapper Snoop Dogg vào ngày 7 tháng 5 năm 2010. Bài hát đạt vị trí đầu bảng trên Billboard Hot 100 suốt sáu tuần liên tiếp,[68][69] cũng như dẫn đầu các bảng xếp hạng khác tại Anh, Canada và Úc. Perry đồng thời xuất hiện trong vai trò giám khảo cùng Simon Cowell, Cheryl Cole, và Louis Walsh trong phần thi thử giọng của cuộc thi The X Factor năm thứ bảy tại Anh Quốc vào tháng 6 năm 2010,[70] trước khi cho phát hành đĩa đơn thứ hai trích từ album, "Teenage Dream" vào ngày 23 tháng 7.[71] Bài hát tiếp tục đạt vị trí đầu bảng Hot 100 vào tháng 9.[72] Phát hành vào ngày 24 tháng 8 năm 2010,[73] album phòng thu thứ ba của cô mở đầu tại vị trí đầu bảng của Billboard 200 với 192,000 bản tiêu thụ ngay trong tuần đầu tiên,[74] mặc dù vấp phải nhiều phản ứng trái chiều từ các nhà phê bình.[75] Cho đến nay, album đã tẩu tán hơn 5.7 triệu bản trên toàn cầu.[76] Vào tháng 10, "Firework" được chọn để phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba của album này.[77] Nó trở thành đĩa đơn thứ ba liên tiếp của cô đạt vị trí đầu bảng trên Hot 100 vào ngày 8 tháng 12 năm 2010,[78] và cho đến nay đã 9 lần được chứng nhận Bạch kim tại Hoa Kỳ.[79]

Một phiên bản phối lại của "E.T." có phần góp giọng của rapper Kanye West được phát hành làm đĩa đơn thứ 4 của Teenage Dream vào ngày 16 tháng 2 năm 2011.[80] Bài hát dẫn đầu Hot 100 trong suốt 5 tuần không liên tiếp, giúp Teenage Dream trở thành album thứ 9 trong lịch sử có 4 đĩa đơn đạt đầu bảng Hot 100.[81] "Last Friday Night (T.G.I.F.)" tiếp tục được chọn làm đĩa đơn thứ 5 vào tháng 6,[82] giúp Perry trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có 5 bài hát đạt ngôi đầu bảng Hot 100 trong cùng một album khi đĩa đơn này đạt ngôi quán quân ngày 17 tháng 8, và là nghệ sĩ thứ hai sau Michael Jackson cùng album Bad (1987).[83][62] Vào ngày 7 tháng 9, cô tiếp tục thiết lập một kỷ lục khác khi trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 69 tuần liên tiếp nằm trong top 10 Hot 100.[84] Vào tháng 10, "The One That Got Away" được chọn làm đĩa đơn thứ sáu của album.[85] Bài hát đạt đến vị trí thứ 3 trên Hot 100,[86] đồng thời đạt đến vị trí thứ 3 tại Hoa Kỳ và ngôi Á quân tại Canada.[87] Vào ngày 13 tháng 12 năm 2012, hãng Capitol cho phát hành đĩa đơn đầu tiên trích từ Teenage Dream: The Complete Confection, "Part of Me". Bài hát đạt ngôi quán quân Hot 100 ngay trong tuần đầu phát hành, trở thành đĩa đơn thứ 7 của Perry dẫn đầu bảng xếp hạng.[50][88] Teenage Dream: The Complete Confection được chính thức phát hành vào ngày 23 tháng 3.[89] "Wide Awake" được chọn phát hành dưới dạng tiếp theo của album tái bản này,[90] và đạt đến vị trí thứ 2 trên Hot 100,[86] trong khi nắm giữ ngôi quán quân tại Canada[87] và New Zealand.[91] Vào ngày 5 tháng 1, cô được ghi danh là nghệ sĩ có lượng đĩa kỹ thuật số bán chạy thứ 6 tại Hoa Kỳ, với tổng doanh số đạt 37.6 triệu bản, theo Nielsen SoundScan.[92] Cũng trong tháng đó, cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 5 bài hát vượt ngưỡng 5 triệu bản kỹ thuật số.[93]

Katy Perry performing during the California Dreams Tour
Perry trong chuyến lưu diễn California Dreams Tour vượt ngưỡng 59 triệu đô-la Mỹ của mình

Từ ngày 20 tháng 2 năm 2011,[94] đến ngày 22 tháng 1 năm 2012,[95] Perry tham gia chuyến lưu diễn California Dreams Tour nhằm quảng bá cho Teenage Dream, với tổng doanh thu sau cùng đạt 59 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu.[96] Vào ngày 23 tháng 9 năm 2011, cô trình bày trong ngày mở màn của "Ngày hội Rock in Rio 2011" cùng Elton John, Claudia Leitte, và Rihanna.[97] Vào tháng 9 năm 2010, Perry dự định xuất hiện trong tập đầu thuộc mùa thứ 41 của chuơng trình kịch nghệ thiếu nhi Sesame Street. Sau khi cảnh của cô được đăng tải lên YouTube, khán giả lên tiếng chỉ trích vì việc lộ khe ngực của cô trong chuơng trình. Trước khi lên sóng, Sesame Workshop có thông báo phần này không được trình chiếu trên truyền hình, nhưng vẫn có thể được tìm xem trực tuyến.[98] Perry chế nhạo lại sự tranh cãi trong chuơng trình Saturday Night Live, khi cô là khách mời âm nhạc trong chuơng trình và mặc một chiếc áo giống với nhân vật Elmo sâu xuống ngực.[99]

Vào tháng 12 năm 2010, Perry vào vai bạn gái của Moe Szyslak trong tập phim giáng sinh của The Simpsons mang tựa đề "The Fight Before Christmas".[100] Vào tháng 2 năm 2011, cô tham gia làm khách mời trong tập "Oh Honey" của loạt phim hài kịch tình huống ăn khách How I Met Your Mother, trong vai một người phụ nữ tên là Honey.[101] Vai diễn mang về cho cô giải People's Choice Awards cho "Khách mời ngôi sao truyền hình được yêu thích nhất" trong mùa giải lần thứ 39 vào tháng 1 năm 2012.[102] Cô lần đầu tham gia lồng tiếng cho bộ phim điện ảnh 3D dành cho gia đình The Smurfs trong vai Smurfette vào ngày 29 tháng 7 năm 2011. Bộ phim là một thành công lớn về mặt thuơng mại trên toàn cầu,[103] trong khi nhận được luồng đánh giá tiêu cực từ phía các nhà phê bình.[104] Cô chủ trì Saturday Night Live vào ngày 10 tháng 12 năm 2011 cùng nữ ca sĩ Robyn dưới dạng nghệ sĩ khách mời, giúp cô nhận được nhiều đánh giá tích cực từ phía các nhà phê bình.[105] Vào tháng 3 năm 2012, cô tham gia vai một nhân viên bảo vệ tên là Rikki trong tập "Single White Female Role Model" của loạt phim truyền hình Raising Hope.[106] Vào ngày 5 tháng 7 năm 2012, bộ phim tài liệu tiểu sử của chính cô Katy Perry: Part of Me được phát hành trên các rạp chiếu thông qua hãng Paramount Pictures.[107] Phim nhận được nhiều phản hồi tích cực[108] và đạt ngưỡng 30 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu.[109]

Perry bắt đầu cho ra nhiều dòng sản phẩm thương mại theo tên tuổi của mình, khi cô phát hành dòng nước hoa đầu tiên, Purr vào tháng 11 năm 2010. Dòng nước hoa tiếp theo, Meow! được phát hành vào tháng 11 năm 2011. Cả hai đều được xuất hiện trong các cửa hàng Nordstrom.[110][111] Electronic Arts tái tạo lại chính cô để quảng bá cho trò chơi The Sims 3: Showtime,[112] trước khi cho phát hành một phiên bản khác, có bao gồm đồ nội thất, trang phục và kiểu tóc lấy cảm hứng từ Perry với tên gọi The Sims 3: Katy Perry's Sweet Treats vào tháng 6 năm 2012.[113] Tháng kế tiếp, cô trở thành người phát ngôn kiêm đại sứ và tham gia đầu tư vào nhãn hàng Popchips.[114] Cô xuất hiện trong danh sách "Nữ nghệ sĩ bội thu nhất trong âm nhạc" của tạp chí Forbes trong 2 năm liên tiếp, với vị trí thứ 3 vào năm 2011 (44 triệu đô-la Mỹ),[115] và vị trí thứ 5 vào năm 2012 (45 triệu đô-la Mỹ).[116] Cô còn được tạp chí âm nhạc Billboard bình chọn cho danh hiệu "Người phụ nữ của năm 2012".[117]

Cô và Brand lấy nhau vào ngày 23 tháng 10 năm 2010 trong một lễ cưới theo truyền thống Hindu, tại Rajasthan, Ấn Độ.[118] Sau 14 tháng chung sống, Brand điền tờ đơn li dị vào ngày 30 tháng 12 năm 2011, với lý do về những khác biệt không thể hòa giải. Cuộc hôn nhân của họ chính thức kết thúc vào ngày 16 tháng 7 năm 2012.[119] Bộ phim Katy Perry: Part of Me có tiết lộ về lịch trình công việc mâu thuẫn giữa hai họ và việc anh muốn có con với cô trước khi đến đoạn cùng của cuộc hôn nhân.[5] Tháng 6 năm 2013, cô tiết lộ với Vogue việc Brand không thích cô "làm chủ" mọi chuyện và anh không hề nói chuyện với cô lần nào nữa kể từ khi nhắn tin li dị với cô.[120] Cô cũng chia sẻ với Billboard vào cuối tháng 9 năm 2013 về ý định tự tử mà cô từng có do quá suy sụp với cuộc ly hôn.[121] Perry tiếp tục một mối tình khác với nam ca sĩ John Mayer trong tháng 8 cùng năm.[122]

2013–nay: Prism[sửa | sửa mã nguồn]

Perry chia sẻ với Billboard vào mùa thu năm 2012 về Prism: "Tôi biết chính xác việc cần làm với những đĩa nhạc tiếp theo. Tôi cũng biết cả bìa đồ họa, màu sắc cũng như giai điệu... Tôi còn biết hình ảnh của chuyến lưu diễn tiếp theo của tôi sẽ như thế nào... Và tôi cũng thật sự vui nếu như những tầm nhìn trên của tôi trở thành hiện thực.". Dù vậy, Perry có nhắc đến việc cô không hề muốn album tiếp theo của mình sẽ là một "Teenage Dream 2.0", khi khẳng định: "Đó sẽ là một điều ngớ ngẩn. Tôi thực sự không có một lợi ích nào nếu tôi không cố gắng và vượt qua bản thân mình ở mọi góc độ".[123] Cho dù trước đó Perry có thổ lộ với L'Uomo Vogue vào tháng 6 năm 2012 về việc dự định các "yếu tố tối màu hơn" trong Prism,[120][124] thì khi cô tiết lộ với MTV trong mùa giải VMA 2013, cô khẳng định mình đã thay đổi chủ đề của album sau khi cô được "khai sáng" thông qua sự nỗ lực của bản thân. Cô nói "nó giống như tôi phản chiếu những màu sắc mà tôi được trải nghiệm ra khỏi tôi", điều lấy cảm hứng cho cái tên Prism mà cô đặt cho album.[125] "Roar" đồng thời cũng được phát hành dưới dạng đĩa đơn đầu tiên trích từ Prism vào ngày 10 tháng 8 năm 2013.[126] Sau khi cô khép lại lễ trao giải MTV Video Music Awards 2013 với màn trình diễn ca khúc "Roar" vào ngày 25 tháng 8 năm 2013 dưới chân cầu Brooklyn,[127] thì vào ngày 4 tháng 9 năm 2013, Billboard thông báo "Roar" đạt vị trí đầu bảng trên Billboard Hot 100.[128] "Unconditionally" được chọn phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ hai trích từ album vào ngày 16 tháng 10 năm 2013.[129] và đạt đến vị trí thứ 14 tại Hoa Kỳ.[130]

Katy Perry performing during The Prismatic World Tour
Perry đang trình diễn trong chuyến lưu diễn The Prismatic World Tour vào tháng 7 năm 2014

Prism được xuất hiện trên các trang mạng trực tuyến,[131] trước khi được phát hành chính thức vào ngày 18 tháng 10 năm 2013,[132] và mở màn tại ngôi đầu bảng Billboard 200,với 286,000 bản được tiêu thụ ngay trong tuần đầu tiên.[133] 4 ngày sau, Perry trình diễn các bài hát trong Prism lần đầu tiên tại iHeartRadio Theater tại Los Angeles.[134] "Dark Horse" được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba trích từ album vào ngày 17 tháng 12,[135] và trở thành đĩa đơn thứ chín của cô đạt vị trí đầu bảng tại Hot 100 vào ngày 29 tháng 1 năm 2014.[136] Trong năm 2014, "Birthday"[137][138] và "This Is How We Do"[139] lần lượt được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ 4 và 5 trong album, và đều đạt đến top 25 Hot 100.[50] Perry còn thu âm và đồng sáng tác bản song ca cùng với bạn trai John Mayer trong ca khúc mang tên "Who You Love", trích từ album Paradise Valley. Bài hát được phát hành trước khi album ra mắt vào ngày 20 tháng 8 năm 2013.[140][141] Perry bắt đầu chuyến lưu diễn thứ ba, The Prismatic World Tour vào ngày 7 tháng 5 năm 2014. Chặng đầu tiên của chuyến lưu diễn được bắt đầu tại Châu Âu,[142] và tiếp tục đi đến Bắc Mỹ,[143] và Châu Đại Dương,[144][145] trước khi kết thúc vào ngày 22 tháng 3 năm 2015.[146] Vào ngày 9 tháng 10 năm 2014, Billboard thông báo chính thức về việc Perry tham gia trình diễn tại Super Bowl XLIX.[147]

Vào đầu tháng 2 năm 2014, Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế có ghi danh Perry tại vị trí thứ 5 trong danh sách "Nghệ sĩ hàng đầu toàn cầu năm 2013", giúp cô là nữ nghệ sĩ có thứ hạng cao nhất trong danh sách.[148] Vào ngày 26 tháng 6, cô được vinh danh là "Nghệ sĩ được chứng nhận kỹ thuật số nhiều nhất" bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ với 72 triệu đĩa đơn kỹ thuật số được tiêu thụ tại Hoa Kỳ.[79][149] Vào tháng 5 năm 2014, Perry được phác thảo trong một bức vẽ do họa sĩ Mark Ryden thực hiện được cho ra mắt tại Phòng Tranh Kohn tại Los Angeles, California trong một dự án tranh vẽ của ông. Cùng nhiều nghệ sĩ khác, cô cũng tham gia thể hiện lại ca khúc "Daisy Bell (Bicycle Built for Two)" cho dự án tranh vẽ trên.[150] Cũng trong tháng đó, một bức họa của Perry do họa sĩ Will Cotton thực hiện được xuất hiện trong Viện Ảnh Quốc Gia Hoa Kỳ.[151]

Bên cạnh sự nghiệp ca hát, Perry tiếp tục tham gia lồng tiếng cho The Smurfs 2 được phát hành vào ngày 31 tháng 7 năm 2013.[152] The Smurfs 2 đạt doanh thu 347,545,360 đô-la Mỹ trên các cụm rạp chiếu phim trên toàn cầu,[153] cho dù nhận được những phản hồi gay gắt từ phía các nhà phê bình, giống như phần trước của bộ phim.[154] Vào tháng 3 năm 2014, cô tham gia trong phần cuối của chương trình Kroll Show.[155] Killer Queen được phát hành dưới dạng dòng nước hoa thứ ba của cô vào tháng 8 năm 2013 thông qua Coty, Inc.[156] Cô còn trở thành nhà phụ trách trong dự án Art for Freedom của Madonna vào đầu tháng 1 năm 2014.[157] Ngày 17 tháng 6 năm 2014, Perry chính thức thông báo về hãng đĩa riêng của mình dưới sự hoạt động của Capital Records mang tên "Metamorphosis Music". Ferras là nghệ sĩ đầu tiên ký kết hợp đồng cùng hãng đĩa này, và Perry tham gia làm nhà sản xuất độc quyền cho đĩa mở rộng cùng tên của anh được phát hành vào ngày 17 tháng 6 năm 2014. Cô cũng đồng thời thu âm một bản song ca mang tên "Legends Never Die" cùng Ferras trong EP này.[158] Ngày 11 tháng 12 năm 2013, tạp chí Forbes tiếp tục xếp cô vào vị trí thứ 7 trong danh sách "Nữ nghệ sĩ trong âm nhạc bội thu nhất" năm 2013 với tổng thu nhập trong năm đạt 39 triệu đô-la Mỹ.[159] Vào tháng 2 năm 2014, mối tình của cô cùng Mayer chính thức kết thúc.[160][161]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Alanis Morissette (trái) và Freddie Mercury (phải) là những yếu tố chính ảnh hưởng đến phong cách âm nhạc của Perry.

Ở thời gian đầu sự nghiệp, Perry chỉ chủ yếu tập trung vào chủ đề tôn giáo cùng dòng nhạc phúc âm và từng khao khát trở thành Amy Grant.[162] Lúc 15 tuổi, cô nghe đến "Killer Queen" của ban nhạc Queen và mô tả nó là ca khúc khiến cô theo đuổi sự nghiệp âm nhạc sau này.[163] Cô cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi thành viên trưởng nhóm, Freddie Mercury, khi chia sẻ "sự kết hợp giữa khả năng sáng tác châm biếm và thái độ bất cần của ông" là cảm hứng cho âm nhạc của cô.[164] Cô tỏ lòng mến mộ nhóm nhạc này khi dùng tên bài hát "Killer Queen" để đặt cho dòng nước hoa thứ ba của mình.[156] Cô còn nhắc đến The Beach Boys và album Pet Sounds của họ như là những điều ảnh hưởng đến cô trong âm nhạc: "[đó là] một trong những bản thu âm tôi yêu thích và ảnh hưởng hầu hết tới những sáng tác của tôi. Tất cả những lựa chọn về giai điệu mà tôi thực hiện đều hướng về Pet Sounds."[165] Theo Perry, album cùng tên của The BeatlesPet Sounds đã là "những thứ duy nhất mà tôi nghe trong vòng hai năm liền."[166]

Perry còn bị ảnh hưởng bởi nữ ca sĩ Alanis Morissette, chủ yếu từ album Jagged Little Pill năm 1995 của cô. Perry chia sẻ "Jagged Little Pill là bản thu âm hoàn hảo nhất của một nghệ sĩ nữ. Trong đó, các bài hát dành cho tất cả mọi người; tôi cảm thấy kết nối được đến tất cả các bài hát đó. Chúng vẫn sẽ trở nên vĩnh cửu với thời gian."[15] Perry còn lấy cảm hứng từ Flaming Red của Patty Griffin10 Cent Wings của Jonatha Brooke.[15] Perry còn mong muốn trở thành Joni Mitchell và muốn phát hành âm nhạc mang thể loại folkacoustic.[167] Bộ phim tài liệu tiểu sử Katy Perry: Part of Me được Perry lấy cảm hứng chủ yếu từ Madonna: Truth or Dare. Cô ngưỡng mộ khả năng chuyển đổi bản thân của Madonna, và khẳng định "Tôi muốn thay đổi mình như Madonna".[168]

Perry còn liệt kê nhiều cái tên khác làm cảm hứng cho sản phẩm của cô. Gwen StefaniBjörk là một ví dụ, khi Perry đề cao việc "sẵn lòng luôn nắm bắt cơ hội" của Bjork".[15] Bài hát "Firework" được dựa trên một đoạn từ quyển On the Road của Jack Kerouac, khi tác giả so sánh những người đầy sức sống như những bông pháo hoa bắn lên bầu trời và khiến mọi người ngước nhìn trầm trồwe.[169] Chuyến lưu diễn California Dreams Tour được dựa trên câu chuyện Cuộc phiêu lưu của Alice vào Xứ sở thần tiênThe Wizard of Oz.[170] Cô cũng lấy cảm hứng từ The Craft (1996) cho bài hát "Dark Horse",[171] và quyển sách The Power of Now của Eckhart Tolle cho album Prism.[172]

Phong cách âm nhạc và chủ đề chính[sửa | sửa mã nguồn]

Perry tham dự lễ trao giải Logie Awards vào tháng 5 năm 2011.

Trong khi phong cách âm nhạc của Perry thường bao gồm các yếu tố pop, rock, điện tử, dance, và disco, thì album đầu tay Katy Hudson lại mang hơi hướng của dòng nhạc Phúc âm nhiều hơn. Các sản phẩm tiếp sau của cô, One of the BoysTeenage Dream đều có liên quan đến chủ đề tình dục và tình yêu. Nếu như One of the Boys là một bản thu âm mang âm điệu pop rock, thì Teenage Dream lại mang những ảnh hưởng từ dòng nhạc disco.[173][174] Ở album phòng thu thứ 4 của Perry, Prism các yếu tố của nhạc dance và pop lại được bộc lộ nhiều hơn cả. Về ca từ, album mang đến thông điệp về tình cảm đôi lứa, sự nhìn nhận bản thân và cuộc sống đời thường.[175] Nhiều bài hát của cô, chủ yếu trích từ Teenage Dream, đều lột tả tình cảm ở độ tuổi thiếu niên; W có mô tả những ngụ ý về tình dục của album như là "những giai điệu bắt tai không thể cưỡng lại".[176] Niềm tin vào bản thân cũng là một chủ đề thường được bắt gặp trong âm nhạc của Perry.[177]

Perry thường được nhận diện là một "ca sĩ kiêm sáng tác dưới dạng một ngôi sao nhạc pop"[11] và luôn giữ vững việc tự sáng tác như là một điều rất quan trọng đối với cô. Cô chia sẻ với Marie Claire: "Tôi cảm thấy phép màu bí mật giúp tôi lột tả bản thân rõ ràng hơn chính là dũng khí để trở nên tổn thương, chân thật và chính xác. Tôi nghĩ rằng mọi người có thể trở nên dễ tiếp cận hơn khi bản thân họ đang bị tổn thương."[178] Kristen Wiig cho rằng "các ca khúc của Perry càng khoáng đãng, dễ chịu và dễ gây nghiện bao nhiêu, thì bên dưới bề mặt là bấy nhiêu những cảm xúc đan xen, động cơ hỗn tạp, và mẫu thuẫn bốc đồng đến mức có thể lấp đầy đĩa nhạc của Carole King." Greg Kot của Chicago Tribune lại xác định "việc được tiếp nhận một cách nghiêm túc có lẽ là thử thách lớn nhất của Perry."[179] The New York Times thì nhận định Perry là "ngôi sao nhạc pop hùng mạnh nhất trong hiện tại - các bài hát ăn khách của cô đều dễ dàng tiếp nhận với chỉ một gợi ý thử nghiệm.[180] Trong khi Randall Roberts của tờ Los Angeles Times lại chỉ trích tính "rập khuôn" trong cách sử dụng thành ngữ và phép ẩn dụ của cô trong ca từ.[181][182] Trong xuyên suốt sự nghiệp của mình, Perry còn tham gia đồng sáng tác cho nhiều nghệ sĩ khác, có bao gồm Ashley Tisdale[183] Selena Gomez & the Scene,[184][185] Jessie James,[186] Kelly Clarkson,[187] Lesley Roy,[188] Britney Spears,[189]Iggy Azalea.[190]

Perry sở hữu quãng giọng thuộc loại nữ trầm.[191][192] Giọng hát của Perry đều nhận được những sự tán duơng và chỉ trích khác nhau. Trong khi Betty Clarke từ The Guardian cho rằng cô có "chất giọng mạnh mẽ đầy mãnh liệt",[193] thì Rob Sheffield từ Rolling Stone lại chỉ trích phần giọng "xử lý cao rời rạc" mà Perry thể hiện trong Teenage Dream.[174] Darren Harvey từ musicOMH có so sánh giọng hát của Perry trong One of the Boys với Alanis Morissette, khi cả hai đều sở hữu "chất giọng vui tươi trên nền âm tiết trung quãng tám".[194] Alex Miller từ NME lại cảm thấy "vấn đề của Perry thường là ở giọng hát của cô" trong One of the Boys.[195] Bernadette McNulty từ The Daily Telegraph thì ngược lại, khi đề cao "chất giọng rock" của cô trong bài nhận xét về một đêm diễn quảng bá cho Prism.[196]

Hình tượng công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục kẹo bạc hà xoay chuyển độc nhất của Perry.

Perry được nhìn nhận là một biểu tượng gợi cảm. GQ gọi cô là một "mơ ước của cánh đàn ông",[11] trong khi Elle lại miêu tả cô như "được phác thảo bởi một chàng trai thiếu niên".[23] Vice có mô tả cô là một "ngôi sao nhạc pop, phụ nữ và biểu tượng gợi cảm quan trọng".[197] Cô từng dẫn đầu bảng xếp hạng Hot 100 của tạp chí Maxim năm 2010, với lượng bầu chọn từ đọc giả cho danh hiệu "Người phụ nữ hấp dẫn nhất thế giới".[198] Đọc giả của tạp chí Men's Health có bầu chọn cô là "Người phụ nữ hấp dẫn nhất năm 2013".[199] Đầu tháng 11 năm 2010, Perry chia sẻ sự tự hào và thỏa mãn với hình tượng của mình cùng tạp chí Harper's Bazaar.[200]

Thời trang của Perry thường dung hòa các yếu tố hài hước, màu sắc tươi sáng và bao gồm những chủ đề liên quan đến thức ăn,[201] như chiếc váy hình kẹo bạc hà xoay chuyển độc nhất của cô.[202] Vogue mô tả cô là "người chưa bao giờ thật sự ngại ngùng trước sự ác liệt và khắc nghiệt ở bất kỳ lĩnh vực nào",[203] trong khi Glamour lại gọi cô là "bà hoàng mưu mô".[204] Vào tháng 2 năm 2009, cô thổ lộ cùng Seventeen rằng phong cách thời trang của cô là "sự dung hòa của nhiều điều khác biệt" và khẳng định việc cô yêu thích sự hài hước trong những bộ cánh của mình.[22] Cô còn mô tả mình mắc chứng bệnh "Rối loạn bản sắc phân ly" trong thời trang.[200] Perry nhắc đến Gwen Stefani, Shirley Manson, Chloë Sevigny, Daphne Guinness, Natalie Portman, và nhân vật hư cấu Lolita như là những biểu tượng phong cách của cô.[28][205]

Trên các phương tiện truyền thông, Perry vượt mặt Justin Bieber để trở thành người có tài khoản Twitter đạt nhiều lượt theo dõi nhất vào đầu tháng 11 năm 2013.[206] Vào tháng 1 năm 2014, cô trở thành người đầu tiên đạt 50 triệu lượt người theo dõi trên hệ thống này,[207] đồng thời thiết lập Kỷ lục Guinness Thế giới phiên bản năm 2015 cho người được theo dõi nhiều nhất trên Twitter.[208] Dorothy Pomerantz từ Forbes có lần khen ngợi Perry về thói quen sử dụng mạng xã hội của cô, khi cho rằng "Perry sử dụng Twitter một cách tuyệt vời, khi cô trò chuyện, chia sẻ những tấm hình và video hài hước với người hâm mộ của mình theo cách khiến họ cảm thấy như chính cô là bạn thân của họ."[209][210] Keith Caulfield từ Billboard cũng tán duơng việc cô sử dụng mạng xã hội để tương tác với cộng đồng người hâm mộ của mình[211]

Những hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Perry trở thành Đại sứ Thiện chí cho UNICEF vào tháng 11 năm 2012

Perry đã nhiều lần hỗ trợ các tổ chức từ thiện và nhân đạo trong suốt sự nghiệp của mình. Cô có những đóng góp nổi bật đến những tổ chức có mục đích cải thiện cuộc sống và chăm sóc cho trẻ em trên toàn thế giới. Đầu tháng 4 năm 2013, Perry gia nhập quỹ UNICEF để hỗ trợ giáo dục và dinh dưỡng cho trẻ em ở Madagascar.[212] Vào ngày 3 tháng 12 năm 2013, Perry chính thức trở thành Đại sứ thiện chí của UNICEF, "cùng việc tập trung đưa những người trẻ tuổi tham gia các hoạt động của tổ chức nhằm cải thiện đời sống của những trẻ em và thanh thiếu niên gặp khó khăn nhất của thế giới".[213] Cô còn quyên góp số tiền trích từ chuyến lưu diễn Prismatic World Tour cho quỹ UNICEF.[214] Vào cuối tháng 9 năm 2010, cô giúp đỡ xây dựng và thiết kế cho quỹ mái ấm cho thanh thiếu niên Boys Hope/Girls Hope tại Baltimore, Maryland cùng Raven-Symoné, Shaquille O'Neal, và dàn diễn viên từ Extreme Makeover: Home Edition.[215] Cô còn ra sức ủng hộ cho nền giáo dục trẻ em; như vào tháng 5 năm 2014, Perry cùng nhiều nghệ sĩ khác tham gia thu âm một phiên bản của bài hát "Daisy Bell (Bicycle Built for Two)" trong một album đính kèm theo chiến dịch của họa sĩ Mark Ryden, mang tựa đề "The Gay 90s". Tất cả lợi nhuận từ doanh thu album đều được quyên góp cho quỹ Little Kids Rock, nơi hỗ trợ nền giáo dục âm nhạc tại các trường chính khóa gặp khó khăn.[150] Vào tháng 6 năm 2014, cô tham gia Staples Inc. trong một dự án mang tên "Make Roar Happen" nhằm quyên góp 1 triệu đô-la Mỹ cho DonorsChoose, một tổ chức giúp đỡ các giáo viên và gầy dựng tài nguyên lớp học cho các trường công lập.[216]

Perry còn tham gia ủng hộ các tổ chức giúp đỡ người mắc bệnh ung thưHIV/AIDS. Trong chuyến lưu diễn 2008 Warped Tour, cô quyên góp tiền cho Quỹ Keep A Breast, một tổ chức sử dụng nghệ thuật và các chương trình giáo dục để nâng cao nhận thức phòng chống và phát hiện sớm căn bệnh ung thư vú.[217] Cô chủ trì và trình diễn trong đêm nhạc We Can Survive cùng Bonnie McKee, Kacey Musgraves, Sara Bareilles, Ellie Goulding, và cặp đôi Tegan and Sara tại Hollywood Bowl, Los Angeles, California, vào ngày 23 tháng 10 năm 2013. Lợi nhuận từ đêm diễn đều được quyên góp cho Young Survival Coalition, một tổ chức chăm sóc các bệnh nhân ung thư vú.[218] Vào tháng 6 năm 2009, cô thiết kế cho chiến dịch "Fashion Against AIDS" thuộc nhãn hiệu H&M, nơi quyên góp cho dự án nhận thức HIV/AIDS.[219]

Số tiền lợi nhuận trích từ đĩa đơn "Part of Me" của Perry đều được quyên góp cho MusiCares, một tổ chức từ thiện giúp đỡ các nhạc sĩ gặp khó khăn.[220] Tại chuyến lưu diễn California Dreams Tour, cô quyên góp 175,000 đô-la Mỹ cho quỹ Tickets-For-Charity. Số tiền được chuyển đến 3 tổ chức từ thiện: Children's Health Fund (CHF), Generosity Water, và The Humane Society of the United States.[221] Trong lần sinh nhật thứ 27, Perry mở một trang mạng quyên góp cho Hiệp hội Ngăn chặn đối xử tàn bạo với động vật Auckland,[222] và mở ra một trang quyên góp tuơng tự cho David Lynch Foundation trong lần sinh nhật thứ 26.[223] Vào ngày 29 tháng 3 năm 2014, cô tiếp tục giúp đỡ quyên góp 2.4 triệu đô-la cho Bảo tàng Nghệ thuật Đuơng đại tại Los Angeles cùng nhiều nghệ sĩ khác như Ryan Seacrest, Pharrell Williams, Tim Allen, Lisa Edelstein, và Riley Keough.[224]

Hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Perry là một nhà đấu tranh cho quyền bình đẳng của cộng đồng LGBT. Cô ủng hộ tổ chức Stonewall nhờ chiến dịch ngăn chặn nạn ức hiếp người đồng tính "It gets better..... today",[225] và thực hiện video âm nhạc "Firework" cho dự án It Gets Better Project.[226] Perry chia sẻ với Do Something vào tháng 11 năm 2008 về việc cô cảm thấy tự hào khi là một nhà đấu tranh cho người đồng tính, và nói rằng "Tôi luôn là một người rất cởi mở, nhưng tôi luôn tin về quyền bình đẳng." Cô xác nhận việc bình chọn chống lại Dự luật 8, một tu chính hiến pháp nhằm thu hẹp định nghĩa của hôn nhân để chỉ cho phép hai người khác giới tính cưới nhau và loại bỏ quyền kết hôn của những cặp đồng phái tính tại California.[227] Vào tháng 6 năm 2012, Perry bày tỏ hi vọng của bản thân cho quyền bình đẳng của cộng đồng LGBT, khi chia sẻ "hi vọng rằng, một lúc nào đó chúng ta sẽ nhìn lại khoảnh khắc này và nghĩ rằng hành động này xâm phạm đến các vấn đề về quyền công dân. Chúng ta sẽ chỉ biết lắc đầu trong sự bất bình và nói rằng 'Tạ ơn Chúa chúng ta đã cải tiến điều đó.' Đó có thể là lời cầu nguyện của tôi trong tương lai."[228] Vào tháng 12 năm 2012, Perry được nhận giải Trevor Hero Award của dự án The Trevor Project bởi những cống hiến của cô trong việc đấu tranh cho cộng đồng LGBT.[229] Cô còn là một người đấu tranh cho chủ nghĩa nữ giới,[230] và xuất hiện vào tháng 4 năm 2012 trong một đoạn video của chiến dịch "Chime For Change" nhằm tuyên bố sức mạnh của nữ giới.[231] Cô còn thổ lộ việc thiếu điều kiện chăm sóc sức khỏe miễn phí tại Hoa Kỳ khiến cô "hoàn toàn phát bực".[232]

Thông qua Twitter và việc trình diễn bài hát "Let's Stay Together" tại các buổi nhạc hội tại Los Angeles, Las Vegas, và Wisconsin của Tổng thống Barack Obama, Perry thể hiện sự ủng hộ ông trong chiến dịch tái bầu cử vào đầu tháng 11 năm 2012 trước lập trường của ông về hôn nhân đồng giới,[233] và quyền bình đẳng.[234] Trong khi biểu diễn, cô mặc một chiếc váy in hình của một lá phiếu, với ô bầu chọn cho ông Obama được điền vào.[235] Trên Twitter, cô động viên lượng người theo dõi của mình bầu chọn cho ông Obama.[236] Tháng 8 năm 2013, Perry lên tiếng chỉ trích Tony Abbott, người tham gia ứng cử vào chức Thủ tướng Úc lúc bây giờ, dựa vào những tư tưởng của ông về hôn nhân đồng giới,[237] khi chia sẻ "Tôi yêu quý ông như là một con người nhưng tôi không thể bỏ phiếu cho ông."[237] Vào tháng 4 năm 2014, cô ủng hộ công khai cho Marianne Williamson bằng việc đến dự một sự kiện chính trị trong chiến dịch của cô thuộc khuôn khổ Hội nghị Khu vực quốc hội .[238]

Các thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong xuyên suốt sự nghiệp âm nhạc của mình, Perry đã nhận được 11 đề cử cho giải Grammy,[239] 2 giải American Music Award,[240][241] 5 giải MTV Video Music Awards,[242][243] 14 giải People's Choice Awards,[244] và hai Kỉ lục Guinness Thế giới.[62] Cuối tháng 9 năm 2012, Billlboard vinh danh cô là "Người Phụ nữ của Năm".[117] Từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 9 năm 2011, cô phá vỡ kỷ lục với 69 tuần liên tiếp nằm trong top 10 Billboard Hot 100.[245][84] Teenage Dream trở thành album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ có 5 đĩa đơn đạt vị trí quán quân tại Hot 100 và là album thứ hai trong tổng thể, chỉ đứng sau Bad (1987) của Micheal Jackson.[83] Cô được vinh danh là "Nữ nghệ sĩ thu âm đứng đầu toàn cầu năm 2013" bởi Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế.[148] Tính đến tháng 5 năm 2014, cô đã có tổng cộng 9 đĩa đơn đạt vị trí đầu bảng trên Hot 100, với đĩa đơn gần đây nhất là "Dark Horse".[136]

Theo Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), Perry là nghệ sĩ có lượng đĩa đơn kỹ thuật số bán chạy nhất tại Hoa Kỳ, với lượng doanh số đạt 72 triệu bản kỹ thuật số, bao gồm cả lượng truyền dữ liệu theo yêu cầu.[246] Các bài hát "Firework", "E.T.", "California Gurls", "Hot n Cold", "Roar", và "Dark Horse" đều đạt ngưỡng 5 triệu bản kỹ thuật số.[247] Tính đến tháng 11 năm 2013, Perry đã bán 11 triệu album và 81 triệu đĩa đơn trên toàn cầu.[248][249]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phẩm tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng[250] Album
Flag of the United States.svg Mỹ Flag of Australia.svg Úc Flag of Austria.svg Áo Flag of Canada.svg Canada Flag of Germany.svg Đức Flag of Ireland.svg Ireland Flag of the Netherlands.svg
Lan
Flag of New Zealand.svg New Zealand Flag of Switzerland.svg Thụy Sĩ Flag of the United Kingdom.svg Anh
2008 "I Kissed a Girl" 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 One of the Boys
"Hot n Cold" 3 4 1 1 1 3 1 5 1 4
2009 "If We Ever Meet Again"
(hợp tác với Timbaland)
37 9 10 4 9 3 11 1 7 3 Shock Value II
2010 "California Gurls"
(hợp tác với Snoop Dogg)
1 1 3 1 3 1 2 1 4 1 Teenage Dream
"Teenage Dream" 1 2 2 2 6 1 4 1 8 2
"Firework" 1 3 3 1 4 2 8 1 3 3
2011 "E.T."
(hợp tác với Kanye West)
1 5 7 1 9 5 27 1 14 3
"Last Friday Night (T.G.I.F.)" 1 5 7 1 15 2 7 4 20 9
2012 "Part of Me" 1 5 18 1 20 5 27 1 33 1 Teenage Dream:
The Complete Confection
"Wide Awake" 2 4 28 1 39 6 26 1 21 9
2013 "Roar" 1 1 1 1 2 1 2 1 3 1 Prism
2014 "Dark Horse" 1 1 1 2 2 3 4 5 5 4
Tổng số đĩa đơn quán quân 9 4 4 9 2 4 2 9 2 4

Các chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Fabulous Life of Pop Divas: Katy Perry”. VH1. Viacom. 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2014. 
  2. ^ Breimeier, Russ. “Katy Hudson”. Christianity Today (Christianity Today International). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2008. 
  3. ^ Perry 2012, 05:23
  4. ^ Friedlander 2012, tr. 15
  5. ^ a ă â b c d Cutforth, Dan; Lipsitz, Jane (đạo diễn);Perry, Katy (người viết tự truyện). (July 5, 2012). Katy Perry: Part of Me. [Phim]. Hoa Kỳ; ghi hình tại các xưởng phim:Insurge Pictures, Imagine Entertainment, Perry Productions et la.: Paramount Pictures. 
  6. ^ a ă â b c Graff, Gary (21 tháng 2 năm 2009). “Interview: Katy Perry – Hot N Bold”. The Scotsman (Johnston Press). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009. 
  7. ^ Wass, Mike (20 tháng 8 năm 2013). “7 Questions With David Hudson: His Movement, The Music & Advice From Big Sister Katy Perry”. Idolator. Spin Media. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2014. 
  8. ^ Robinson, Lisa (3 tháng 5 năm 2011). “Katy Perry's Grand Tour”. Vanity Fair (Advance Publications). Truy cập tháng 1 năm 2014. 
  9. ^ Robinson, Lisa (3 tháng 5 năm 2011). Katy Perry on Her Religious Childhood, Her Career, and Her Marriage to Russell Brand. Vanity Fair. 
  10. ^ Grigoriadis, Vanessa (19 tháng 8 năm 2010). “Sex, God & Katy Perry”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  11. ^ a ă â b Wallace, Amy (19 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry's GQ Cover Story”. GQ (Advance Publications). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ Wallace, Amy (19 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry's GQ Profile Outtakes: Going Back to School, Dating Musicians and Plastic Surgery”. GQ (Advance Publications). Truy cập tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ a ă Montgomery, James (24 tháng 6 năm 2008). “Katy Perry Dishes on Her 'Long And Winding Road' From Singing Gospel To Kissing Girls”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. 
  14. ^ a ă â “Katy Perry”. TheStarScoop.com. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009. 
  15. ^ a ă â b Mitchell, Gail (30 tháng 11 năm 2012). “Katy Perry Q&A: Billboard's Woman of the Year 2012”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012. 
  16. ^ “Katy Perry Discusses Evangelical Childhood, Term 'Deviled Eggs' Banned from House”. Billboard (Prometheus Global Media). May–June 2011. Truy cập tháng 2 năm 2014. 
  17. ^ a ă Panda, Priya. “Katy Perry Wants to Draw on Your Face”. Toonage. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009. 
  18. ^ Friedlander 2012, tr. 8
  19. ^ Hudson 2012, tr. 41
  20. ^ Friedlander 2012, tr. 18
  21. ^ Hudson 2012, tr. 25
  22. ^ a ă “Find Out What Influences Katy Perry's Cute Style!”. Seventeen. 5 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  23. ^ a ă Hudson, Kathryn (29 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry: Elle Canada Interview”. Elle (Hachette Filipacchi Médias). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  24. ^ “The Strangely Normal Tour – Phil Joel, Earthsuit, V*Enna, & Katy Hudson”. Epinions. eBay. 22 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  25. ^ “Katy Hudson”. Katy Hudson Website. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ Summers 2012, tr. 10
  27. ^ Perry 2012, 21:11
  28. ^ a ă Hirschberg, Lynn (22 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry”. W (Advance Publications). Truy cập tháng 11 năm 2013. 
  29. ^ Perry 2012, 38:33
  30. ^ Greenblatt, Leah (30 tháng 5 năm 2008). “'Kiss' Me, Katy”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  31. ^ Summers 2012, tr. 11–12
  32. ^ Perry, Katy (24 tháng 1 năm 2007). “Katy Perry "Simple"”. YouTube. Java Records. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  33. ^ “Mick Jagger says he never hit on 18-year-old Katy Perry”. USA Today (Gannett Company). 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. 
  34. ^ Hay, Carla (29 tháng 1 năm 2005). “'Alfie', 'Aviator', and 'Ray' Rack Up Awards”. Billboard (Nielsen Business Media). Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2014. 
  35. ^ Dominic, Serene (12 tháng 12 năm 2009). “Interview: Relient K's Matt Thiessen”. The Arizona Republic (John Zidich). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  36. ^ “Goodbye For Now”. YouTube. Atlantic Records. 2006. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  37. ^ Gym Class Heroes (27 tháng 11 năm 2006). “Cupid's Chokehold”. YouTube. Decaydance Records. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  38. ^ “Correction to the interview with Chris Anokute”. HitQuarters. 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  39. ^ a ă “Interview With Chris Anokute”. HitQuarters. 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  40. ^ “Madonna shouts out Katy Perry”. YouTube. KHKZ. 21 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  41. ^ Summers 2012, tr. 61
  42. ^ Summers 2012, tr. 99
  43. ^ Wanderlust. Gavin Rossdale. Interscope Records. 2008. 
  44. ^ Cohen, Jonathan (14 tháng 8 năm 2008). “Rihanna Topples Katy Perry on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  45. ^ “Katy Perry on Warped 2008: Mosh Pits, Injuries and Andrew WK”. Rolling Stone (Jann Wenner). 25 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  46. ^ “One of the Boys”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2009. 
  47. ^ “Katy Perry - Chart history”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2009. 
  48. ^ Carter, Kevin (12 tháng 1 năm 2009). “CHR/Top 40”. Radio & Records. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2014. 
  49. ^ “Waking Up in Vegas”. Rolling Stone (Jann Wenner). 30 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014. 
  50. ^ a ă â “Katy Perry – Chart history: The Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  51. ^ Kaufman, Gil (7 tháng 11 năm 2008). “Americans Katy Perry, Britney Spears, Kanye West, 30 Seconds To Mars Dominate 2008 MTV EMAs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009. 
  52. ^ Paine, Andre (18 tháng 2 năm 2009). “Duffy Triumphs With Three BRIT Awards”. Billboard (Prometheus Global Media). 
  53. ^ Summers 2012, tr. 19
  54. ^ Hudson 2012, tr. 83
  55. ^ Kaufman, Gil (27 tháng 1 năm 2009). “The Matrix Drop Long-Lost Album Featuring Katy Perry”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  56. ^ MTV Unplugged (Compact Disc). Katy Perry. Capitol Records. 2009. 
  57. ^ a ă Montgomery, James (12 tháng 10 năm 2009). “Katy Perry's MTV Unplugged Album Will Feature Two New Songs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  58. ^ “MTV Unplugged: Katy Perry”. iTunes. Apple Inc. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  59. ^ “Starstrukk (feat. Katy Perry)”. iTunes Store. Apple Inc. 14 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  60. ^ “If We Ever Meet Again”. Rolling Stone (Jann Wenner). 30 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2014. 
  61. ^ “Video: Timbaland f/ Katy Perry – 'If We Ever Meet Again'”. Rap-Up (Devin Lazerine). 18 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  62. ^ a ă â Glenday, Craig (2013). Guinness World Records 2013. Random House LLC. tr. 423. 
  63. ^ “Katy Perry And Travis Split”. MTV News. Viacom. 5 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  64. ^ Vena, Jocelyn (4 tháng 6 năm 2010). “Katy Perry Explains Why She Was Cut From 'Get Him to the Greek'”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2012. 
  65. ^ Ziegbe, Mawuse (4 tháng 9 năm 2010). “Katy Perry, Russell Brand's Love Story Began at the VMAs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  66. ^ Heldman, Breanne L. (6 tháng 1 năm 2010). “Katy Perry and Russell Brand Engaged in India”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010. 
  67. ^ Barrett, Annie (27 tháng 1 năm 2010). “'American Idol': The Kara vs. Katy Lifetime movie”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  68. ^ Montgomery, James (9 tháng 6 năm 2010). “Katy Perry's 'California Gurls' Makes History in Rise To #1”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  69. ^ Trust, Gary (9 tháng 6 năm 2010). “Katy Perry Speeds To No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  70. ^ “Katy Perry Hits Dublin For X Factor Auditions”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  71. ^ Greenblatt, Leah (22 tháng 7 năm 2010), “Katy Perry's new single 'Teenage Dream' hits the web”, Entertainment Weekly (Time Inc.), truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014 
  72. ^ Pietroluongo, Silvio (8 tháng 9 năm 2010). “Katy Perry's 'Teenage Dream' Dethrones Eminem on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  73. ^ Vena, Jocelyn (11 tháng 5 năm 2010). “Katy Perry To Release Teenage Dream On August 24”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2014. 
  74. ^ Caulfield, Keith (23 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry's 'Prism' Set for No. 1 Debut on Billboard 200 Chart”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  75. ^ “Teenage Dream Reviews”. Metacritic. CBS Corporation. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  76. ^ Reaney, Patricia (22 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry shows vulnerability, maturity on new album 'Prism'”. Reuters. The Woodbridge Company. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2014. 
  77. ^ Semigran, Aly (8 tháng 2 năm 2011). “Glee Sets 'Firework' Apart From 'Silly Love Songs'”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014. 
  78. ^ Pietroluongo, Silvio (8 tháng 12 năm 2010). “Katy Perry's 'Firework' Shines Over Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  79. ^ a ă “RIAA Crowns Katy Perry Top Certified Digital Artist Ever”. Recording Industry Association of America. 26 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  80. ^ Wete, Brad (16 tháng 2 năm 2011). “Kanye West abducts Katy Perry on singer's new single, 'E.T'”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014. 
  81. ^ Trust, Gary (30 tháng 3 năm 2011). “Katy Perry's 'E.T.' Rockets To No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2011. 
  82. ^ “FMQB: Radio Industry News, Music Industry Updates, Nielsen Ratings, Music News and more!”. FMQB. 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2014. 
  83. ^ a ă Trust, Gary (17 tháng 8 năm 2011). “Katy Perry Makes Hot 100 History: Ties Michael Jackson's Record”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2011. 
  84. ^ a ă Trust, Gary (7 tháng 9 năm 2011). “Adele's 'Someone Like You' Soars To No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011. 
  85. ^ “Available for Airplay (10/11)”. FMQB. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014. 
  86. ^ a ă Lipshutz, Jason (9 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry's 10 Biggest Billboard Hits”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014. 
  87. ^ a ă “Katy Perry – Chart history: Billboard Canadian Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  88. ^ Trust, Gary (11 tháng 2 năm 2012). “Katy Perry's' 'Part of Me' Hits iTunes, Radio Monday”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  89. ^ “Teenage Dream: The Complete Confection”. iTunes Store. Apple Inc. 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  90. ^ “Top 40/M Future Releases”. All Access. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014. 
  91. ^ “Katy Perry - Wide Awake”. Top 40 Singles. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  92. ^ Loynes, Anna. “The Nielsen Company & Billboard's 2011 Music Industry Report”. Business Wire. Berkshire Hathaway. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2012. 
  93. ^ Grein, Paul (19 tháng 1 năm 2012). “Week Ending Jan. 15, 2012. Songs: The Song That Won't Drop”. Yahoo! Music. Yahoo!. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  94. ^ Vena, Jocelyn (11 tháng 10 năm 2010), Katy Perry Announces European Tour Dates, MTV News. Viacom, truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014 
  95. ^ “Katy Perry 'So Excited' To Finish 'California Dreams' Tour In The Philippines”. Capital FM. Global Group. 22 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014. 
  96. ^ “Top 25 Worldwide Tours (01/01/2011 – 12/31/2011)” (PDF). Pollstar (Pollstar, Inc.). 28 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  97. ^ “Rock in Rio 2011: A hora e a vez do pop”. Jornal da Cidade de Bauru (bằng Portuguese). 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  98. ^ “Katy Perry Too Hot for 'Sesame Street'?”. CBS News. CBS Corporation. 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  99. ^ “Katy Perry mocks Sesame Street ban”. Capital FM. Global Group. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2014. 
  100. ^ Kaufman, Gil (27 tháng 9 năm 2010). “Katy Perry to appear on 'The Simpsons' in December”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011. 
  101. ^ Tucker, Ken (7 tháng 2 năm 2011). “How I Met Your Mother: 'Oh Honey'”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2011. 
  102. ^ “Katy Perry Wins Five People's Choice Awards Including Fave Guest Star for 'How I Met Your Mother'”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  103. ^ “The Smurfs (2011)”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2011. 
  104. ^ “The Smurfs”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  105. ^ Rutherford, Keith (11 tháng 12 năm 2011). “Katy Perry Hosts 'SNL': The Hits & Misses, Including a Florence Welch Spoof”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  106. ^ Moraski, Lauren (22 tháng 2 năm 2012). “Katy Perry to portray a prison attendant on "Raising Hope"”. CBS News. CBS Corporation. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  107. ^ Warner, Kara (7 tháng 3 năm 2012). “Katy Perry: Part Of Me' Concert Movie Due This Summer”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2014. 
  108. ^ “Katy Perry: Part of Me (2012)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2012. 
  109. ^ “Katy Perry: Part of Me”. Box Office Mojo. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2012. 
  110. ^ Howard, Hilary (17 tháng 11 năm 2010). “Beauty Spots”. The New York Times (Arthur Ochs Sulzberger, Jr.). Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  111. ^ Moraski, Lauren (1 tháng 2 năm 2012). “Katy Perry to perform at Grammy Awards”. CBS News. CBS Corporation. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2014. 
  112. ^ Sweeney, Mark (17 tháng 1 năm 2012). “Katy Perry becomes a Sim”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2012. 
  113. ^ “The Sims 3 Katy Perry's Sweet Treats”. Electronic Arts. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  114. ^ Donnelly, Matt (25 tháng 7 năm 2012). “First Look: Katy Perry joins Popchips as its face, an investor”. Los Angeles Times (Eddy Hartenstein). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2012. 
  115. ^ Greenburg, Zack O'Malley (14 tháng 12 năm 2011). “The Top-Earning Women In Music 2011”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2011. 
  116. ^ Greenburg, Zack O'Malley (12 tháng 12 năm 2012). “The Top-Earning Women In Music 2012”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  117. ^ a ă “Katy Perry: Billboard's Woman of the Year”. Billboard (Prometheus Global Media). 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  118. ^ Ganguly, Prithwish (26 tháng 10 năm 2010). “Katy affirms Brand loyalty”. The Times of India (The Times Group). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  119. ^ Vena, Jocelyn (16 tháng 7 năm 2012). “Katy Perry And Russell Brand Officially Divorced”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  120. ^ a ă Woods, Vicki (tháng 6 năm 2013). “Katy Perry's First Vogue Cover”. Vogue (Condé Nast). Truy cập tháng 7 năm 2013. 
  121. ^ Diehl, Matt (27 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry's 'PRISM': The Billboard Cover Story”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  122. ^ “John Mayer Dedicates Song to Katy Perry During Tour Opener”. Billboard (Prometheus Global Media). 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  123. ^ “Katy Perry Won't Rush New Album: "I Know Exactly The Record I Want To Make Next"”. Capital. Global Group. 1 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  124. ^ “Katy Perry inspired by Madonna”. MTV News. Viacom. Tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  125. ^ Garibaldi, Christina (27 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry 'Lets the Light In' On Prism. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  126. ^ Caulfield, Keith (10 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry's 'Roar' Arrives Early: Listen”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  127. ^ Wickman, Kase (26 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry Makes Brooklyn 'Roar' With Epic VMA Finale”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  128. ^ Trust, Gary (4 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry Dethrones Robin Thicke Atop Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  129. ^ Benjamin, Jeff (16 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Wails on New Single "Unconditionally"”. Fuse. The Madison Square Garden Company. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013. 
  130. ^ Trust, Gary (17 tháng 2 năm 2014). “Ask Billboard: Katy Perry Regains No. 1 Momentum”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2014. 
  131. ^ Ellis, Stacy-Ann (17 tháng 10 năm 2013). “PRISM stream”. Vibe (Spin Media). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013. 
  132. ^ Hill, Nick (31 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Scores Billboard No.1 With 'Prism', Topping Miley Cyrus' Sales”. Contactmusic.com. Channel 4. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014. 
  133. ^ Caulfield, Keith. “Katy Perry's 'PRISM' Shines at No. 1 on Billboard 200”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  134. ^ Gundersen, Edna (22 tháng 10 năm 2013). “Live stream: Katy Perry's 'Prism' album release party”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014. 
  135. ^ Trust, Gary (9 tháng 12 năm 2013). “Perry's 'Dark Horse' Hit”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  136. ^ a ă Trust, Gary (29 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry's 'Dark Horse' Gallops to No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014. 
  137. ^ “CHR/Top 40”. Radio & Records. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  138. ^ “Rhythmic”. Radio & Records. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  139. ^ Strecker, Erin (24 tháng 7 năm 2014). “Katy Perry Releases Lyric Video For New Single 'This Is How We Do'”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014. 
  140. ^ Danton, Eric R. (13 tháng 8 năm 2013). “Listen to John Mayer's 'Paradise Valley' Now”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  141. ^ Gicas, Peter (26 tháng 2 năm 2014). “Katy Perry and John Mayer: Inside Their Relationship's Ups and Downs”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014. 
  142. ^ Lipshutz, Jason (18 tháng 11 năm 2013). “Katy Perry Announces First 'PRISMATIC' World Tour Dates”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  143. ^ “Katy Perry Unveils Prismatic World Tour Butterfly Dress”. ABC News. The Walt Disney Company. 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  144. ^ Hill, Dan (26 tháng 2 năm 2014). “Katy Perry's Prismatic World Tour!”. 2Day FM. Austereo Radio Network. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  145. ^ Thông báo về The Prismatic World Tour:
  146. ^ Gardener, Chris (22 tháng 10 năm 2014). “Katy Perry Cancelled 30th Birthday Party in Egypt Due to 'Safety Concerns'”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014. 
  147. ^ “Katy Perry Performing at Super Bowl XLIX Halftime Show”. Billboard (Prometheus Global Media). 9 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2014. 
  148. ^ a ă Brandle, Lars (30 tháng 1 năm 2014). “One Direction Named Most Popular Recording Artist for 2013”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  149. ^ “Katy Perry Becomes the RIAA's All-Time Top Digital Artist”. Billboard (Prometheus Global Media). 26 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014. 
  150. ^ a ă Williams, Maxwell (2 tháng 5 năm 2014). “Katy Perry Featured on Pop Artist Mark Ryden's $100 'Gay Nineties' Album”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  151. ^ Press, Associate (21 tháng 5 năm 2014). “Katy Perry Added to US National Portrait Gallery”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  152. ^ “Katy Perry taped background vocals for 'Ooh La La'”. United Press International. News World Communications. 29 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  153. ^ “The Smurfs 2 (2013)”. Box Office Mojo. Amazon.com. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  154. ^ “The Smurfs 2”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  155. ^ “Katy Perry Makes Hilarious Cameo on Kroll Show”. Maxim (Biglari Holdings Inc.). 26 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2014. 
  156. ^ a ă Wilson, Gaby (3 tháng 5 năm 2013). “Katy Perry Launches Third Fragrance: Killer Queen”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  157. ^ “Katy Perry to Guest Curate Madonna's Art for Freedom Project”. Billboard (Prometheus Global Media). 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  158. ^ Lindner, Emilee (17 tháng 6 năm 2014). “Katy Perry Starts Her Own Record Label and Reveals First Signee”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014. 
  159. ^ Greenburg, Zack O'Malley (11 tháng 12 năm 2013). “The Top-Earning Women In Music 2013”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  160. ^ Lipshutz, Jason (26 tháng 2 năm 2014). “Katy Perry & John Mayer Break Up: Report”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2014. 
  161. ^ Malkin, Marc (31 tháng 3 năm 2014). “Katy Perry After John Mayer: New Hair, New Tour, New Very Expensive Hobby”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2014. 
  162. ^ “Katy Perry on the 180 That Saved Her Career”. NPR. National Public Radio, Inc. 26 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  163. ^ Schneider, Marc (12 tháng 5 năm 2012). “Katy Perry Wants a 'Fucking Vacation' After Next Single”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  164. ^ “Freddie Mercury inspired Katy Perry to 'Kiss a Girl'”. NME (IPC Media). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  165. ^ “Katy Perry, The Things They Say”. Contactmusic.com. Dom Harrison. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  166. ^ Wiig, Kristen (2 tháng 3 năm 2012). “Katy Perry”. Interview (Dan Ragone). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  167. ^ Michaels, Sean. “Katy Perry wants to go folk acoustic – in style of Joni Mitchell”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  168. ^ Dinh, James (6 tháng 4 năm 2012). “Katy Perry's 'Part of Me' Film Inspired By Madonna”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  169. ^ Friedlander 2012, tr. 123
  170. ^ “Katy Perry's 'California Dreams' Tour: What the Critics Are Saying”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). 19 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2014. 
  171. ^ Rutherford, Kevin (22 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Reveals 'Prism' Influences, Adds Stripped-Down Performances at Album Release Event”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  172. ^ Diehl, Matt (27 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry's 'PRISM': The Billboard Cover Story”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  173. ^ Thể loại âm nhạc của Katy HudsonOne of the Boys:
  174. ^ a ă Sheffield, Rob (23 tháng 8 năm 2010). “Teenage Dream”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  175. ^ Trust, Gary (9 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry's Future 'Prism' Hits: Industry Picks”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  176. ^ Reed, James (20 tháng 10 năm 2013). “Perry shows many colors on 'Prism'”. The Boston Globe (John W. Henry). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  177. ^ Reed, James (20 tháng 10 năm 2013). “Perry shows many colors on 'Prism'”. The Boston Globe (John W. Henry). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  178. ^ Hoffman, Claire (9 tháng 12 năm 2013). “Katy Conquers All”. Marie Claire (Hearst Corporation). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  179. ^ Kot, Greg (20 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry album review; Prism reviewed”. Chicago Tribune (Tribune Company). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  180. ^ Pareles, Jon; Ratliff, Ben; Carmanica, Jon; Chinen, Nate (6 tháng 9 năm 2013). “Fall Pop Music Preview: An Abundance of Rhythms and Styles”. The New York Times. Arthur Ochs Sulzberger, Jr. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014. 
  181. ^ Roberts, Randall (22 tháng 10 năm 2013). “Review: Hits pack Katy Perry's 'Prism'”. Los Angeles Times (Eddy Hartenstein). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  182. ^ Powers, Ann (23 tháng 8 năm 2010). “Album review: Katy Perry's Teenage Dream”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  183. ^ Guilty Pleasure. Ashley Tisdale. Warner Bros. Records. 2009. 
  184. ^ Vena, Jocelyn. “Selena Gomez 'Had To Fight' To Get Katy Perry Song 'Rock God'”. MTV. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010. 
  185. ^ When the Sun Goes Down. Selena Gomez & the Scene. Hollywood Records. 2011. 
  186. ^ Jessie James. Jessie James. Mercury Records, The Island Def Jam Music Group. 2009. 
  187. ^ All I Ever Wanted. Kelly Clarkson. RCA Records/19 Recordings. 2009. 
  188. ^ Castellanos, Melissa (26 tháng 9 năm 2008). “Second Cup Cafe: Lesley Roy”. CBS. Leslie Moonves. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014. 
  189. ^ Britney Jean. Britney Spears. RCA Records. 2013. 
  190. ^ The New Classic. Iggy Azalea. The Island Def Jam Music Group. 2014. 
  191. ^ Grewal, Samar (9 tháng 10 năm 2008). “Review: Katy Perry – One of the Boys”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2014. 
  192. ^ Pirkin, Steven (1 tháng 2 năm 2009). “Review: 'Katy Perry'”. Variety (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2014. 
  193. ^ Clarke, Betty (1 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry – review”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  194. ^ Harvey, Darren (15 tháng 9 năm 2008). “Katy Perry – One of the Boys”. musicOMH. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  195. ^ Miller, Alex. “NME Album Reviews – Katy Perry”. NME (Time Inc.). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  196. ^ McNulty, Bernadette (1 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry, iTunes Festival, Roundhouse, review”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  197. ^ George, Kat (24 tháng 5 năm 2014). “Does Madonna Need Katy Perry More Than Katy Perry Needs Madonna?”. Vice (Vice Media). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  198. ^ “2010 Hot 100”. Maxim (Dan Bova). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  199. ^ “The Hottest Women of 2013”. Men's Health (Rodale, Inc.). Tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  200. ^ a ă Apodaca, Rose. “Katy Perry's Interview – Quotes from Katy Perry”. Harper's Bazaar (Hearst Corporation). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  201. ^ Larson, John (14 tháng 9 năm 2010). “Katy Perry // "Teenage Dream"”. Tacoma Weekly (Pierce County Community Newspaper Group). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
  202. ^ Menyes, Carolyn (12 tháng 7 năm 2012). “Katy Perry Asked to Ditch Hazardous Peppermint Bra”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
  203. ^ “Fashion Fireworks: Katy Perry's Best Performance Looks”. Vogue (Condé Nast). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  204. ^ Lyons Powell, Hannah. “Katy Perry's Changing Style and Fashion”. Glamour (Condé Nast). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  205. ^ Young, Katy (1 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry reveals her perfume preferences”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013. 
  206. ^ Hollister, Sean (3 tháng 11 năm 2013). “Katy Perry passes Justin Bieber as most popular person on Twitter”. The Verge (Vox Media). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 
  207. ^ Buli, Liv (31 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry Hits 50 Million Twitter Followers”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  208. ^ Grow, Kory (4 tháng 9 năm 2014). “Wherever They May Roam: Metallica Set Guinness World Record for Touring”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2014. 
  209. ^ Pomerantz, Dorothy. “Katy Perry – In Photos: Social Networking Superstars”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  210. ^ Gundersen, Edna (21 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry tells how to 'tame the social media dragon'”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  211. ^ Gundersen, Edna (21 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry tells how to 'tame the social media dragon'”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  212. ^ “Katy Perry teams up with UNICEF and visits children in Madagascar”. UNICEF. Anthony Lake. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  213. ^ “Katy Perry is UNICEF's newest Goodwill Ambassador”. UNICEF. Anthony Lake. 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  214. ^ Ryan, Reed (15 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry Cues Up 'Prismatic' World Tour”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  215. ^ “Boys Hope/Girls Hope”. American Broadcasting Company. The Walt Disney Company. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  216. ^ Trakin, Roy (12 tháng 6 năm 2014). “Katy Perry and Staples 'Make Roar Happen' to Help Support Teachers”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2014. 
  217. ^ “The Keep A Breast Foundation”. Keep A Breast Foundation. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  218. ^ Aguila, Justino (24 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Hosts Famous Friends, Previews Next Tour at Hollywood Bowl: Live Review”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  219. ^ Vena, Jocelyn. “Katy Perry, Tokio Hotel Join H&M for Fashion Against AIDS”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  220. ^ Myers, Alexandra (16 tháng 2 năm 2012). “Katy Perry donates proceeds from new single to charity”. Yahoo! News. Yahoo!. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  221. ^ “Katy Perry Celebrates Over $175K Raised for Charity on Her California Dreams Tour through Tickets-for-Charity”. Children's Health Fund. 8 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  222. ^ “Katy Perry Asks For Charity Donations To Mark Birthday”. Contactmusic.com. Channel 4. 26 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2011. 
  223. ^ Davidson, Danica. “Sweet Treat: Katy Perry asks for Charitable Donations for her 28th Birthday”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 
  224. ^ Daunt, Tina (31 tháng 3 năm 2014). “Katy Perry, Pharrell Williams Help Raise $2.4 Million for MOCA”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  225. ^ “High profile support: Other messages”. Stonewall. 17 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2014. 
  226. ^ Mapes, Jillian (28 tháng 10 năm 2010). “Katy Perry Dedicates Leaked 'Firework' Video to LGBT Campaign”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  227. ^ “Katy Perry talks about gay rights in interview with CGG”. Do Something. 4 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  228. ^ Hauser, Brooke (28 tháng 6 năm 2012). “Katy Perry Celebrates Her Independence”. Parade (Advance Publications). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  229. ^ “Katy Perry Accepts Hero Award From Trevor Project”. Contactmusic.com. Channel 4. 3 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  230. ^ Stampler, Laura (18 tháng 3 năm 2014). “Katy Perry: Maybe I am a Feminist After All”. Time (Time Inc.). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014. 
  231. ^ Levinson, Lauren (16 tháng 4 năm 2013). “Watch: Beyoncé, Blake Lively, Katy Perry, and More Unite in Chime for Change Video”. Elle (Hachette Filipacchi Médias). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  232. ^ “Katy Perry Talks Body Image, Fame, and Politics in Rolling Stone Cover Story”. Rolling Stone (Jann Wenner). 22 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014. 
  233. ^ Porter, Amber (8 tháng 10 năm 2012). “Katy Perry Nails it for Obama”. ABC News. The Walt Disney Company. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  234. ^ Harp, Justin. “Katy Perry performing at Barack Obama rally”. Digital Spy. Hearst Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  235. ^ Strecker, Erin. “Katy Perry performs at third President Obama rally in Wisconsin”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  236. ^ Nessif, Bruna (5 tháng 11 năm 2012). “K2012 Election: Katy Perry, George Lopez, Rashida Jones and More Take to Twitter to Get Out the Vote”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014. 
  237. ^ a ă “Katy Perry confronts Tony Abbott on gay marriage”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). 15 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  238. ^ Schwiegershausen, Erica (9 tháng 4 năm 2014). “Katy Perry Exposed a Springy Strip of Upper Belly”. New York (New York Media, LLC). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2014. 
  239. ^
  240. ^ Dinh, James (20 tháng 11 năm 2011). “Katy Perry Strips Down 'One That Got Away' At AMAs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2014. 
  241. ^ “AMAs 2012: Full Winners List”. Billboard. Prometheus Global Media. 18 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2014. 
  242. ^ Vary, Adam B. (28 tháng 8 năm 2011). “MTV 2011 VMAs: Katy Perry, Lady Gaga, Adele big winners”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2011. 
  243. ^ “MTV Video Music Awards 2012: List of winners”. CBS. Leslie Moonves. 6 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2014. 
  244. ^
  245. ^ Trust, Gary (12 tháng 5 năm 2011). “Katy Perry Celebrates Year in Hot 100's Top 10”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2011. 
  246. ^ “RIAA – Top Artists (Digital Singles)”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  247. ^ Grein, Paul (21 tháng 5 năm 2014). “MJ Makes Hot 100 History”. Yahoo! Music. Yahoo!. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014. 
  248. ^ “Katy Perry First Confirmed Performer For Capital FM's Jingle Bell Ball 2013”. Capital FM. Global Group. 6 tháng 11 năm 2013. 
  249. ^ “Katy Perry To Headline Day One of 2013 Jingle Bell Ball”. MTV News. Viacom. 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  250. ^ “Katy Pery Album & Song Chart History”. Charts.us. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Snoop Dogg
Chủ trì MTV Europe Music Awards
20082009
Kế nhiệm:
Eva Longoria
Tiền nhiệm:
Jonas Brothers
Chủ trì Teen Choice Awards
2010
Kế nhiệm:
Kaley Cuoco
Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm:
Michael Jackson (1988)
Giải thưởng Thành tựu Đặc biệt
2011
Kế nhiệm:
Tiền nhiệm:
Michael Jackson (1988)
Giải thưởng Nổi bật của Billboard
2012
Kế nhiệm:
Tiền nhiệm:
Taylor Swift (2011)
Người Phụ nữ của Năm
2012
Kế nhiệm:
P!nk (2013)