Katy Perry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Katy Perry
Katy Perry UNICEF 2012.jpg
Katy Perry năm 2012
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Katheryn Elizabeth Hudson
Sinh 25 tháng 10, 1984 (29 tuổi)
Santa Barbara, California, Hoa Kỳ[1]
Nghề nghiệp ca sĩ - nhạc sĩ, nhạc công
Thể loại pop, pop rock
Nhạc cụ Giọng hát, guitar
Năm 2001–nay
Hãng đĩa Red Hill (2001)
Island (20032004)
Columbia (20042006)
Capitol (2007–hiện tại)
Website

www.katyperry.com


KATY'S signature.svg
Chữ ký của Katy Perry

Katheryn Elizabeth Hudson (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1984)[1][2], được biết đến nhiều hơn với biệt danh Katy Perry, là một ca sĩ - nhạc sĩ người Mỹ. Cô được sinh ra ở Santa Barbara bang California và lớn lên trong vòng tay của cha mẹ (cha mẹ cô là mục sư trong nhà thờ Christian). Lớn lên Katy Perry chỉ thích nghe âm nhạc và ca hát trong nhà thờ như một đứa trẻ. Sau khi có trong tay bằng chứng nhận tốt nghiệp trung học GED trong lúc còn là học sinh năm nhất ở trung học, cô bắt đầu theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. Album phòng thu đầu tiên được cô phát hành và kết quả thu được chẳng mấy khả quan, thế là hãng thu âm đã rời bỏ cô vì doanh số bán đĩa không như mong đợi. Quyết tâm đến cùng, cố gắng nỗ lực bằng chính tài năng của mình, Katy Perry đã được một hãng thu âm có tên "Capitol Music Group" kí hợp đồng vào năm 2007, biệt danh "Katy Perry" cũng bắt đầu xuất phát từ đây. "Ur So Gay": đĩa đơn đầu tiên trích từ album Katy Hudson (2001) đã thu hút được sự chú ý của khán giả ở Châu Âu nhưng nó vẫn chưa đủ thành công để có mặt trên các bảng xếp hạng. Sau đó, Katy Perry cho ra đời tiếp album phòng thu thứ 2: One of the Boys (2008) và cô bắt đầu nổi danh từ đó khi phát hành đĩa đơn đầu tiên của album: "I Kissed a Girl". "I Kissed a Girl" rất thành công khi lần lượt đứng đầu ở rất nhiều bảng xếp hạng uy tín như Mỹ, Anh, Canada, Úc. Album One of the Boys của cô cũng leo lên vị trí số 9 tại bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ và được công nhận là album bán chạy thứ 33 của năm 2008. "I Kissed a Girl" và đĩa đơn thứ hai của cô: "Hot n Cold" cả hai đã nhận được chứng nhận đĩa bạch kim ở nhiều nước trên thế giới. Cô đã trở nên nổi tiếng với phong cách trang phục độc đáo, cô biết cách kết hợp màu sắc với các loại thời trang đang thịnh hành thời nay. Album phòng thu tiếp theo của cô: Teenage Dream, đã được phát hành vào tháng 8 năm 2010. 5 đĩa đơn "California Gurls", "Teenage Dream", "Firework", "E.T.", "Last Friday Night (T.G.I.F.)". rất thành công và đều đạt vị trí số 1 tại Billboard Hot 100.

Katy Perry đã có một mối quan hệ lâu dài với ca sĩ nhạc hip-hop Travis McCoy nhưng mối tình này đã đổ vỡ vào năm 2009, hiện cô đã kết hôn cùng với diễn viên hài người anh Russell Brand vào tháng 10 năm 2010. Tháng 11 năm 2011, họ ly hôn sau vô vàn khúc mắc. Cô còn là một trong những người đã thẳng thắng phê bình video "Alejandro" của nữ ca sĩ Lady Gaga.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thơ ấu và con đường đến với âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Katheryn Elizabeth Hudson sinh ngày 25 tháng 10 năm 1984 tại Santa Barbara bang California Hoa Kỳ [3], cô là con trưởng trong số ba người con của Keith Hudson và Mary Hudson [4], cả bố và mẹ của Katy Perry đều là mục sư nên rất nghiêm khắc trong việc dạy dỗ con cái. Mẹ Katy, bà Mary Hudson lớn lên tại phía nam vùng California. Bà đã từng ly dị trong một cuộc hôn nhân tại Zimbabwe. Bố của Katy, ông Keith Hudson sống ở ven bờ biển West Coast vào những năm cuối thập niên 60 [5]. Cô có một ông chú Frank Perry là một đạo diễn của một số bộ phim và một bà dì Eleanor Perry làm nghề viết kịch bản, dì và chú của Katy đã bắt đầu yêu nhau khi họ cùng tham gia hợp tác sản xuất bộ phim "David and Lisa" vào năm 1961 [6].

Được nuôi dưỡng trong một gia đình Thiên Chúa giáo nên từ lúc 9 tuổi Katy đã tham gia vào dàn nhạc hát thánh ca của nhà thờ và kéo dài tới lúc cô được 17 tuổi. Lúc còn đi học Katy Perry rất thích dòng nhạc Gospel nhưng mẹ cô đã cấm cản vì bà cho rằng dòng nhạc này không mang tính thiêng liêng như các bài thánh ca mà Katy đã từng hát. Tuy nhiên trong gia đình thì chị của Katy cũng rất thích dòng nhạc này nên hai chị em cứ dành dụm gom tiền từng ngày để mua băng cát xét về nghe. Trong quãng thời gian còn hát thánh ca trong nhà thờ thì Katy Perry còn là thành viên của Hội bảo tồn âm nhạc tại Santa Barbara và còn được học một lớp Opera của người Ý trong thời gian ngắn.[7]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

2001–2007: Khởi nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Nashville, Katy Perry đã bắt đầu sáng tác và ghi âm các bản demo theo dòng nhạc đồng quê bằng đàn ghita. Đến năm lên 15 tuổi, cô kí hợp đồng với hãng thu âm Red Hill và cho ra đời album phòng thu đầu tiên trong sự nghiệp mang tên Katy Hudson, tuy nhiên với sự khởi đầu sớm này vẫn chưa đủ mang đến sự thành công cho Katy. Đến cuối năm 2001 cô đã hủy bỏ hợp đồng với hãng thu âm Red Hill [5][8]. Sau đó Katy quyết định đổi tên mình thành "Katy Perry", đây là tên thời còn trẻ của mẹ cô vì sợ trùng tên với nữ diễn viên người Mỹ Kate Hudson [9].

Katy rời gia đình đến Los Angeles năm 17 tuổi. Tại đây cô đã gặp nhà sản xuất Glen Ballard và được ông giúp trau đồi kỹ năng sáng tác nhạc một khoảng thời gian.[10] Cô hợp tác cùng Glen Ballard thực hiện một album cho Island Records. Album này được dự tính xuất hiện vào năm 2005 nhưng Billboard đã xác nhận rằng nó chưa từng được tung ra. Cô bị hãng thu The Island Def Jam Music Group ngưng hợp đồng. Một vài bài hát được sáng tác trong giai đoạn này về sau đã được đăng trên trang MySpace của cô.

Năm 2004, cô ký hợp đồng với Columbia Records. Công ty này đã đề nghị cô góp giọng với nhóm sản xuất âm nhạc The Matrix trong album của họ, tuy nhiên dự án này đã bị hoãn lại sau đó. Cô bắt đầu thực hiện những bản thu âm dành cho album của riêng mình. Album hoàn thành được 80% thì bị hãng thu âm hủy bỏ và hợp đồng của cô với Columbia Records cũng chấm dứt tại thời điểm đó. Năm 2006, cô hớp tác với ban nhạc P.O.D. trong single “Goodbye for Now” và xuất hiện trong video “Learn to Fly”.

2007 - 2009: One of the Boys và MTV Unplugged[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi bị hãng thu âm Columbia bỏ rơi, cô đã được một nhà điều hành của hãng là Angelica Cob-Baehler giới thiệu đến chủ tịch hãng Virgin Records là Jason Flom. Tại thời điểm này, ông Flom đang tìm cách phục hồi vị trí của hãng thu trên thị trường và mong muốn tìm kiếm một ca sĩ có khả năng ảnh hưởng đến nền nhạc pop quốc tế. Bất chấp nhiều ý kiến trái chiều của những cố vấn trong công ty, ông đã khẳng định rằng Katy Perry rất có khả năng trở thành một bước đột phá trong nền âm nhạc. Những cuộc thảo luận của Virgin với hãng Columbia đã kéo dài đến đầu năm 2007, kết quả là Katy được ký hợp đồng với Capitol Music Group - một hãng thu âm được hợp nhất từ hai hãng Virgin và Capitol. Một phần của những bản thu dang dở tại Columbia Records đã được chọn để đưa vào album debut của cô – One of the Boys.

Sau khi hợp đồng được ký, cô đã được giới thiệu hợp tác với nhà sản xuất âm nhạc Dr. Luke. Sự hợp tác này đã tạo ra hai bài hát “I Kissed a Girl” và “Hot N Cold”. Để giới thiệu hình ảnh của Katy, hãng đã phát hành video âm nhạc “Ur So Gay” trên mạng, một EP chứa bài hát này cũng được tung ra online sau đó. Những hoạt động này đã ghi được dấu ấn của Katy trên thị trường âm nhạc đồng thời thu hút được sự chú ý của Madonna- người đã nhắc đến cô trong chương trình radio KISS FM và một chương trình truyền hình quay tại Arizona.

Để quảng bá album, Katy đã tiến hành một tour diễn hai tháng trên các đài phát thanh. Đĩa đơn chính thức đầu tiên của cô - “I Kissed a Girl” được phát hành ngày 6 tháng 5 năm 2008. Nhân viên kiểm định của Katy, Chris Anokute, đã phát biểu rằng lời bài hát và chủ đề của nó từng vấp phải nhiều phản đối tại công ty, vì thế họ kêu gọi sự hỗ trợ từ ít nhất một đài phát thanh để chứng minh khả năng thị trường của bài hát với các thành viên trong hãng thu; nếu không, Katy sẽ một lần nữa bị loại bỏ.Nhân viên xúc tiến của Capitol, Dennis Reese, đã nhận thấy điều đó và giúp bài hát được phát trên các đài phát thanh Mỹ. Đài đầu tiên chọn bài hát này là The River in Nashville. Sau ba ngày xuất hiện, bài hát đã nhận được rất nhiều lượt yêu cầu phát sóng của thính giả. Khi bài hát bắt đầu leo lên vị trí cao tại các bảng xếp hạng, Katy đã tham gia nhạc hội Warped Tour thường niên để quảng bá các bài hát tiếp theo. ”I Kissed a Girl” đạt được thành công vang dội trên thị trường âm nhạc quốc tế, 7 tuần liên tiếp hạng nhất Billboard Hot 100, đồng thời đứng đầu 30 bảng xếp hạng khác nhau bao gồm cả Anh, Úc, Canada.

One of the Boys phát hành ngày 17 tháng Sáu,2008 đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc. Album đã leo lên vị trí thứ chín trên Billboard 200 và được chứng nhận đĩa bạch kim từ RIAA. Đĩa đơn thứ hai của Katy, “Hot N Cold” nằm trong top 3 bài hát của hơn 12 quốc gia; đạt hạng ba tại Mỹ và đứng đầu bàng xếp hạng Canada, Đức, Đan Mạch. Sau đó, cô chính thức bắt đầu tour diễn đầu tiên của mình, Hello Katy Tour, vào tháng 1 năm 2009. Bài hát “I Kissed a Girl” giúp cô nhận được một đề cử tại Grammy 2009 hạng mục “Trình diễn pop giọng nữ xuất sắc nhất”. Cô còn được năm đề cử tại MTV Video Music Award 2008 bao gồm hạng mục “Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất” và “Video nhạc pop xuất sắc nhất”, nhưng Britney Spears đã giành thắng lợi. Cô đã thắng giải “Trình diễn của nghệ sĩ mới xuất sắc” tại MTV Europe Music Award và “Nghệ sĩ nữ quốc tế xuất sắc nhất” tại BRIT Award. Ngày 9 tháng 2 năm 2009, cả hai đĩa đơn đầu tay của cô đều được chứng nhận 3x Bạch kim sau khi mỗi bài đều bán được hơn ba triệu bản trực tuyến. Sách kỷ lục Guinness đã ghi nhận Katy đạt “Khởi đầu xuất sắc nhất trên bảng xếp hạng kỹ thuật số cho một nghệ sĩ nữ” vì cô có hai bài đầu tay bán hơn 2 triệu bản phát hành qua mạng.

Album của The Matrix cuối cùng cũng được quyết định phát hành. Khi ngày phát hành được công bố, “I Kissed A Girl” đã đạt những vị trí cao trên các bảng xếp hạng. Một thành viên trong The Matrix đã trình bày quyết định này với Katy Perry, cô ca sĩ ngỏ ý muốn dời ngày phát hành đến sau ngày phát hành single thứ tư của One of the Boys. Tuy nhiên album vẫn phát hành đúng theo kế hoạch vào ngày 27 tháng 1 năm 2009 trên iTunes Store.

Hai đĩa đơn thứ ba và thứ tư của One of the Boys lần lượt là "Thinking of You" và "Waking Up in Vegas" phát hành vào tháng 1 và tháng 4 năm 2009, "Waking Up in Vegas" đã đạt vị trí thứ chín trên Billboard Hot 100. Katy đã hợp tác trong 2 đĩa đơn khác vào năm 2009: một bản remix của bài hát “Starstrukk" và một bài hát nằm trong album Shock Value II của Timbaland, “If We Ever Meet Again”. Tháng Mười năm 2009, MTV Unplugged – một chương trình truyền hình trình chiếu các màn biểu diễn với nhạc cụ của ca sĩ – đã xác nhận rằng Katy sẽ trình diễn cho họ. Album live của Katy gồm các màn biểu diễn trong chương trình được phát hành ngày 17 tháng Mười Một đã debut tại vị trí 168 trong Billboard 200. Tour diễn đầu tay, Hello Katy Tour, đã kết thúc vào ngày 28 tháng 11 năm 2009 với tổng cộng 89 buổi trình diễn.

2010 đến nay: Teenage Dream và Teenage Dream: The Complete Confection[sửa | sửa mã nguồn]

Katy Perry thắng ba giải tại MTV Video Music Awards 2011

Katy tham dự mùa thứ bảy chương trình truyền hình Anh, The X Factor, với vai trò khách mời vào ngày 28 tháng 6 năm 2010. Trước đó, tháng 5 năm 2010, cô đã ra mắt đĩa đơn đầu tiên “California Gurls” hợp tác cùng rapper Snoop Dogg cho album mới. Bài hát có được vị trí thứ 2 trên Billboard Hot 100 và sau đó đã giữ vị trí đầu bảng 6 tuần liên tiếp, trở thành bài hát leo lên đầu bảng với thời gian ngắn nhất của một ca sĩ thuộc Capitol Record kể từ Bobbie Gentry năm 1967. "California Gurls" đồng thời đứng đầu 10 bảng xếp hạng âm nhạc khác trên thế giới bao gồm Anh và Úc. Đĩa đơn thứ hai “Teenage Dream” phát hành tháng 7 năm 2010 cũng giữ vị trí nhất bảng Billboard Hot 100 hai tuần liên tiếp. Bài hát đã được cô biểu diễn tại Teen Choice Awards 2010, nơi mà cô đã nhận về 2 giải thưởng.

Album phòng thu Teenage Dream của Katy Perry phát hành tháng 8 năm 2010 đã bắt đầu vị trí thứ nhất tại Billboard 200 với 192,000 đĩa bán ra trong tuần đầu tiên. Đến thời điểm hiện tại, album đã vượt qua mốc 2 triệu đĩa và được chứng nhận 2x đĩa Bạch kim từ RIAA[cần dẫn nguồn].

Tháng 10 năm 2010, đĩa đơn thứ ba, ”Firework” được chính thức phát hành và nhanh chóng leo lên đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 bốn tuần không liên tiếp giúp cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có ba đĩa đơn đầu tiên quán quân liên tiếp từ cùng một album kể từ Christina Aguilera. “Firework” cũng là đĩa đơn đầu tiên cô được chứng nhận 5x Bạch kim. Video âm nhạc kèm theo bài hát đã giúp cô nhận giải thưởng quan trọng nhất của MTV Video Music Awards 2011 - "Video của năm".

Tháng Hai năm 2011, Katy tiếp tục phát hành đĩa đơn thứ tư “E.T.” hợp tác cùng rapper Kanye West và tiếp tục thu về vị trí đầu bảng Billboard Hot 100 năm tuần không liên tiếp. Bài hát dẫn đầu top 20 ca khúc được tải về nhiều nhất nửa đầu năm 2011. Với việc “E.T.” đạt hạng nhất vào ngày 12 tháng Năm, 2011, Katy Perry đã trở thành nghệ sĩ đầu tiên có bài hát nằm trong top 10 Billboard 52 tuần liên tiếp. Video của bài hát còn đem về cho Katy giải "Hợp tác xuất sắc nhất" cùng Kanye West và "Hiệu ứng đặc biệt xuất sắc nhất" tại VMAs 2011. Katy đã lập kế hoạch cho tour diễn tiếp theo, “California Dream Tour”, kéo dài từ 20 tháng Hai, 2011 đến 22 tháng Một, 2012, chuyến lưu diễn gồm 124 buổi tại châu Mỹ, Âu, Á và châu Đại Dương đã giúp cô thu về hơn 59 triệu đôla.

Với việc “Last Friday Night (T.G.I.F.)” phát hành tháng Sáu,2011 giữ vị trí quán quân Billboard hai tuần vào tháng 8 đã giúp Katy Perry trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên và là nghệ sĩ thứ hai (bên cạnh Micheal Jackson) đạt 5 đĩa đơn đầu bảng xếp hạng từ cùng một album trong lịch sử Billboard.

Tháng 7 năm 2011, Katy tham gia lồng tiếng cho vai Tí Cô Nương trong bộ phim 3D Xì Trum; đến nay bộ phim đã thu được lợi nhuận 557,771,535 $ trên toàn thế giới. Ngày 17 tháng 9 năm 2011, kỷ lục đĩa đơn giữ nhiều tuần liên tiếp nhất trong top 10 Billboard của Katy Perry đã dừng lại ở con số 69 tuần. Ngày 23 tháng 9, cô tham dự đại nhạc hội Rock in Rio tại Brazil cùng nhiều nghệ sĩ bao gồm Elton JohnRihanna.

Đĩa đơn thứ sáu của “Teenage Dream” - “The One That Got Away” ra mắt vào tháng 10 năm 2011. Bài hát đã chạm mốc vị trí thứ ba trên Billboard Hot 100, giúp “Teenage Dream” trở thành album thứ ba trong lịch sử có 6 bài nằm trong top 5 và là album đầu tiên có 7 bài hát hạng nhất bảng xếp hạng Hot Dance Club Song (6 đĩa đơn chính thức và bài hát “Peacock”)[cần dẫn nguồn]. Ngày 14 tháng 12 năm 2011, tạp chí Forbes đã xác nhận Katy là nữ nghệ sĩ có thu nhập cao thứ 3 năm 2011 (sau Lady GagaTaylor Swift). Ngày 15 tháng 12, MTV đã chọn Katy Perry là nghệ sĩ của năm 2011.

Ngày 5 tháng 1 năm 2012, theo Nielsen Broadcast Data Systems, Katy là nghệ sĩ có tổng lượt bài hát phát thanh trên hệ thống truyền thanh Mỹ nhiều nhất năm 2011: 1,457,000 lượt phát với ba bài hát “Firework”, ”E.T.” và “Last Friday Night (T.G.I.F.)” đều nằm trong top 10 bài hát được yêu cầu phát sóng nhiều nhất. Ngày 11 tháng 11 năm 2012, Katy thắng 5 giải từ 7 đề cử của People’s Choice Awards bao gồm “Khách mời truyền hình yêu thích nhất”, ”Bài hát yêu thích nhất”, “Video yêu thích nhất”, “Tour diễn yêu thích nhất” và “Nữ nghệ sĩ yêu thích nhất”.

Ngày 15 tháng 1 năm 2012, Katy trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 4 đĩa đơn ("Hot N Cold", "California Gurls" "Firework" và “E.T.”) bán vượt mốc 5 triệu đĩa tại Mỹ. Đồng thời cô cũng là người có số lượng đĩa đơn bán trên 4 triệu đĩa nhiều nhất (6 đĩa đơn, ngoài những đĩa kể trên còn có "I Kissed a Girl" và "Teenage Dream") hơn gấp đôi với hai người giữ hạng nhì là Eminem và Lady Gaga (mỗi người có 3 đĩa đơn bán hơn 4 triệu đĩa). Với việc các bài hát "Hot N Cold," "California Gurls," "Teenage Dream”, "Firework", "Last Friday Night (T.G.I.F.)", và gần đây nhất là "The One That Got Away" đứng đầu bảng xếp hạng Adult Pop Songs của Billboard, Katy đã trở thành nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân nhất sau khi vượt qua P!nkNickelback. Hai album của cô có tổng cộng 8 bài hát xếp hạng nhất bảng xếp hạng Pop Songs, chỉ thua Rihanna (9 bài) trong 19 năm hoạt động của bảng xếp hạng. Đồng thời, cô là người giữ kỷ lục nhiều bài hát quán quân Pop Songs liên tục nhất (7, từ “Waking Up in Vegas” đến “The One That Got Away”), phá kỷ lục 6 bài (2009-2010) của Lady Gaga.

Cuối tháng 1 năm 2012, Katy chính thức công bố album thứ hai của cô sẽ tái phát hành với tên Teenage Dream: The Complete Confection, bàn tái phát hành này sẽ có thêm các bài hát remix, acoustic và 3 bài hát đã bị cắt khỏi album Teenage Dream trước ngày phát hành. Ngày 13 tháng 2 năm 2012, single đầu tiên của The Complete Confection – "Part Of Me" – được chính thức công bố. Một tuần sau ngày ra mắt, bài hát lập tức debut tại vị trí số 1 Billboard Hot 100, trở thành bài hát thứ 20 chiếm vị trí quán quân ngay trong tuần đầu ra mắt và là đĩa đơn hạng nhất thứ 7 của Katy Perry. Bài hát còn debut đầu bảng xếp hạng New Zealand, biến Katy trở thành nghệ sĩ có nhiều bài hát quán quân nhất tại quốc gia này (7 bài, đồng hạng với Mariah Carey). Ở Canada, “Part Of Me” cũng đạt đầu bảng ngay tuần đầu tiên và Katy trở thành nghệ sĩ có nhiều bài hát quán quân thứ nhì (sau Madonna).

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2012, Katy phát hành đĩa đơn tiếp theo mang tên "Wide Awake", trích trong album tái phát hành Teenage Dream: The Complete Confection. Đây là đĩa đơn cuối cùng trong "thời kì Teenage Dream", giai đoạn mà album này của Katy làm mưa làm gió thị trường âm nhạc. Nó còn được dùng làm nhạc phim cho bộ phim sắp tới của Katy: Katy Perry: Part of me. Ca khúc được các nhà phê bình đánh giá tích cực, về mặt sản xuất và cả giọng hát của Katy. Ca khúc đã trở thành đĩa đơn thứ 11 của cô lọt vào top 10 trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phẩm tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng[11] Album
Flag of the United States.svg Mỹ Flag of Australia.svg Úc Flag of Austria.svg Áo Flag of Canada.svg Canada Flag of Germany.svg Đức Flag of Ireland.svg Ireland Flag of the Netherlands.svg
Lan
Flag of New Zealand.svg New Zealand Flag of Switzerland.svg Thụy Sĩ Flag of the United Kingdom.svg Anh
2008 "I Kissed a Girl" 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 One of the Boys
"Hot n Cold" 3 4 1 1 1 3 1 5 1 4
2009 "If We Ever Meet Again"
(hợp tác với Timbaland)
37 9 10 4 9 3 11 1 7 3 Shock Value II
2010 "California Gurls"
(hợp tác với Snoop Dogg)
1 1 3 1 3 1 2 1 4 1 Teenage Dream
"Teenage Dream" 1 2 2 2 6 1 4 1 8 2
"Firework" 1 3 3 1 4 2 8 1 3 3
2011 "E.T."
(hợp tác với Kanye West)
1 5 7 1 9 5 27 1 14 3
"Last Friday Night (T.G.I.F.)" 1 5 7 1 15 2 7 4 20 9
2012 "Part of Me" 1 5 18 1 20 5 27 1 33 1 Teenage Dream: The Complete Confection
"Wide Awake" 2 4 28 1 39 6 26 1 21 9
2013 "Roar" 1 1 1 1 2 1 2 1 3 1 Prism
Tổng số đĩa đơn quán quân 8 3 3 9 2 4 2 9 2 4

Nghệ thuật thứ bảy[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Year:2012 Title:Police Role:Rasing Hope Season 2 Notes
2008 Young and the Restless, TheThe Young and the Restless Herself Episode 8914
2008 Wildfire Herself "Life's Too Short" (Season 4, episode 8)
2010 American Idol Guest judge "Season 9, episode 5"
2010 The X Factor Guest judge "Series 7, episode 2"
2010 Sesame Street Herself Online special (deleted from televised episode)
2010 The Simpsons Herself 1 episode, "The Fight Before Christmas"

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Role Notes
2011 Smurfs, TheThe Smurfs Smurfette Voice
2011 Muppets, TheThe Muppets TBA Cameo

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Biography for Katy Perry”. The Internet Movie Database. 2008. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  2. ^ Breimeier, Russ. “Katy Hudson”. Christianity Today (Christianity Today International). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2008. 
  3. ^ Duerden, Nick (October năm 2004). “The Next Big Thing! Katy Perry”. Blender. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2008. 
  4. ^ Graff, Gary (21 tháng 2 năm 2009). “Interview: Katy Perry — Hot N Bold”. The Scotsman. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ a ă Rob, Sheffield (24 tháng 9 năm 2008). “Girl on Girl: Katy Perry”. Blender. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2009. 
  6. ^ Rob, Sheffield (24 tháng 9 năm 2008). “Girl on Girl: Katy Perry”. Blender. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009. 
  7. ^ “Katy Perry early life”. 24 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ Harris, Sophie (30 tháng 8 năm 2008). “Katy Perry on the risqué business of I Kissed a Girl”. The Times (London). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2009. 
  9. ^ Harding, Cortney (11 tháng 2 năm 2009). “Katy Perry: Single Lady”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2009. 
  10. ^ 'Kiss' Me, Katy
  11. ^ “Katy Pery Album & Song Chart History”. Charts.us. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]