Katy Perry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Katy Perry

Perry đến dự lễ trao giải NRJ Music Award tại Cannes, Pháp ngày 14 tháng Mười Hai, 2013
Sinh Katheryn Elizabeth Hudson
25 tháng 10, 1984 (29 tuổi)
gần Santa Barbara, California, Hoa Kì
Nơi cư trú Los Angeles, California, Hoa Kì
Tên khác Katy Hudson
Công việc
Quê quán Santa Barbara, California, Hoa Kì
Tài sản $75 triệu (ước tính đến tháng Sáu, 2013)[1]
Vợ (hoặc chồng) Russell Brand (k.hôn  2010–2012) «start: (2010)–2012 (2012-end+1:)»"Hôn nhân: Russell Brand đến Katy Perry" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Katy_Perry)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • guitar
  • piano
Năm 1997–nay
Hãng đĩa
Hợp tác

The Matrix


KATY'S signature.svg
Chữ ký của Katy Perry
Website
katyperry.com

Katheryn Elizabeth "Katy" Hudson (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1984)[2], được biết đến nhiều hơn với nghệ danh Katy Perry, là một nữ ca sĩ-nhạc sĩ, thương nhân, nhà hoạt động từ thiện và diễn viên người Mỹ. Cô được sinh ra ở Santa Barbara bang California và được lớn lên ở đó trước khi chuyển về sống tại Los Angeles. Do không được tiếp xúc nhiều với dòng nhạc pop thịnh hành khi còn nhỏ, cô đã theo đuổi dòng nhạc Phúc âm khi còn ở tuổi thiếu niên và đã cho phát hành album đầu tay của mình, Katy Hudson (2001). Sau đó, cô đã thực hiện album hợp tác cùng The Matrix; và tiếp sau đó là một album đơn ca cùng với Glen Ballard, nhưng chưa bao giờ được phát hành.

Tháng 4 năm 2007, Perry đã kí hợp đồng thu âm cùng Capitol Records. Thời điểm cô bắt đầu đạt được danh tiếng là khi phát hành đĩa đơn "I Kissed a Girl" cùng với album phòng thu thứ hai mang tên One of the Boys (2008) với hơi hướng pop rock. Album phòng thu thứ ba, Teenage Dream (2010), đã cho ra những đĩa đơn đứng đầu Billboard Hot 100 như "California Gurls", "Teenage Dream", "Firework", "E.T.", và "Last Friday Night (T.G.I.F.)". Nhờ đó, Teenage Dream đã trở thành album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ trong lịch sử có 5 đĩa đơn ăn khách đạt vị trí quán quân, và là album thứ hai trong tổng thể, đứng sau album Bad của Michael Jackson (1987). Album này có sự xuất hiện của dòng nhạc disco, nhạc điện tử, funk, và hip hop cùng pop và rock. Tháng Ba, 2012, cô đã tái bản lại album Teenage Dream với tên gọi Teenage Dream: The Complete Confection, bao gồm đĩa đơn "Part of Me" đã tiếp tục đạt vị trí đầu bảng. Album phòng thu thứ tư của cô, Prism (2013) lại tiếp tục cho ra những đĩa đơn dẫn đầu các bảng xếp hạng như "Roar" và "Dark Horse".

Perry đã nhận được vô số giải thưởng và đề cử trong suốt sự nghiệp của mình, bao gồm 11 đề cử cho giải Grammy và danh hiệu Người Phụ Nữ của Năm 2012 do tạp chí Billboard bình chọn. Cô đã lọt vào danh sách Những Nữ nghệ sĩ Bội thu nhất của tạp chí Forbes trong suốt từ năm 2011 đến năm 2013. Cô cũng vẫn đang là nghệ sĩ duy nhất có 69 tuần liên tiếp có mặt trong top 10 Billboard Hot 100.[3][4] Đầu tháng Mười Một, 2013, Perry đã bán ra hơn 11 triệu album và 81 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới và vài đĩa đơn của cô đã nằm trong những đĩa đơn bán chạy nhất trên thế giới.[5][6] Perry đang là nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn kĩ thuật số bán chạy thứ nhất tại Mĩ theo RIAA[7] và cũng là nghệ sĩ duy nhất có 6 đĩa đơn đạt 5 lần chứng nhận Bạch kim tại Hoa Kì.

Cô đã cho ra những sản phẩm thương mại khác theo tên tuổi của mình, như các dòng nước hoa Purr, Meow, và Killer Queen. Cuối tháng Bảy, 2011, cô cũng đã lần đầu tiên tham gia lồng tiếng cho bộ phim điện ảnh mang tên The Smurfs. Đầu tháng Bảy, 2012, cô đã phát hành bộ phim tài liệu tiểu sử của riêng mình dưới dạng 3D mang tên, Katy Perry: Part of Me, nói về cuộc sống của cô khi đang là một nghệ sĩ đi lưu diễn vòng quanh thế giới và sự suy sụp của cô sau khi kết thúc cuộc hôn nhân hơn 1 năm của cô cùng nam diễn viên người Anh, Russell Brand.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1984–98: Tiểu sử và bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Katheryn Elizabeth Hudson đã được sinh ra gần Santa Barbara, California, trong một gia đình của hai mục sư tôn giáo, Mary Christine (Perry) và Maurice Keith Hudson của Đoàn Mục Sư Keith Hudson.[8] Em trai của cô, David là ca sĩ chính của ban nhạc Hudson.[9] Cô và David có một người chị tên là Angela. Keith mang dòng máu Anh trong khi Mary lại có gốc gác từ Ireland, Bồ Đào Nha, AnhĐức. Cũng từ Mary, cô cũng là cháu gái kế của nam đạo diễn và sản xuất Frank Joseph Perry, Jr.[10] Khi còn nhỏ, cô cùng các anh chị em của mình đã tham gia các trường học và hội trại theo tôn giáo, bao gồm trường theo đạo Chúa Santa Barbara trong những năm chính khoá. Cô cùng bố mẹ mình thường xuyên phải đi đây đó cùng với đoàn mục sư của mình, mà sau này đã ổn định tại Santa Barbara năm 1995. Vào sinh nhật năm thứ 13 của mình, cô đã được tặng cây đàn guitar đầu tiên và đã bắt đầu sáng tác nhạc từ đó.[11] Cả gia đình cô đã sống trong cảnh nghèo nàn trong suốt thời gian cô lớn lên, cô đã phải chơi guitar và hát để kiếm tiền trong suốt những năm thiếu niên của mình.[12][13]

Cô cũng đã tham gia hát tại các nhà thờ theo đoàn mục sư của cha mẹ mình từ năm cô lên chín cho đến khi cô 16 tuổi.[14][15] Trong suốt thời gian trưởng thành, cô thường xuyên nghe nhạc thuộc thể loại Phúc âm,[16] khi bố mẹ cô không ủng hộ việc cô, David và Angela nghe những "loại nhạc trần tục" lúc bấy giờ.[15] Khi còn nhỏ, cô chỉ được cho phép nghe vai nghệ sĩ như Ella FitzgeraldBillie Holiday, cũng như Édith Piaf khi cô thừa hưởng từ mẹ cô có khả năng nghe nói tiếng Pháp.[17] Trong suốt thời gian còn là thiếu niên, Perry đã nghe theo lời vài người bạn của mình lén nghe những đĩa CD và xem kênh MTV ở nhà khi bố mẹ không để ý, điều đã khiến cô khám phá ra những loại nhạc thịnh hành lúc đó.[18]

Perry đã học cách để nhảy trong một toà nhà giải trí tại Santa Barbara, nơi cô đã được dạy bởi những vũ công dày dặn kinh nghiệm và bắt đầu bằng những điệu như swing, Lindy Hop, và jitterbug.[19] Perry bắt đầu hát ban đầu chỉ vì cô đã "bắt chước" chị gái Angela của mình. Khi lớn lên, cô đã thường lấy những cuộn băng cassette của chị mình ra để tập luyện và hát chúng trước sự chứng kiến của bố mẹ cô. Họ sau đó đã khuyên cô nên đi luyện giọng, mà sau đó, cô đã có được cơ hội tham gia những khoá luyện giọng khi mới lên chín cho đến khi cô 16 tuổi.[20]

1999–2006: Katy HudsonThe Matrix[sửa | sửa mã nguồn]

Năm lên 15, Perry, khi vẫn còn đang tham gia hát ở nhà thờ, cô đã nhận được sự chú ý từ những người cựu chiến binh chơi rock tại Nashville, Tennessee, những người đã dắt cô đến đó để rèn luyện kĩ năng sáng tác của cô [8] Vào tháng Mười Hai, 1999, cô đã nhận được bằng hoàn tất chương trình học năm đầu của mình tại trường Trung học Dos Pueblos và đã quyết định rời trường học để theo đuổi con đường âm nhạc của mình. Perry sau đó đã học một khoá opera tiếng Ý tại Nhạc Viện Phía Tây ở Santa Barbara.[20] Tại Nashville, cô đã bắt đầu thu âm những bản thu thử đầu tiên và đã được dạy bởi những cựu chiến binh chơi nhạc đồng quê về cách để chơi guitar và phác thảo bài hát.[15][16] Cô đã kí một hợp đồng cùng với một hãng đĩa đạo Cơ-đốc mang tên Red Hill Records. Cô đã thu âm và phát hành album đầu tay mang tên Katy Hudson vào ngày 8 tháng Hai, 2001. Hai đĩa đơn đã được phát hành từ album; "Trust in Me" hồi tháng Hai, 2001, và "Search Me" vào tháng Sáu cùng năm.[21] Cô đã quảng bá album này bằng chuyến lưu diễn The Strangely Normal Tour, với việc tham gia mở đầu các chuyến lưu diễn cho Phil Joel, LaRue, Luna Halo, Earthsuit, và V*Enna.[22] Tuy vậy, album này vẫn là một thất bại về mặt thương mại, và chỉ bán ra tổng cộng 200 bản. Hãng đĩa sau đó đã chấm dứt hợp đồng với cô vào tháng Mười Hai, 2001[8]

Khi 17 tuổi, Perry đã rời khỏi nhà và chuyển đến Los Angeles, California với hi vọng theo đuổi sự nghiệp âm nhạc của mình, mà sau đó, cô đã kí được hợp đồng thu âm cùng hãng đĩa Island Records.[23] Vì hầu như cô chỉ nghe mỗi nhạc theo dòng Phúc âm khi còn nhỏ, nên cô đã gặp nhiều khó khăn khi bắt đầu thu âm các bài hát.[15] Khi được một nhà sản xuất hỏi về người mà cô muốn hợp tác, Perry đã không hề biết đó là gì. Vào thời điểm tháng Chín, 2002, cô đã đi cùng mẹ mình đến một khách sạn. Đêm đó, cô đã có mở kênh VH1 và lần đầu nghe về nhà sản xuất âm nhạc Glen Ballard khi xem ông ấy nói về Alanis Morissette, điều đã khiến cô có nhã ý muốn hợp tác cùng Ballard. Ông là người đã sản xuất Jagged Little Pill của Morissette, album đã "tạo cảm hứng rất lớn" cho cô.[8] Cô đã chia sẻ sở thích muốn được cộng tác với Ballard đến người hợp tác ban đầu của cô, người đã sắp xếp một cuộc gặp gỡ giữa cô và Ballard tại Los Angeles. Perry đã giới thiệu một trong những bài hát của cô cho Ballard, người mà sau đó đã giúp đỡ cô trong việc sáng tác trong nhiều năm tiếp sau.[15] Vào năm 2003, cô đã cô đã trình diễn dưới cái tên phiên bản ngắn gọn hơn từ tên khai sinh của mình, "Katheryn Perry" để tránh nhầm lẫn với tên của nữ diễn viên Kate Hudson, trước khi sử dụng nghệ danh "Katy Perry" như hiện nay. Perry sau đó đã bị ngừng hợp đồng với The Island Def Jam Music Group, và chuyển sang hãng đĩa Columbia Records vào năm 2004.[8] Cùng năm đó, Perry đã tham gia hát nền cho ca khúc "Old Habits Die Hard" của Mick Jagger,[24] ca khúc đã chiến thắng một giải Quả Cầu Vàng cho Ca khúc trong phim hay nhất.[25]

Tuy nhiên, theo Perry, hãng đĩa Columbia vẫn chưa tin tưởng vào hướng đi của cô, và đã không cho cô toàn quyền quyết định. Thay vào đó, hãng đĩa đã cho cô hợp tác cùng đội sản xuất The Matrix, khi họ đang trong quá trình thực hiện một album, và cô sẽ tham gia hát chính. Album đã hoàn thành được 80% thì hãng Columbia lại quyết định không hoàn thành nó nữa và album đã bị dừng lại nửa chừng. Sự nghiệp ca hát của cô sau đó đã được ghi danh trong danh sách "Những Cái Tên Sẽ Toả Sáng" của tạp chí Blender vào số báo phát hành tháng Mười, 2004.[26] Một album hát đơn mà cô đã hợp tác cùng Ballard đã được dự định sẽ ra mắt ngày 18 tháng Tám, 2005, nhưng sau đó đã bị huỷ và Perry cũng đã bị cắt hợp đồng khỏi Columbia Records không lâu sau đó.[27] Một vài bản hợp tác cùng Ballard của cô như "Box", "Diamonds", và "Long Shot", đã được đăng tải lên trang MySpace chính thức của cô.[8] Bản "Simple", cũng là một trong số những bản mà cô đã hợp tác cùng Ballard, đã được phát hành trong phần nhạc phim của bộ phim năm 2005 The Sisterhood of the Traveling Pants,[28] và bản "Long Shot", ca khúc sau này đã được Kelly Clarkson sử dụng trong album All I Ever Wanted vào tháng Ba, 2009 của mình, cũng là một bản mà Perry đã viết cùng bạn trai sau này của mình, Matt Thiessen và Ballard.[29] Trong khi chờ đợi để tìm một hãng đĩa khác, cô đã làm việc trong một hãng độc lập tên là Taxi Music.[8] Đầu năm 2006, cô đã hát nền cho đĩa đơn "Goodbye for Now" của P.O.D. và có tham gia trong video ca nhạc của họ.[30] Cuối tháng Mười Một năm đó, cô đã đóng vai người tình với người mà sau này đã trở thành bạn trai thật ngoài đời của cô, Travie McCoy của nhóm Gym Class Heroes trong video ca nhạc "Cupid's Chokehold".[31]

2007–09: Thành công vượt bậc với One of the Boys[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi bị cắt hợp đồng với hãng đĩa Columbia hồi năm 2006, nhà đại diện công khai của hãng đĩa, Angelica Cob-Baehler, đã hăng hái tiến cử cô cho chủ tịch Jason Flom của hãng đĩa Virgin Records. Thời điểm mà Flom đã dẫn đầu một thời kì hưng thịnh cho hãng đĩa, chính ông đã bị thuyết phục rằng Perry sẽ trở thành một ngôi sao thành công, khi cùng lúc nhận được những phản hồi trái chiều từ phía hãng đĩa, Perry đã kí hợp đồng cùng Capitol Music, một hãng đĩa hợp nhất từ Virgin và Capital vào tháng Tư, 2007.[8] Như một phần trong hợp đồng, cô sẽ phải hoàn thành các album còn bỏ dở, trong lúc định hình lại trong album One of the Boys sắp tới của cô. Từ khi hãng đĩa cho rằng album thiếu "một hay hai bản ăn khách", họ đã sắp xếp cho cô làm việc cùng nhà sản xuất Dr. Luke.[32]

A woman in a pink dress playing her guitar in front of a microphone
Perry trình diễn vào tháng Bảy, 2008

Cả hai đã đồng sáng tác ca khúc "I Kissed a Girl" và "Hot n Cold" của cô. Một chiến dịch đã được bắt đầu hồi tháng Mười Một, 2007 cùng video "Ur So Gay" của cô, nhằm giới thiệu cô đến thị trường âm nhạc và định hình hình ảnh của cô. Một đĩa mở rộng của cô sau đó đã được phát hành nhằm tạo dấu ấn trên cộng đồng mạng và nhấn mạnh câu chuyện.[14][33] Madonna đã giúp quảng bá "Ur So Gay" khi đề cao bài hát trong chương trình JohnJay & Rich vào tháng Tư, 2008 và đã khuyến khích mọi người mua và nghe đĩa đơn này.[34]

"I Kissed a Girl" đã được phát hành ngày 28 tháng Tư, 2008 dưới dạng đĩa đơn đầu tiên trích từ album. Nhân viên kiểm định của Katy, Chris Anokute, đã phát biểu rằng lời bài hát và chủ đề của nó từng vấp phải nhiều phản đối tại công ty, vì thế họ kêu gọi sự hỗ trợ từ ít nhất một đài phát thanh để chứng minh khả năng thị trường của bài hát với các thành viên trong hãng thu; nếu không, Katy sẽ một lần nữa bị loại bỏ. Đài phát thanh The River tại Nashville đã là trạm phát thanh đầu tiên chọn ca khúc này. Sau ba ngày xuất hiện, bài hát đã nhận được rất nhiều lượt yêu cầu phát sóng của thính giả.[33] Cô cũng tham gia hát nền cho bài hát "Another Night in the Hills" trong album hát đơn của Gavin Rossdale, Wanderlust đã được phát hành đầu tháng Sáu, 2008.[35] Trong cùng tháng đó, "I Kissed a Girl" đạt được thành công vang dội trên thị trường âm nhạc quốc tế, khi đạt 7 tuần liên tiếp dẫn đầu Billboard Hot 100.[36] Ca khúc cũng trở thành đĩa đơn đầu tiên của Perry đạt vị trí đầu bảng tại nhiều quốc gia khác nhau, bao gồm Anh, Úc, CanadaĐức. Ngày 20 tháng Sáu, cô đã bắt đầu chuyến lưu diễn Warped Tour 2008.[37]

A woman in a seashell outfit singing
Perry trình diễn tại Life Ball vào tháng Năm 2009 tại Vienna, Áo

One of the Boys đã được phát hành ngày 17 tháng Sáu, 2008 và đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc.[38] Album đã leo lên vị trí thứ chín trên Billboard 200 và được chứng nhận đĩa bạch kim từ RIAA.[39] Tháng Tám, 2008, Perry đã đính chính tin đồn cha mẹ cô phản đối con đường âm nhạc và sự nghiệp của cô, khi khẳng định "Họ luôn yêu mến và ủng hộ tôi".[40] Đĩa đơn thứ hai của album, "Hot N Cold" đã phát hành ngày 9 tháng Chín. Đĩa đơn đã đạt vị trí thứ ba trên Billboard Hot 100 và đứng đầu bàng xếp hạng tại Canada, ĐứcĐan Mạch. Sau khi cô kết thúc tại Warped Tour, cô đã tiếp tục lưu diễn dài hạn tại Châu Âu. Đĩa đơn thứ ba từ album One of the Boys, "Thinking of You", đã được phát hành ngày 12 tháng Giêng, 2009 và đã đạt được vài thành công nhỏ. Cùng tháng đó, Perry đã chính thức bắt đầu chuyến lưu diễn đầu tiên của mình, Hello Katy Tour, vào ngày 23 tháng Giêng. Chuyến lưu diễn bao gồm 89 đêm diễn tại Bắc Mĩ, Châu Đại Dương, Châu Âu và Châu Á. Cô đã thắng giải Nghệ sĩ Mới Xuất sắc nhất tại MTV Europe Music Awards năm 2008, nơi chính cô đã làm chủ trì,[41] và giải Nữ Nghệ Sĩ Quốc Tế Xuất Sắc Nhất tại BRIT Awards năm 2009.[42] Sách Kỷ lục Guinness đã ghi nhận Katy đã đạt "Khởi đầu xuất sắc nhất trên bảng xếp hạng kỹ thuật số cho một nghệ sĩ nữ" cho hai đĩa đơn đầu tay đã bán hơn 2 triệu bản phát hành qua mạng.[43]

Album đầu tay cùng tên của The Matrix, sản phẩm có sự xuất hiện của Perry mà đã bị dừng sản xuất trước đó, sau đó đã được phát hành theo hãng đĩa riêng của nhóm, Let's Hear It, trong lúc Perry đang tham dự chuyến lưu diễn đơn ca của mình. Lúc ngày phát hành của album đã được ấn định, thì "I Kissed a Girl" đã đạt những vị trí cao trên các bảng xếp hạng. Một thành viên trong The Matrix, Lauren Christy đã trình bày quyết định này với Katy Perry, nhưng cô ca sĩ đã ngỏ ý muốn dời ngày phát hành đến sau ngày phát hành single thứ tư của One of the Boys. Tuy nhiên album vẫn phát hành đúng theo kế hoạch vào ngày 27 tháng 1 năm 2009 trên Cửa hàng iTunes.[44] "Waking Up In Vegas" đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ tư và là đĩa đơn cuối cùng trích từ album One of the Boys vào ngày 7 tháng Tư. Ca khúc đã trở thành đĩa đơn thứ ba không liên tiếp của Perry đạt vào top 10 tại Hoa Kì. Trong mùa hè năm 2009, cô đã đóng vai chính trong Get Him to the Greek. Cảnh mà cô đóng, lúc hôn chồng thật ngoài đời của mình, Russell Brand, đã bị cắt và không được xuất hiện trong bộ phim.[45] Ngày 4 tháng Tám, 2009, cô đã tham gia trình diễn mở đầu cho một suất diễn trong chuyến lưu diễn Hè năm 2009 của nhóm No Doubt.[46] Tháng kế ti6ép, cô đã xuất hiện trong bản phối lại của ca khúc "Starstrukk" do 3OH!3 trình bày, đây là ý tưởng đã được thông qua sau khi chuyến lưu diễn của Perry có sự tham gia mở đầu của 3OH!3. Ca khúc đã được phát hành trên iTunes ngày 8 tháng Chín, 2009. Tháng Mười, MTV Unplugged đã xác nhận rằng Katy sẽ trình diễn cho họ, gồm một album trực tiếp của cô với phần trình diễn mộc một vài ca khúc trong album One of the Boys và phần thể hiện lại bản "Hackensack" của Fountains of Wayne.[47] Album trực tiếp này của cô đã được thu âm ngày 22 tháng Bảy, 2009[48] và đã được phát hành ngày 13 tháng Mười Một.[49] Ngày 28 tháng Mười Một, 2009, chuyến lưu diễn Hello Katy Tour đã kết thúc. Tháng Mười Hai, 2009, cô đã có xuất hiện trong ca khúc "If We Ever Meet Again" của Timbaland, đã được phát hành đưới dạng đĩa đơn vào tháng Giêng, 2010, trích từ album của anh, Shock Value II.[50]

2010–12: Teenage Dream[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng Giêng, 2010, Perry đã tham gia dàn giám khảo của cuộc thi American Idol.[51] Ngày 7 tháng Năm, cô đã phát hành đĩa đơn đầu tiên trích từ album thứ ba của mình, "California Gurls" hợp tác cùng rapper Snoop Dogg. Nó đã đạt vị trí đầu bảng trên Billboard Hot 100 suốt sáu tuần liên tiếp.[52][53] Ca khúc cũng dẫn đầu các bảng xếp hạng tại Anh, Canada và Úc cùng các quốc gia khác. Perry cũng đã xuất hiện trong vai trò giám khảo cùng Simon Cowell, Cheryl Cole, và Louis Walsh trong phần thi thử giọng của cuộc thi The X Factor năm thứ bảy tại Anh vào ngày 28 tháng Sáu, 2010.[54] Đĩa đơn thứ hai trích từ album, "Teenage Dream", đã được phát hành ngày 23 tháng Bảy, cũng đạt vị trí đầu bảng Hot 100. Album phòng thu thứ ba cùng tên với đĩa đơn trên, đã được phát hành ngày 24 tháng Tám, 2010 và đã mở đầu tại vị trí đầu bảng của Billboard 200 với 192,000 bản ngay trong tuần đầu tiên, giúp Katy có được album đầu tiên đạt vị trí đầu bảng tại Mĩ.[55] Album đã nhận nhiều phản ứng trái chiều từ phía các nhà phê bình âm nhạc, và đã đạt chứng nhận 2 lần đĩa Bạch kim tại Hoa Kì[56] Cô đã xuất hiện với vai trò khách mời trong chương trình Saturday Night Live của đài NBC ngày 25 tháng Chín, 2010 cùng Amy Poehler, nơi cô đã trình bày "California Gurls" và "Teenage Dream".[57] Ngày 18 tháng Mười, "Firework" đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba trích từ album Teenage Dream. Nó đã trở thành đĩa đơn thứ ba liên tiếp đạt vị trí đầu bảng trên Hot 100, đưa Perry trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên trong suốt bảy năm có được ba đĩa đơn đầu bảng liên tiếp từ một album.[58] Đây là đĩa đơn bán chạy nhất của Perry tại Hoa Kì, tính đến tháng Hai, 2014.[59]

A woman in a cat costume singing
Perry trình diễn trong chuyến lưu diễn California Dreams Tour vào tháng Ba, 2011

Tháng Mười Một, 2010, cô đã phát hành dòng nước hoa đầu tiên của mình, Purr. Nó đã được phát hành dưới dạng chai hình của một con mèo trong các cửa hàng tại Nordstrom.[60] Ngày 16 tháng Giêng, 2011, một phiên bản phối lại của ca khúc "E.T.", bao gồm sự xuất hiện của rapper Kanye West đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ tư trích từ album Teenage Dream. Nó tiếp tục đứng đầu bảng xếp hạng Hot 100 trong 5 tuần không liên tiếp, đưa Teenage Dream trở thành album thứ chín trong lịch sử có 4 đĩa đơn đứng đầu Hot 100.[61] Ngày 20 tháng Hai, 2011, tức vài ngày sau khi phát hành "E.T.", Perry đã chính thức thông báo về chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới nhằm quảng bá Teenage Dream mang tên California Dreams Tour, bao gồm 124 đêm diễn tại khu vực Châu Âu, Úc, Châu Á, Bắc Mĩ và Nam Phi. Nó đã thu về cho cô hơn $59 triệu.[62] Cùng với việc "E.T." đạt vị trí đầu bảng ngày 12 tháng Năm, 2011, Perry đã trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 52 tuần liên tiếp nằm trong top 10 Billboard Hot 100.[3] Ngày 6 tháng Sáu, đĩa đơn thứ năm trích từ album, "Last Friday Night (T.G.I.F.)", đã được phát hành. Ngày 29 tháng Bảy, 2011, cô đã lần đầu tham gia điện ảnh cùng với vai diễn Tí Cô Nương trong bộ phim 3D mang tên Xì Trum. Bộ phim này đã mang về doanh thu lên đến $563,749,323,[63] cho dù đã nhận được những lời phê bình mang tính tiêu cực từ phía các nhà phê bình.[64] Perry sau đó đã trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có năm đĩa đơn trích từ một album đạt đầu bảng Hot 100 khi "Last Friday Night (T.G.I.F.)" đạt vị trí dẫn đầu Billboard Hot 100 ngày 17 tháng Tám, 2011, và là nghệ sĩ thứ hai, đứng sau Michael Jackson cùng album năm 1987, Bad.[65]

Tuần lễ ngày 17 tháng Chín, đĩa đơn "Last Friday Night (T.G.I.F.)" đã đánh dấu sự phá vỡ kỉ lúc với 69 tuần liên tiếp xuất hiện trong top 10.[4] Ngày 23 tháng Chín, 2011, cô đã trình diễn vào ngày mở đầu của Ngày hội Rock in Rio cùng với Elton John, Claudia Leitte, và Rihanna và đã kết thúc vào ngày 2 tháng Muời..[66]

Ngày 4 tháng Muời, 2011, "The One That Got Away" đã đuợc phát hành duới dạng đĩa đơn thứ sáu và là đĩa đơn cuối cùng trích từ album Teenage Dream, đã đạt đến vị trí thứ ba tại Hot 100. Teenage Dream đã trở thành album thứ ba trong lịch sử có 6 đĩa đơn đạt đến top 5.[67] "The One That Got Away" cũng đã trở thành bản thứ bảy trong album dẫn đầu bảng xếp hạng Hot Dance Club Songs tại Hoa Kì, nhiều hơn bất kì album nào và đã lập một kỉ lục mới trong bảng xếp hạng..[68]

A woman in a netted dress with golden crosses
Perry đang quảng bá cho bộ phim tài liệu về tiểu sử của chính cô mang tên Katy Perry: Part of Me vào cuối tháng Sáu 2012

Perry đã chủ trì chương trình Saturday Night Live vào ngày 10 tháng Muời Hai, 2011 cùng với Robyn trong vai trò khách mời. Sự cộng tác của Perry trong tập này đã đuợc đánh giá tích cực từ phía các nhà phê bình, những nguời đã đề cao tính hài huớc cùng sự xuất hiện của cô cùng Andy Samberg, dù vậy, một vài nhà phê bình đã cho rằng phần trình diễn của Perry trong tập này đã bị lu mờ bởi Kristen Wiig.[69] Dòng nước hoa thứ hai của cô, Meow!, đã đuợc cho ra mắt cách đó không lâu.[70] Ngày 14 tháng Muời Hai 2011, tạp chí Forbes đã xếp cô đứng thứ ba trong "Danh sách Nữ nghệ sĩ Bội thu nhất trong làng nhạc" năm 2011 với $44 triệu.[71] Cũng trong tháng Muời Hai đó, cô cũng đụơc chọn là Nghệ sĩ của Năm bởi MTV.[72]

Vào 5 tháng Giêng, 2012, Perry đã đụơc ghi danh là nghệ sĩ có lượng đĩa kĩ thuật số bán chạy thứ sáu tại Hoa Kì, với 37.6 triệu đĩa đã đuợc tiêu thụ theo ghi nhận của Nielsen SoundScan.[73] Cũng trong tháng này, cô đã trở thành nghệ sĩ đầu tiên có 5 ca khúc bán hơn 5 triệu bản kĩ thuật số.[74]

Cũng trong tháng đó, Electronic Arts cũng đã tiếp tục đưa cô vào phần tiếp theo mang tên The Sims 3: Showtime.[75] The California Dreams Tour cũng đã kết thúc ngày 22 tháng Giêng, 2012. Ngày 13 tháng Hai, Perry đã phát hành "Part of Me", dưới dạng đĩa đơn đầu trích từ album tái bản của Teenage Dream, ca khúc đã đạt vị trí đầu bảng trên Hot 100 ngay tuần đầu tiên và đã trở thành đĩa đơn thứ bảy trong tổng thể của Perry đã đạt đến vị trí dẫn đầu.[76] Vào tháng Ba, Billboard đã xếp cô vào vị trí thứ 14 trong danh sách 40 nghệ sĩ bội thu nhất năm 2011, khi đem về gần $12 triệu.[77] Vào ngày 23 tháng Ba, phiên bản tái bản của album Teenage Dream mang tên Teenage Dream: The Complete Confection đã được phát hành. "Wide Awake" đã được phát hành vào ngày 22 tháng Năm dưới dạng đĩa đơn thứ hai và là đĩa đơn cuối cùng được trích từ The Complete Confection, ca khúc đã đạt vị trí thứ 2 trên Hot 100.[78] Vào tháng Sáu, Perry tiếp tục được có mặt trong một phiên bản khác của Sims 3 mang tên The Sims 3: Katy Perry's Sweet Treats.[79] Ngày 5 tháng Bảy, 2012, bộ phim tư liệu tiểu sử của Perry mang tên Katy Perry: Part of Me đã được phát hành trên các cụm rạp trên toàn quốc[80] do hãng Paramount Pictures sản xuất.[81] Bộ phim đã nhận được nhiều đánh giá tích cực và đã đạt $30 triệu tại các phòng vé trên toàn thế giới.[82][83] Không lâu sau đó, cô cũng đã trở thành đại sứ và người đại diện cho nhãn hàng Popchips.[84] Cô cũng đã có mặt trong Sách Kỷ lục Guinness Thế Giới năm 2013 với hạng mục là nghệ sĩ nữ đầu tiên có 5 đĩa đơn trích từ một album đạt ngôi dẫn đầu Billboard.[43] Trong cuối tháng Chín, Billboard cũng đã thông báo rằng Perry sẽ được vinh danh là "Người Phụ nữ của Năm" trong năm 2012 tại sự kiện Women in Music tổ chức ngày 30 tháng Mười Một, 2012 tại New York.[85] Ngày 12 tháng Mười Hai, 2012, Forbes đã xếp cô vào vị trí thứ 5 trong danh sách "Những Nữ Ca sĩ Bội Thu nhất" trong năm 2012 với $45 triệu.[86]

2013–nay: Prism[sửa | sửa mã nguồn]

Perry đã chia sẻ với Billboard vào mùa thu năm 2012 về Prism: "Tôi đã xác định được chính xác về bản ghi âm mà tôi muốn thực hiện tiếp theo. Tôi đã nhắm trước về phần đồ họa, màu sắc và âm điệu... Tôi còn biết được kiểu chuyến lưu diễn nào mà tôi sẽ thực hiện tiếp theo. Tôi sẽ rất hài lòng nếu những gì mà tôi nhắm đến sẽ trở thành hiện thực". Dù vậy, Perry đã nhắc đến việc cô không hề muốn album tiếp theo của mình sẽ là một "Teenage Dream 2.0", khi khẳng định: "Vậy sẽ thật ngu ngốc. Nó không còn là điều mà tôi muốn thử sức nữa".[87] Sau khi tạm gác việc ca hát của mình cho việc phát hành bộ phim tiểu sử cho mình, cô đã bắt đầu thực hiện album mới vào thời điểm tháng Mười Một 2012 và đã hoàn thành nó vào tháng Bảy 2013. Perry đã tiếp tục tham gia vai diễn Tí Cô Nương trong The Smurfs 2, bộ phim đã được phát hành ngày 31 tháng Bảy, 2013.[88] The Smurfs 2 đã đạt doanh thu $347,545,360 trên các cụm rạp chiếu phim trên toàn cầu,[89] cho dù đã nhận được những phần đánh giá tiêu cực từ phía các nhà phê bình, giống như phần trước của bộ phim.[90]

Hiệu nước hoa Killer Queen đã được phát hành dưới dạng dòng nước hoa thứ ba của cô vào tháng Tám 2013 thông qua Coty, Inc.[91] "Roar" đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn đầu tiên trích từ Prism vào ngày 10 tháng Tám, 2013.[92] Perry đã thu âm và đồng sáng tác bản song ca cùng với người mà sau này đã trở thành bạn trai của cô, John Mayer mang tên "Who You Love" trong album Paradise Valley. Nó đã được phát hành trước khi album ra mắt vào ngày 20 tháng Tám, 2013.[93] Cô đã khép lại lễ trao giải 2013 MTV Video Music Awards với màn trình diễn ca khúc "Roar" vào ngày 25 tháng Tám, 2013 dưới chân cầu Brooklyn.[94] Cho dù trước đó Perry đã thổ lộ với L'Uomo Vogue vào tháng Sáu 2012 rằng cô đã dự định sẽ có "yếu tố tối màu hơn" trong Prism,[95][96] thì khi cô tiết lộ với MTV trong 2013 MTV Video Music Awards, cô đã nói rằng mình đã thay đổi chủ đề của album sau khi cô đã "khai sáng" thông qua sự nỗ lực của bản thân. Cô đã nói "nó giống như tôi đã phản chiếu những màu sắc mà tôi đã trải nghiệm ra khỏi tôi", điều đã lấy cảm hứng cho cái tên Prism mà cô đặt cho album.[97] Ngày 4 tháng Chín, 2013 Billboard đã thông báo rằng "Roar" đã đạt vị trí đầu bảng trên Billboard Hot 100.[98] Cô đã tham gia làm khách mời trong chương trình Saturday Night Live cùng Bruce Willis ngày 12 tháng Mười, 2013, nơi cô cũng đã trình diễn "Roar".[99]

"Unconditionally" đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ hai trích từ album vào ngày 16 tháng Mười, 2013.[100] Ngày tiếp theo, Prism đã có mặt trên các trang mạng trực tuyến.[101] Prism sau đó đã được phát hành chính thức vào ngày 18 tháng Mười, 2013. Tại Hoa Kì, nó đã mở đầu tại vị trí đầu bảng tại Billboard 200, với 286,000 bản được tiêu thụ ngay trong tuần đầu tiên.[102] Ngày 22 tháng Mười, Perry đã trình diễn các bài hát trong Prism lần đầu tiên tại iHeartRadio Theater tại Los Angeles.[103] Ngày 11 tháng Mười Hai, 2013, Forbes đã xếp cô vào vị trí thứ 7 trong "Danh sách những Nữ Ca sĩ Bội thu nhất" năm 2013 với $39 triệu.[104] "Dark Horse" đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba trích từ album vào ngày 17 tháng Mười Hai.[105] Vào đầu tháng Giêng 2014, Perry đã trở thành nhà phụ trách trong dự án secretprojectrevolution của Madonna.[106] Ngày 29 tháng Giêng, 2014, "Dark Horse" đã trở thành đĩa đơn thứ chín của cô đạt vị trí đầu bảng tại Hot 100.[107] Vào đầu tháng Hai 2014, Perry đã được ghi danh tại vị trí thứ năm trong danh sách Nghệ sĩ Toàn cầu năm 2013, giúp cô là nữ nghệ sĩ có thứ hạng cao nhất trong danh sách[108] Ngày 21 tháng Tư, 2014, "Birthday" đã được chọn làm đĩa đơn thứ tư trong album Prism.[109][110] Vào tháng Năm 2014, Perry đã được phác thảo trong một bức vẽ do hai họa sĩ Mark RydenWill Cotton thực hiện, trong đó, bản của Mark đã được cho ra mắt tại Phòng Tranh Kohn tại Los Angeles, California trong dự án tranh vẽ của ông. Cùng với nhiều nghệ sĩ khác, cô cũng đã tham gia thu âm thể hiện lại ca khúc "Daisy Bell (Bicycle Built for Two)".[111]

Perry đã bắt đầu chuyến lưu diễn thứ ba của riêng mình, The Prismatic World Tour, vào ngày 7 tháng Năm, 2014. Chặng đầu tiên của chuyến lưu diễn đã được bắt đầu tại Châu Âu.[112] Chặng thứ hai sẽ được tổ chức tại Bắc Mĩ từ tháng Sáu đến tháng Mười 2014.[113] Chặng thứ ba của chuyến lưu diễn sẽ được tổ chức tại Châu Đại Dương từ tháng Mười Một đến tháng Mười Hai 2014.[114]

Phong cách âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Madonna (trái) và Freddie Mercury (phải) đã là những yếu tố ảnh hưởng chính đến phong cách âm nhạc của Perry.

Do trong quá trình trưởng thành, Perry chủ yếu chỉ nghe dòng nhạc Phúc âm, nên album đầu tay của Perry Katy Hudson chỉ tập trung vào chủ đề tôn giáo. Cô đã từng khao khát muốn trở thành Amy Grant cho dù "mọi chuyện đã không còn như vậy nữa."[115] Perry có điểm tên Queen trong số những nhân tố ảnh hưởng đến mình. Cô đã được giới thiệu đến ca khúc "Killer Queen" của họ năm 15 tuổi và cô đã diễn tả nó là ca khúc khiến cô khám phá âm nhạc và muốn theo đuổi sự nghiệp âm nhạc sau này. Cô nói thêm "Tôi tự nhủ rằng, 'Ôi Chúa ơi, loại nhạc này thật phi thường. Những lời nhạc này như đang thì thầm với tôi.....' và đó là điều đã khiến tôi mong muốn trở thành một tôi của ngày hôm nay".[116] Cô cũng chịu ảnh hưởng bởi thành viên trưởng nhóm, Freddie Mercury, và cô đã nói chính ông là người ảnh hưởng lớn nhất đến cô trong âm nhạc, khi phát biểu "Freddie Mecury đã và vẫn luôn là nguồn ảnh hưởng lớn nhất của tôi. Sự kết hợp giữa khả năng sáng tác châm biếm và thái độ 'Tôi không thèm quan tâm' của ông đã thật sự là cảm hứng cho âm nhạc của tôi".[117] Cô đã đặt tên cho dòng nước hoa thứ ba của mình, Killer Queen theo một ca khúc mà cô yêu mến. Cô đã có nhắc đến the Beach Boys và album Pet Sounds của họ khi kể tên những điều ảnh hưởng đến cô trong âm nhạc. Cô đã khẳng định album của họ là "một trong những bản thu âm yêu thích của tôi và nó đã ảnh hưởng gần như là hầu hết những sáng tác của tôi. Tất cả những lựa chọn về giai điệu mà tôi đã có đều bởi vì Pet Sounds."[118] Theo Perry, album cùng tên của the BeatlesPet Sounds đã là "những thứ duy nhất mà tôi đã lắng nghe trong vòng hai năm liền." Cô đã diễn tả cả hai album trên là những điều "rất quan trọng" với cô.[119]

Perry còn bị ảnh hưởng bởi Alanis Morissette, chủ yếu từ album Jagged Little Pill năm 1995 của cô - cô yêu thích đến nỗi cô đã từng mong muốn và đã được tham gia làm việc cùng người cộng tác trong album đó của Morissette, Glen Ballard. Cô đã nói: "Jagged Little Pill đã là bản thu âm hoàn hảo nhất của một nghệ sĩ nữ. Trong album đó, các bài hát đều dành cho tất cả mọi người; tôi đã cảm thấy kết nối đến tất cả các bài hát đó. Chúng vẫn sẽ trở nên vĩnh cửu với thời gian." Cô đã liệt kê Morissette và Fiona Apple là những nữ anh hùng của cô. Sau khi chuyển đến Nashville để thực hiện album đầu tay Katy Hudson, cô đã tìm nghe được âm nhạc của Patty GriffinJonatha Brooke, và đã liệt các album của họ, Flaming Red10 Cent Wings, vào những album quan trọng với cô.[17] Perry còn điểm tên Carole King, Bonnie Raitt, và Joni Mitchell như là những nhân tố ảnh hưởng đến cô, và có dự định trở thành "giống như Joni Mitchell", phát hành Nhạc dân gian và acoustic, trong nửa sau này trong sự nghiệp của cô.[120] Madonna cũng là người có ảnh hưởng đến cô trong phong cách âm nhạc. Bộ phim tài liệu tiểu sử của Perry Katy Perry: Part of Me phần lớn chịu ảnh hưởng của bộ phim Madonna: Truth or Dare. Perry đã có nói: "Madonna là tất cả với tôi, và bộ phim đó rất tuyệt vời, bởi vì nó ghi hình trong thời gia cô ấy bị tổn thương. Tôi cũng muốn làm giống như thế." Cô cũng kính phụ khả năng làm mới mình của Madonna, khi nói "Tôi muốn thay đổi mình như Madonna."[121]

Trong suốt sự nghiệp ca hát của mình, Perry đã liệt kê ra nhiều nghệ sĩ đã là nguồn cảm hứng cho nhiều ca khúc và album của mình. Album thứ ba của Perry, Teenage Dream, đã bị chịu ảnh hưởng phần lớn của ABBAthe Cardigans. Cô đã điểm tên của Robyn như là nhân tố ảnh hưởng của cô trong album thứ tư của mình, Prism, và đã thực hiện album cùng Klas Åhlund, người đã từng làm việc cùng Robyn. Cô còn liệt Gwen StefaniBjörk trong danh sách những người có ảnh hưởng đến mình.[17]

"Firework" đã được lấy ý tưởng từ một đoạn trong cuốn sách On the Road bởi Jack Kerouac, khi Kerouac đã so sánh người tràn đầy sức sống hệt như pháo hoa bắn lên trời và khiến người ta phải thốt lên "Awww!".[122] Chuyến lưu diễn thứ hai của cô, California Dreams Tour, bị ảnh hưởng lớn từ câu chuyện Alice lạc vào Xứ sở thần tiênPhù thủy xứ Oz.[8] Cô cũng ghi tên bộ phim The Craft năm 1996 như là ảnh hưởng đằng sau ca khúc "Dark Horse",[123] và quyển sách The Power of Now của Eckhart Tolle là nguồn cảm hứng cho bản "This Moment" từ album Prism.[124]

Phong cách âm nhạc và chủ đề chính[sửa | sửa mã nguồn]

Perry tham dự lễ trao giải Logie Awards tháng Năm 2011

Âm nhạc của Perry thông thường bao gồm các yếu tố của nhạc pop, rock, điện tử, dance, và disco, cho dù album đầu tay của cô, Katy Hudson, lại mang hơi hước phúc âm nhiều hơn. Album thứ hai của cô, One of the Boys chịu ảnh hưởng của pop rock và có bao gồm các chủ đề về tình yêu tan vỡ và sự phiêu lưu của những năm niên thiếu - cả hai đều đã trở thành các chủ đề chính của Perry trong âm nhạc. Album phòng thu thứ ba, Teenage Dream, có hơi hướng đáng chú ý từ nhạc điện tử và disco, trong khi vẫn mang chủ đề chính là pop và rock. Chủ đề chính của album là về tình yêu thời niên thiếu, tiệc tùng, khẳng định giá trị bản thân và sự trưởng thành cá nhân. Album thứ tư của Perry, Prism, mang âm hưởng của nhạc dance Thụy Điển và pop. Album cũng bao gồm các chủ đề về các chuyện tình, tự khẳng định bản thân, và sống vì hiện tại. Nhiều ca khúc của cô tập trung về cuộc sống và tình cảm ở tuổi thanh thiếu niên; W đã miêu tả nhiều bản nhạc ăn khách của cô là "sự khao khát ở tuổi niên thiếu được gói gọn trong phần giai điệu bắt tai không thể cưỡng lại". Sự khẳng định bản thân cũng được xem là một trong những chủ đề thường xuyên trong âm nhạc của Perry.[125]

Perry đã tự khẳng định mình là một "nữ ca sĩ kiêm sáng tác dưới dạng một ngôi sao nhạc pop"[12] và luôn giữ vững việc tự sáng tác như là một điều rất quan trọng đối với cô. Cô đã nói: "Tôi cảm thấy nó như một phép màu bí mật đã giúp tôi thể hiện bản thân và là sự dũng cảm để trở nên tổn thương, chân thật và chính xác. Tôi nghĩ mình con người ta sẽ trở nên gắn bó hơn khi họ bị tổn thương."[126] Randall Roberts của tờ Los Angeles Times đã cho rằng âm nhạc của cô đã cho thấy "niềm tự tin, xen lẫn mơ hồ như là một ảnh chụp nhanh về đời sống tình cảm của Perry."[127][128] Kristen Wiig của tờ Interview đã cho rằng "các ca khúc của Perry rất khoáng đãng, dễ chịu và dễ gây nghiện, bên dưới bề mặt bao gồm hàng tá những cảm xúc đan xen, nhiều động cơ, và mẫu thuẫn có thể lấp đầy đĩa nhạc của Carole King." Perry đã từng được ghi nhận với việc thường xuyên sử dụng sự dí dỏm, hài hước trong các sáng tác của mình. Các bài hát của cô đã được miêu tả là "phát súng với phần dí dỏm sắt như dao cạo".[119] Cô cũng đã được ghi nhận nhờ tính hài hước của mình[129] và chính cô cũng đã miêu tả vài bài hát của mình như là những bản "bông đùa".[130] Nhiều nhà phê bình đã chia sẻ vì lí do này mà cô có thể gặp trở ngại khi được người khác nhìn nhận là một tác giả nghiêm túc, cùng với Greg Kot của Chicago Tribune đã thổ lộ "việc được tiếp nhận một cách nghiêm túc có lẽ là thử thách lớn nhất của Perry."[131]

"Khi đang trong quá trình thu âm, đôi lúc tôi lại hoài nghi chính mình. Tôi cứ như: Liệu tôi chỉ gặp may, hay là tôi đã khiến cả thế giới nghĩ rằng chỉ cần 7 bài hát là đủ để đạt đến vị trí quán quân? Và rồi tôi lại trở lại phòng thu và bắt đầu sáng tác, và dòng chảy cảm hứng của con người thật của tôi lại tuôn trào và lại làm tôi gợi nhớ rằng điều đó luôn ở trong tôi, mà không ai có thể chiếm hữu nó cho dù họ có cho ý kiến thế nào đi chăng nữa. Nó luôn ở đó bởi vì đó chính là điều mà tôi đã được sinh ra cùng và nó đã là điều mà tôi đã làm việc cùng trong suốt cuộc đời tôi."

— Perry tự tin nói về khả năng sáng tác của mình.[95]

Khả năng kết nối với khán giả thông qua âm nhạc của cô đã được đề cao; W đã chú ý đến việc Perry "là ngôi sao nhạc pop hùng mạnh nhất hiện nay-các bản ăn khác của cô dễ dàng có được sự tương tác với chỉ một dấu vết của sự thử nghiệm"[130] trong khi Ann Powers của Los Angeles Times nói rằng "sự thân thuộc một cách huyền ảo chính là thành tựu lớn nhất của cô."[127] Lời bài hát của cô và sự thể hiện tính cách của cô thông qua âm nhạc đã được đề cao. Craig Marks từ Billboard đã miêu tả cô là "một tác giả nhạc pop thông minh và đầy tâm trạng."[132] Các thành ngữ và phép ẩn dụ mà cô sử dụng trong lời nhạc đã bị chỉ trích - với nhiều nhà phê bình đã chỉ ra sự trùng lặp trong lời nhạc của cô.[127] Ngoài việc viết nhạc cho riêng mình, cô còn sáng tác cho các nghệ sĩ khác, bao gồm Ashley Tisdale ("Time's Up")[133] Selena Gomez & the Scene ("Rock God" và "That's More Like It"),[134][135] Jessie James ("Bullet" và "Girl Next Door"),[136] Kelly Clarkson ("Long Shot" và "I Do Not Hook Up"),[137] Lesley Roy ("Slow Goodbye"),[138] Britney Spears ("Passenger"),[139]Iggy Azalea ("Black Widow").[140]

Perry sở hữu quãng giọng thuộc nữ trầm.[141][142] Giọng hát của Perry đã được ghi nhận đều có cả khỏe và yếu trong nhiều trường hợp khác nhau;[143][144] và đã từng bị đem ra so sánh với Alanis Morissette.[145][146][147]

Hình tượng trước công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục kẹo bạc hà xoay chuyển đặc biệt của Perry

Perry nổi tiếng là một biểu tượng gợi cảm. GQ đã gọi cô là "một mơ ước của cánh đàn ông" và ca khúc "I Kissed a Girl" của cô "một cách nào đó đã khiến ChapStick trở nên gợi cảm".[12] Elle đã miêu tả cơ thể cô "được phác thảo bởi một chàng trai thiếu niên".[148] Cô đã được đứng đầu bảng trên bảng xếp hạng Hot 100 của tạp chí Maxim năm 2010, với lượng bầu chọn từ đọc giả cho danh hiệu "người phụ nữ hấp dẫn nhất thế giới".[149] FHM Australia đã ghi danh cô là "người phụ nữ hấp dẫn nhất năm 2011".[150] Đọc giả của tạp chí Men's Health đã bầu chọn cô là "người phụ nữ nóng bỏng nhất năm 2013".[151] Đầu tháng Mười Một 2010, Perry đã chia sẻ với Harper's Bazaar về hình tượng của mình: "Dù tôi không có cơ thể của Kate Moss, nhưng tôi vẫn rất tự hào và hạnh phúc với cơ thể của mình."[152]

Cô còn nổi tiếng vì những trang phục độc đáo của mình.[19] Đó là những bộ cánh hài hước, màu sắc tươi sáng và gợi nhớ về một thời điểm nào đó. Nó cũng bao gồm những chủ đề liên quan đến thức ăn, như là trái cây và kẹo,[153] đáng kể là bộ váy hình kẹo bạc hà xoay chuyển độc nhất của cô.[154] Vogue đã miêu tả cô là "người chưa bao giờ thật sự ngại phải diện những bộ cánh tuyệt đẹp".[155][156] Đầu tháng Hai 2009, cô đã khẳng định "Tôi yêu sự hài hước trong những bộ quần áo".[19] Perry đã kể tên Gwen Stefani, Shirley Manson, Chloë Sevigny, Daphne Guinness, Natalie Portman, và nhân vật hư cấu Lolita là những biểu tượng phong cách của cô.[130][157] Cô đã trở thành "ngôi sao ảnh bìa trên toàn cầu" đầu tiên của tạp chí Cosmopolitan vào tháng Năm 2014.[158]

Sự xuất hiện của Perry trên các phương tiện truyền thông cũng rất đáng chú ý. Cô đã vượt mặt Justin Bieber để trở thành người có tài khoản Twitter có nhiều lượt theo dõi nhất vào đầu tháng Mười Một 2013.[159] Đầu tháng Giêng 2014, cô đã trở thành người đầu tiên đạt 50 triệu lượt theo dõi trên trang của mình.[160] Forbes đã nói về việc Perry sử dụng các trang mang xã hội "Perry đã sử dụng Twitter rất tuyệt vời, khi cô trò chuyện với người hâm mộ của mình và chia sẻ những tấm hình và video hài hước theo cách mà cô đã khiến họ cảm thấy như cô là bạn thân của họ."[161][162]

Những hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Perry tham dự UNICEF Snowflake Ball vào tháng 11 năm 2012

Trong Warped Tour 2008, Perry đã quyên góp tiền cho Quỹ Bảo vệ bệnh nhân Ung thư vú.[163] Tháng 6 năm 2009, cô đã thiết kế biểu tượng thời trang cho nhãn hàng H&M trong chiến dịch "Thời trang Chống lại AIDS", nơi cô đã quyên góp tiền cho dự án tăng nhận thức về HIV/AIDS.[164] Cuối tháng 9 năm 2010, cô đã giúp đỡ xây dựng và thiết kế cho quỹ Boys Hope/Girls Hope cùng Raven-Symoné, Shaquille O'Neal, và dàn diễn viên từ Extreme Makeover: Home Edition.[165]. Cô đã thực hiên video ca nhạc cho đĩa đơn "Firework" năm 2010 cho It Gets Better Project,[166] và đã ủng hộ hội từ thiện Stonewall trong chiến dịch "It gets better..... today" để chống lại việc ức hiếp người đồng tính.[167] Trong California Dreams Tour, đã quyên góp $175,000 cho quỹ Tickets-For-Charity.[168] Trong lần sinh nhật thứ 27 ủa mình, Perry đã lập một trang quyên góp cho Cộng đồng Chống lại Sự đối xử tàn bạo với Động vật Auckland.[169] Tháng Hai 2012, Perry đã trao tặng số tiền thu được từ đĩa đơn "Part of Me" cho hội từ thiện MusiCares.[170] Ngày 13 tháng 10 năm 2012, cô đã trình diễn bài hát "Firework" cho các khán giả bị bệnh tự kỉ trong Night of Too Many Stars của Comedy Central.[171] Đầu tháng 12 năm 2012, cô đã được trao tặng giải Trevor Hero Award bởi The Trevor Project cho các hoạt động đấu tranh cho thanh niên LGBT.[172]

Đầu tháng 4 năm 2013, Perry đã làm việc cùng UNICEF và đến Madagascar để giúp đỡ giáo dục và dinh dưỡng cho trẻ em ở đó.[173] Sau đó, cô đã có xuất hiện trong video cho chiến dịch "Chime For Change" nhằm nhấn mạnh sức mạnh của phụ nữ.[174] Ngày 23 tháng 10 năm 2013, cô đã chủ trì và trình diễn tại đêm nhạc We Can Survive cùng với Bonnie McKee, Kacey Musgraves, Sara Bareilles, Ellie Goulding, và đôi song ca Tegan and Sara tại Hollywood Bowl ở Los Angeles, California. Lợi nhuận từ đêm diễn đã được chuyển đến Young Survival Coalition, một tổ chức về ung thu vú.[175] Ngày 3 tháng 12 năm 2013, Perry đã được chọn làm Đại sứ Thiện Chí cho UNICEF.[176] Ngày 29 tháng 3 năm 2014, Perry đã giúp quyên góp $2,4 triệu cho Bảo Tàng Nghệ Thuật Đại Chúng tại Los Angeles cùng với những người nổi tiếng khác như Ryan Seacrest, Pharrell Williams, Tim Allen, Lisa Edelstein, và Riley Keough.[177]

Hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Perry là một nhà đấu tranh cho quyền bình đẳng của cộng đồng LGBT. Trong một cuộc phỏng vấn cho Do Something vào đầu tháng Mười Một 2008, Perry đã khẳng định "Tôi là một nhà đấu tranh cho đồng tính và tôi có thể nói điều đó một cách tự hào." Cô đã xác nhận mình đã bỏ phiếu không đồng tình với Proposition 8, một sửa đổi về việc định nghĩa kết hôn một cách hợp pháp chỉ được phép giữa một người đàn ông và một người phụ nữ tại California.[178][179][180] Thông qua Twitter và việc trình diễn bài hát "Let's Stay Together" tại đại hội của ông, Perry đã ủng hộp Tổng thống Barack Obama trong chiến dịch tái bầu cử cho ông vào đầu tháng Mười Một 2012 trước lập trường của ông về hôn nhân đồng giới[181][182] Trong khi biểu diễn, cô đã mặc một chiếc váy in hình của một lá phiếu, với ô chọn của ông Obama đã được điền vào.[183] Trên Twitter, cô đã động viên lượng người theo dõ của mình để bầu chọn cho ông Obama.[184] Sau khi ông Obama đã tái đắc cử, Perry đã tweet để chúc mừng ông.[185] Tháng Tám 2013, Perry đã vận động không nên bỏ phiếu cho Mục sư người Úc Tony Abbott dựa vào những tư tưởng của ông về hôn nhân đồng tính.[186]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi thực hiện album hợp tác cùng Glen Ballard, Perry đã hẹn hò cùng Relient K giọng ca chính Matt Thiessen, người đã đồng sáng tác các bài hát cùng với hai người trên. Thiessen sau đó đã nói điều đó "thật tệ với tôi" khi các bài hát mà họ viết đã không bao giờ được phát hành.[29] Cô sau đó đã hẹn hò cùng cố diễn viên Johnny Lewis từ năm 2005 đến năm 2006. Lewis đã mất vào cuối tháng Chín 2012.[187] Cô tiếp tục hẹn hò cùng rapper Travie McCoy vào tháng Mười một 2006, chuyện tình giữa họ đã kéo dài hai năm và đã kết thúc vào tháng Mười Hai 2008.[188] Không lâu sau khi họ chia tay, New York Daily News đã ghi nhận việc họ đã đính hôn với nhau mà sau đó Perry đã phủ nhận tin này.[189]

Cô đã gặp Russell Brand lần đầu trong mùa hè năm 2009, lúc cô đang đóng vai trong bộ phim của anh mang tên Get Him to the Greek (nhưng phần cô đóng đã bị cắt trong bản sau cùng).[45] Cả hai sau đó đã bắt đầu hẹn hò sau khi gặp lại tại 2009 MTV Video Music Awards vào tháng Chín cùng năm.[190] Cặp đôi sau đó đã đính hôn lúc Giao thừa năm 2009 trong khi đi nghỉ tại Ấn Độ.[191] Họ đã lấy nhau vào ngày 23 tháng Mười, 2010 trong một lễ cưới theo truyền thống Hindu, tại Rajasthan, Ấn Độ.[192] Sau 14 tháng chung sống, Brand đã điền tờ đơn li dị vào ngày 30 tháng Mười Hai, 2011, khi ghi lí do là vì những khác biệt không thể hòa giải. Cuộc hôn nhân của họ đã kết thúc vào ngày 16 tháng Bảy, 2012.[193] Bộ phim Katy Perry: Part of Me đã tiết lộ về lịch trình mâu thuẫn của công việc giữa hai họ và về việc anh ta muốn có con với cô trước khi đến đoạn cùng của cuộc hôn nhân.[8] Tháng Sáu 2013, cô đã tiết lộ với Vogue rằng Brand không thích cô "làm chủ" mọi chuyện và anh ta đã không hề nói chuyện với cô lần nào nữa kể từ khi anh nhắn tin anh đã li dị với cô.[95] Cô cũng đã chia sẻ với Billboard vào cuối tháng Chín 2013 rằng cô ban đầu do quá suy sụp với cuộc li hôn mà đã từng có ý định tự tử.[194]

Perry sau đó đã bắt đầu một mối quan hệ thăng trầm cùng nam ca sĩ John Mayer vào tháng Tám 2012.[195] Cô đã phủ nhận tin đồn đính hôn trong một bài phỏng vấn vào tháng Giêng 2014 với GQ, khi khẳng định "Tôi không cần phải vội."[12] Mối quan hệ của họ sau đó đã kết thúc vào cuối tháng Hai 2014.[196]

Các thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Perry đã nhận nhiều giải thưởng và đề cử cho các album phòng thu của cô. Trong đó, có 11 đề cử cho giải Grammy,[197] hai giải American Music Award,[198][199] bốn giải MTV Video Music Awards,[200][201] 14 giải People's Choice Awards,[202] và hai Kỉ lục Guinness thế giới.[43] Cuối tháng Chín 2012, Billlboard đã vinh danh cô là "Người Phụ nữ của Năm".[85] Từ tháng Năm 2010 đến tháng Chín 2011, cô đã phá vỡ kỉ lục khi có 69 tuần liên tiếp nằm trong top 10 Billboard Hot 100.[3][4] Teenage Dream đã trở thành album đầu tiên của một nghệ sĩ nữ có 5 đĩa đơn đạt vị trí quán quân tại Billboard và là album thứ hai, đứng sau album Bad của Micheal Jackson (1987).[65] Cô đã được vinh danh là Nghệ sĩ nữ Đứng đầu thế giới năm 2013 bởi International Federation of the Phonographic Industry.[108] Tính đến tháng Năm 2014, cô đã có tổng cộng 9 đĩa đơn đạt vị trí đầu bảng trên Hot 100, với đĩa đơn gần đây nhất là "Dark Horse".[107] Perry cũng là nghệ sĩ có lượng đĩa kĩ thuật số bán chạy thứ ba tại Hoa Kì theo RIAA với 39.5 triệu đĩa đơn kĩ thuật số, đứng sau RihannaTaylor Swift.[203] Đến tháng Năm 2014, cô đã giữ kỉ lục có nhiều đĩa đơn đạt 5 lần chứng nhận Bạch kim nhất tại Hoa Kì. Các bài hát của cô bao gồm "Firework", "E.T.", "California Gurls", "Hot N Cold", "Roar", và "Dark Horse" đều đã bán hơn 5 triệu bản kĩ thuật số. Tính đến tháng Mười một 2013, Perry đã bán hơn 11 triệu album và 81 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới.[204][205]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phẩm tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng[206] Album
Flag of the United States.svg Mỹ Flag of Australia.svg Úc Flag of Austria.svg Áo Flag of Canada.svg Canada Flag of Germany.svg Đức Flag of Ireland.svg Ireland Flag of the Netherlands.svg
Lan
Flag of New Zealand.svg New Zealand Flag of Switzerland.svg Thụy Sĩ Flag of the United Kingdom.svg Anh
2008 "I Kissed a Girl" 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 One of the Boys
"Hot n Cold" 3 4 1 1 1 3 1 5 1 4
2009 "If We Ever Meet Again"
(hợp tác với Timbaland)
37 9 10 4 9 3 11 1 7 3 Shock Value II
2010 "California Gurls"
(hợp tác với Snoop Dogg)
1 1 3 1 3 1 2 1 4 1 Teenage Dream
"Teenage Dream" 1 2 2 2 6 1 4 1 8 2
"Firework" 1 3 3 1 4 2 8 1 3 3
2011 "E.T."
(hợp tác với Kanye West)
1 5 7 1 9 5 27 1 14 3
"Last Friday Night (T.G.I.F.)" 1 5 7 1 15 2 7 4 20 9
2012 "Part of Me" 1 5 18 1 20 5 27 1 33 1 Teenage Dream:
The Complete Confection
"Wide Awake" 2 4 28 1 39 6 26 1 21 9
2013 "Roar" 1 1 1 1 2 1 2 1 3 1 Prism
2014 "Dark Horse" 1 1 1 2 2 3 4 5 5 4
Tổng số đĩa đơn quán quân 9 3 3 9 2 4 2 9 2 4

Các chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diễn chính

Đồng trình diễn

Trình diễn mở màn

Các dòng nước hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ thuật thứ bảy[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Role Notes
2008 Young and the Restless, TheThe Young and the Restless Chính cô Tập 8914
2008 Wildfire Chính cô "Life's Too Short" (Phần 4, tập 9)
2010 American Idol Giám khảo khách mời Phần 9, tập 5
2010 The X Factor Giám khảo khách mời Phần 7, tập 2
2010 Sesame Street Chính cô (đã bị cắt)
2010 The Simpsons Chính cô 1 tập, "The Fight Before Christmas"

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stape, Will (18 tháng 6 năm 2013). “Celebrity Net Worth Katy Perry & Russell Brand”. Yahoo!. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2014. 
  2. ^ Breimeier, Russ. “Katy Hudson”. Christianity Today (Christianity Today International). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2008. 
  3. ^ a ă â Trust, Gary (12 tháng 5 năm 2011). “Katy Perry Celebrates Year in Hot 100's Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2011. 
  4. ^ a ă â Trust, Gary (7 tháng 9 năm 2011). “Adele's 'Someone Like You' Soars To No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ “Katy Perry First Confirmed Performer For Capital FM's Jingle Bell Ball 2013”. Capital FM. Global Group. 6 tháng 11 năm 2013. 
  6. ^ “Katy Perry To Headline Day One of 2013 Jingle Bell Ball”. MTV News. Viacom. 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  7. ^ “RIAA – Top Artists (Digital Singles)”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2013. 
  8. ^ a ă â b c d đ e ê g Cutforth, Dan; Lipsitz, Jane (directors);Perry, Katy (autobiographer). (July 5, 2012). Katy Perry: Part of Me. [Motion picture]. United States; filmed in studios:Insurge Pictures, Imagine Entertainment, Perry Productions et la.: Paramount Pictures. 
  9. ^ Wass, Mike (20 tháng 8 năm 2013). “7 Questions With David Hudson: His Movement, The Music & Advice From Big Sister Katy Perry”. Idolator. Spin Media. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2014. 
  10. ^ Robinson, Lisa (3 tháng 5 năm 2011). Katy Perry on Her Religious Childhood, Her Career, and Her Marriage to Russell Brand. Vanity Fair. 
  11. ^ Friedlander, Noam (2012). Katy Perry. Sterling. 
  12. ^ a ă â b Wallace, Amy (19 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry's GQ Cover Story”. GQ (Advance Publications). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ Wallace, Amy (19 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry's GQ Profile Outtakes: Going Back to School, Dating Musicians and Plastic Surgery”. GQ (Advance Publications). Truy cập tháng 2 năm 2014. 
  14. ^ a ă Graff, Gary (21 tháng 2 năm 2009). “Interview: Katy Perry—Hot N Bold”. The Scotsman. UK. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009. 
  15. ^ a ă â b c “Katy Perry”. TheStarScoop.com. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2009. 
  16. ^ a ă Montgomery, James (24 tháng 6 năm 2008). “Katy Perry Dishes on Her 'Long And Winding Road' From Singing Gospel To Kissing Girls”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2009. 
  17. ^ a ă â Mitchell, Gail (30 tháng 11 năm 2012). “Katy Perry Q&A: Billboard's Woman of the Year 2012”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ “Katy Perry Discusses Evangelical Childhood, Term 'Deviled Eggs' Banned from House”. Billboard (Prometheus Global Media). May–June 2011. Truy cập tháng 2 năm 2014. 
  19. ^ a ă â “Find Out What Influences Katy Perry's Cute Style!”. Seventeen. 5 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  20. ^ a ă Panda, Priya. “Katy Perry Wants to Draw on Your Face”. Toonage. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009. 
  21. ^ “Katy Hudson”. Katy Hudson Website. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2012. 
  22. ^ “The Strangely Normal Tour – Phil Joel, Earthsuit, V*Enna, & Katy Hudson”. Epinions. eBay. 22 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  23. ^ Greenblatt, Leah (30 tháng 5 năm 2008). “'Kiss' Me, Katy”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  24. ^ “Mick Jagger says he never hit on 18-year-old Katy Perry”. USA Today (Gannett Company). 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2013. 
  25. ^ Hay, Carla (29 tháng 1 năm 2005). “'Alfie', 'Aviator', and 'Ray' Rack Up Awards”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2014. 
  26. ^ Leahey, Andrew. “Katy Perry: Biography”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 
  27. ^ “A Katy Perry”. Last.fm. 18 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  28. ^ Perry, Katy (24 tháng 1 năm 2007). “Katy Perry "Simple"”. YouTube. Java Records. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012. 
  29. ^ a ă Dominic, Serene (12 tháng 12 năm 2009). “Interview: Relient K's Matt Thiessen”. The Arizona Republic (John Zidich). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  30. ^ “Goodbye For Now”. YouTube. Atlantic Records. 2006. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  31. ^ Gym Class Heroes (27 tháng 11 năm 2006). “Cupid's Chokehold”. YouTube. Decaydance Records. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  32. ^ “Correction to the interview with Chris Anokute”. HitQuarters. 21 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  33. ^ a ă “Interview With Chris Anokute”. HitQuarters. 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  34. ^ “Madonna shouts out Katy Perry”. YouTube. KHKZ. 21 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  35. ^ Wanderlust. Gavin Rossdale. Interscope Records. 2008. 
  36. ^ Cohen, Jonathan (14 tháng 8 năm 2008). “Rihanna Topples Katy Perry on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  37. ^ “Katy Perry on Warped 2008: Mosh Pits, Injuries and Andrew WK”. Rolling Stone (Jann Wenner). 25 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  38. ^ “One of the Boys”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2009. 
  39. ^ “Katy Perry - Chart history”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2009. 
  40. ^ Vena, Jocelyn (20 tháng 8 năm 2008). “Katy Perry Responds To Rumors of Parents' Criticism: 'They Love And Support Me'”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  41. ^ Kaufman, Gil (7 tháng 11 năm 2008). “Americans Katy Perry, Britney Spears, Kanye West, 30 Seconds To Mars Dominate 2008 MTV EMAs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009. 
  42. ^ Paine, Andre (18 tháng 2 năm 2009). “Duffy Triumphs With Three BRIT Awards”. Billboard (Prometheus Global Media). 
  43. ^ a ă â Glenday, Craig (2013). Guinness World Records 2013. Random House LLC. tr. 423. 
  44. ^ Kaufman, Gil (27 tháng 1 năm 2009). “The Matrix Drop Long-Lost Album Featuring Katy Perry”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  45. ^ a ă Vena, Jocelyn (4 tháng 6 năm 2010). “Katy Perry Explains Why She Was Cut From 'Get Him to the Greek'”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2012. 
  46. ^ Ching, Albert (5 tháng 8 năm 2009). “Last Night: No Doubt, Katy Perry, the Sounds at Verizon Wireless Amphitheater”. OC Weekly (Voice Media Group). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  47. ^ Montgomery, James (12 tháng 10 năm 2009). “Katy Perry's MTV Unplugged Album Will Feature Two New Songs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  48. ^ Perry, Katy (18 tháng 7 năm 2009). “Part of the audience for MTV”. Facebook. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 
  49. ^ “MTV Unplugged: Katy Perry”. iTunes. Apple Inc. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  50. ^ “Video: Timbaland f/ Katy Perry – 'If We Ever Meet Again'”. Rap-Up (Devin Lazerine). 18 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  51. ^ Barrett, Annie (27 tháng 1 năm 2010). “'American Idol': The Kara vs. Katy Lifetime movie”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  52. ^ Montgomery, James (9 tháng 6 năm 2010). “Katy Perry's 'California Gurls' Makes History in Rise To #1”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  53. ^ Trust, Gary (9 tháng 6 năm 2010). “Katy Perry Speeds To No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  54. ^ “Katy Perry Hits Dublin For X Factor Auditions”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2010. 
  55. ^ Langhorne, Cyrus. “Eminem Gets Knocked from the Top, Drake Hits a Milli, Fantasia and Usher Make Strong Debuts”. SOHH. 4Control Media. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  56. ^ “Teenage Dream Reviews”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  57. ^ Ram, Archana (26 tháng 9 năm 2010). “'Saturday Night Live' recap: Justin Timberlake, Katy Perry, and Gov. Paterson help Amy Poehler kick off a new season”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2014. 
  58. ^ Pietroluongo, Silvio (8 tháng 12 năm 2010). “Katy Perry's 'Firework' Shines Over Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  59. ^ Grein, Paul (27 tháng 2 năm 2014). “Chart Watch: You Bet Pharrell Is "Happy"”. Yahoo!. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2014. 
  60. ^ “Katy Perry To Launch Perfume”. MTV News. Viacom. 23 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  61. ^ Trust, Gary (30 tháng 3 năm 2011). “Katy Perry's 'E.T.' Rockets To No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2011. 
  62. ^ “Top 25 Worldwide Tours (01/01/2011 – 12/31/2011)”. Pollstar (Pollstar, Inc.). 28 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  63. ^ “The Smurfs (2011)”. Box Office Mojo. Amazon.com. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2011. 
  64. ^ “The Smurfs”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  65. ^ a ă Trust, Gary (17 tháng 8 năm 2011). “"Katy Perry Makes Hot 100 History: Ties Michael Jackson's Record"”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2011. 
  66. ^ “Rock in Rio 2011: A hora e a vez do pop”. Jornal da Cidade de Bauru (bằng Portuguese). 26 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  67. ^ “Katy Perry's 'Teenage Dream' Yields Sixth Hot 100 Top Five Hit”. Billboard (Prometheus Global Media). 14 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  68. ^ Trust, Gary (26 tháng 12 năm 2011). “Katy Perry Notches Record Seventh No. 'One' From 'Teenage Dream' On Dance/Club Play Songs”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  69. ^ McGee, Ryan (11 tháng 12 năm 2011). “Recap: Saturday Night Live – Katy Perry and Robyn”. Hitfix. Daniel Fienberg. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  70. ^ Perry, Katy. “Meow! by Katy Perry Eau de Parfum”. Nordstrom. Truy cập tháng 11 năm 2011. 
  71. ^ Greenburg, Zack O'Malley (14 tháng 12 năm 2011). “The Top-Earning Women In Music 2011”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2011. 
  72. ^ “Katy Perry Is MTV's Artist of the Year!”. MTV News. Viacom. 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  73. ^ Loynes, Anna. “The Nielsen Company & Billboard's 2011 Music Industry Report”. Business Wire. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2012. 
  74. ^ Grein, Paul (19 tháng 1 năm 2012). “Week Ending Jan. 15, 2012. Songs: The Song That Won't Drop”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  75. ^ “Share your rise to fame with Katy Perry!”. Electronic Arts. Larry Probst. 22 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2012. 
  76. ^ Trust, Gary (11 tháng 2 năm 2012). “Katy Perry's' 'Part of Me' Hits iTunes, Radio Monday”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  77. ^ “Music's Top 40 Money Makers 2012”. Billboard (Prometheus Global Media). 9 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012. 
  78. ^ “Katy Perry - Chart History”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2012. 
  79. ^ “The Sims 3 Katy Perry's Sweet Treats”. Electronic Arts. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  80. ^ James, Nicole (5 tháng 7 năm 2012). “What if Katy Perry's "Part Of Me" Movie Starred..... Her Cat?”. Fuse. The Madison Square Garden Company. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  81. ^ Warner (7 tháng 3 năm 2012). “Katy Perry: Part Of Me' Concert Movie Due This Summer”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2014. 
  82. ^ “Katy Perry: Part of Me (2012)”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2012. 
  83. ^ “Katy Perry: Part of Me”. Box Office Mojo. Amazon.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2012. 
  84. ^ Donnelly, Matt (25 tháng 7 năm 2012). “First Look: Katy Perry joins Popchips as its face, an investor”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2012. 
  85. ^ a ă “Katy Perry: Billboard's Woman of the Year”. Billboad (Prometheus Global Media). 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  86. ^ Greenburg, Zack O'Malley (12 tháng 12 năm 2012). “The Top-Earning Women In Music 2012”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2012. 
  87. ^ “Katy Perry Won't Rush New Album: "I Know Exactly The Record I Want To Make Next"”. Capital. Global Group. 1 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  88. ^ “Katy Perry taped background vocals for 'Ooh La La'”. United Press International. News World Communications. 29 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  89. ^ “The Smurfs 2 (2013)”. Box Office Mojo. Amazon.com. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  90. ^ “The Smurfs 2”. Rotten Tomatoes. Flixster. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2014. 
  91. ^ Wilson, Gaby (3 tháng 5 năm 2013). “Katy Perry Launches Third Fragrance: Killer Queen”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 
  92. ^ Caulfield, Keith (10 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry's 'Roar' Arrives Early: Listen”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  93. ^ Danton, Eric R. (13 tháng 8 năm 2013). “Listen to John Mayer's 'Paradise Valley' Now”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  94. ^ Wickman, Kase (26 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry Makes Brooklyn 'Roar' With Epic VMA Finale”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2014. 
  95. ^ a ă â Woods, Vicki (tháng 6 năm 2013). “Katy Perry's First Vogue Cover”. Vogue (Condé Nast). Truy cập tháng 7 năm 2013. 
  96. ^ “Katy Perry inspired by Madonna”. MTV News. Viacom. Tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  97. ^ Garibaldi, Christina (27 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry 'Lets the Light In' On Prism. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  98. ^ Trust, Gary (4 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry Dethrones Robin Thicke Atop Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013. 
  99. ^ “SNL Promo: Bruce Willis and Katy Perry”. NBC. Steve Burke. 10 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013. 
  100. ^ Benjamin, Jeff (16 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Wails on New Single "Unconditionally"”. Fuse. The Madison Square Garden Company. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013. 
  101. ^ Ellis, Stacy-Ann (17 tháng 10 năm 2013). “PRISM stream”. Vibe (Spin Media). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013. 
  102. ^ Caulfield, Keith. “Katy Perry's 'PRISM' Shines at No. 1 on Billboard 200”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013. 
  103. ^ Gundersen, Edna (22 tháng 10 năm 2013). “Live stream: Katy Perry's 'Prism' album release party”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014. 
  104. ^ Greenburg, Zack O'Malley (11 tháng 12 năm 2013). “The Top-Earning Women In Music 2013”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  105. ^ Trust, Gary (9 tháng 12 năm 2013). “Perry's 'Dark Horse' Hit”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. 
  106. ^ “Katy Perry to Guest Curate Madonna's Art for Freedom Project”. Billboard (Prometheus Global Media). 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  107. ^ a ă Trust, Gary (29 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry's 'Dark Horse' Gallops to No. 1 on Hot 100”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2014. 
  108. ^ a ă Brandle, Lars (30 tháng 1 năm 2014). “One Direction Named Most Popular Recording Artist for 2013”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  109. ^ “CHR/Top 40”. Radio & Records. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  110. ^ “Rhythmic”. Radio & Records. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014. 
  111. ^ Williams, Maxwell (2 tháng 5 năm 2014). “Katy Perry Featured on Pop Artist Mark Ryden's $100 'Gay Nineties' Album”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  112. ^ Lipshutz, Jason (18 tháng 11 năm 2013). “Katy Perry Announces First 'PRISMATIC' World Tour Dates”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  113. ^ “Katy Perry Unveils Prismatic World Tour Butterfly Dress”. ABC News. The Walt Disney Company. 28 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  114. ^ Hill, Dan (26 tháng 2 năm 2014). “Katy Perry's Prismatic World Tour!”. 2Day FM. Austereo Radio Network. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  115. ^ “Katy Perry on the 180 That Saved Her Career”. NPR. National Public Radio, Inc. 26 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  116. ^ Schneider, Marc (12 tháng 5 năm 2012). “Katy Perry Wants a 'Fucking Vacation' After Next Single”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  117. ^ “Freddie Mercury inspired Katy Perry to 'Kiss a Girl'”. NME (IPC Media). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  118. ^ “Katy Perry, The Things They Say”. Contactmusic.com. Dom Harrison. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  119. ^ a ă Wiig, Kristen (2 tháng 3 năm 2012). “Katy Perry”. Interview (Dan Ragone). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  120. ^ Michaels, Sean. “Katy Perry wants to go folk acoustic – in style of Joni Mitchell”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2014. 
  121. ^ Dinh, James (6 tháng 4 năm 2012). “Katy Perry's 'Part of Me' Film Inspired By Madonna”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  122. ^ Friedlander 2012, tr. 123
  123. ^ Rutherford, Kevin (22 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Reveals 'Prism' Influences, Adds Stripped-Down Performances at Album Release Event”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013. 
  124. ^ Trust, Gary (9 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry's Future 'Prism' Hits: Industry Picks”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2013. 
  125. ^ Reed, James (20 tháng 10 năm 2013). “Perry shows many colors on 'Prism'”. The Boston Globe (John W. Henry). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  126. ^ Hoffman, Claire (9 tháng 12 năm 2013). “Katy Conquers All”. Marie Claire (Hearst Corporation). Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2013. 
  127. ^ a ă â Roberts, Randall (22 tháng 10 năm 2013). “Review: Hits pack Katy Perry's 'Prism'”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  128. ^ Powers, Ann (23 tháng 8 năm 2010). “Album review: Katy Perry's Teenage Dream”. Los Angeles Times (Tribune Company). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  129. ^ Daly, Sean. “Katy Perry's latest confection 'Prism' more sour than sweet”. Tampa Bay Times (Times Publishing Company). Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  130. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên WMag
  131. ^ Kot, Greg (20 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry album review; Prism reviewed”. Chicago Tribune (Tribune Company). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  132. ^ “Katy Perry, "Teenage Dream"”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  133. ^ Guilty Pleasure. Ashley Tisdale. Warner Bros. Records. 2009. 
  134. ^ Vena, Jocelyn. “Selena Gomez 'Had To Fight' To Get Katy Perry Song 'Rock God'”. MTV. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010. 
  135. ^ When the Sun Goes Down. Selena Gomez & the Scene. Hollywood Records. 2011. 
  136. ^ Jessie James. Jessie James. Mercury Records, The Island Def Jam Music Group. 2009. 
  137. ^ All I Ever Wanted. Kelly Clarkson. RCA Records/19 Recordings. 2009. 
  138. ^ Castellanos, Melissa (26 tháng 9 năm 2008). “Second Cup Cafe: Lesley Roy”. CBS. Leslie Moonves. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2014. 
  139. ^ Britney Jean. Britney Spears. RCA Records. 2013. 
  140. ^ The New Classic. Iggy Azalea. The Island Def Jam Music Group. 2014. 
  141. ^ Grewal, Samar (9 tháng 10 năm 2008). “Review: Katy Perry – One of the Boys”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2014. 
  142. ^ Pirkin, Steven (1 tháng 2 năm 2009). “Review: 'Katy Perry'”. Variety (Penske Media Corporation). Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2014. 
  143. ^ Clarke, Betty (1 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry – review”. The Guardian (Guardian Media Group). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  144. ^ Sheffield, Rob. “Teenage Dream”. Rolling Stone (Jann Wenner). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  145. ^ Harvey, Darren (15 tháng 9 năm 2008). “Katy Perry – One of the Boys”. musicOMH. Michael Hubbard. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  146. ^ Miller, Alex. “NME Album Reviews – Katy Perry”. NME (IPC Media). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  147. ^ McNulty, Bernadette (1 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry, iTunes Festival, Roundhouse, review”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  148. ^ Hudson, Kathryn (29 tháng 8 năm 2013). “Katy Perry: Elle Canada Interview”. Elle (Hachette Filipacchi Médias). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  149. ^ “2010 Hot 100”. Maxim (Dan Bova). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2013. 
  150. ^ “Katy Perry Named FHM Australia's 'Sexiest Woman Of 2011'”. MTV News. Viacom. 10 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013. 
  151. ^ “The Hottest Women of 2013”. Men's Health (Rodale, Inc.). Tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  152. ^ Apodaca, Rose. “Katy Perry's Interview – Quotes from Katy Perry”. Harper's Bazaar (Hearst Corporation). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  153. ^ Larson, John (14 tháng 9 năm 2010). “Katy Perry // "Teenage Dream"”. Tacoma Weekly (Pierce County Community Newspaper Group). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
  154. ^ Menyes, Carolyn (12 tháng 7 năm 2012). “Katy Perry Asked to Ditch Hazardous Peppermint Bra”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2013. 
  155. ^ “Fashion Fireworks: Katy Perry's Best Performance Looks”. Vogue (Condé Nast). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  156. ^ Lyons Powell, Hannah. “Katy Perry's Changing Style and Fashion”. Glamour (Condé Nast). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  157. ^ Young, Katy (1 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry reveals her perfume preferences”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013. 
  158. ^ Harrison, Lily (28 tháng 5 năm 2014). “Katy Perry Is Cosmopolitan Magazine's First-Ever Global Cover Star—See the Pics!”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2014. 
  159. ^ Hollister, Sean (3 tháng 11 năm 2013). “Katy Perry passes Justin Bieber as most popular person on Twitter”. The Verge (Vox Media). Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013. 
  160. ^ Buli, Liv (31 tháng 1 năm 2014). “Katy Perry Hits 50 Million Twitter Followers”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2014. 
  161. ^ Pomerantz, Dorothy. “Katy Perry – In Photos: Social Networking Superstars”. Forbes (Forbes Inc.). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  162. ^ Gundersen, Edna (21 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry tells how to 'tame the social media dragon'”. USA Today (Gannett Company). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  163. ^ “The Keep A Breast Foundation”. Keep A Breast Foundation. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  164. ^ Vena, Jocelyn. “Katy Perry, Tokio Hotel Join H&M for Fashion Against AIDS”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2014. 
  165. ^ “Boys Hope/Girls Hope”. American Broadcasting Company. The Walt Disney Company. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  166. ^ Mapes, Jillian (28 tháng 10 năm 2010). “Katy Perry Dedicates Leaked 'Firework' Video to LGBT Campaign”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  167. ^ “High profile support: Other messages”. Stonewall. Ruth Hunt. 17 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2014. 
  168. ^ “Katy Perry Celebrates Over $175K Raised for Charity on Her California Dreams Tour through Tickets-for-Charity”. Santa Barbara Independent (Joe Cole). 14 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  169. ^ “Katy Perry Asks For Charity Donations To Mark Birthday”. Contactmusic.com. Dom Harrison. 26 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2011. 
  170. ^ Dresdale, Andrea (16 tháng 2 năm 2012). “Katy Perry Donating Proceeds from New Single to Grammy Charity”. ABC News. The Walt Disney Company. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2014. 
  171. ^ Busis, Hillary (18 tháng 10 năm 2012). “Katy Perry and autistic tween Jodi DiPiazza perform 'Firework' — VIDEO”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  172. ^ “Katy Perry Accepts Hero Award From Trevor Project”. Contactmusic.com. Dom Harrison. 3 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  173. ^ “Katy Perry teams up with UNICEF and visits children in Madagascar”. UNICEF. Anthony Lake. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013. 
  174. ^ Levinson, Lauren (16 tháng 4 năm 2013). “Watch: Beyoncé, Blake Lively, Katy Perry, and More Unite in Chime for Change Video”. Elle (Hachette Filipacchi Médias). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  175. ^ Aguila, Justino (24 tháng 10 năm 2013). “Katy Perry Hosts Famous Friends, Previews Next Tour at Hollywood Bowl: Live Review”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  176. ^ “Katy Perry is UNICEF's newest Goodwill Ambassador”. UNICEF. Anthony Lake. 3 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  177. ^ Daunt, Tina (31 tháng 3 năm 2014). “Katy Perry, Pharrell Williams Help Raise $2.4 Million for MOCA”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014. 
  178. ^ “Katy Perry talks about gay rights in interview with CGG”. Do Something. Nancy Lublin. 4 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  179. ^ Hauser, Brooke (28 tháng 6 năm 2012). “Katy Perry Celebrates Her Independance”. Parade (Advance Publications). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  180. ^ “Katy Perry Talks Body Image, Fame, and Politics in Rolling Stone Cover Story”. Rolling Stone (Jann Wenner). 22 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014. 
  181. ^ Porter, Amber (8 tháng 10 năm 2012). “Katy Perry Nails it for Obama”. ABC News. The Walt Disney Company. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  182. ^ Harp, Justin. “Katy Perry performing at Barack Obama rally”. Digital Spy. Hearst Corporation. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  183. ^ Strecker, Erin. “Katy Perry performs at third President Obama rally in Wisconsin”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  184. ^ Nessif, Bruna (5 tháng 11 năm 2012). “K2012 Election: Katy Perry, George Lopez, Rashida Jones and More Take to Twitter to Get Out the Vote”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014. 
  185. ^ Selby, Jenn (7 tháng 11 năm 2012). “Celebrities react to Barack Obama's re-election”. Glamour (Condé Nast). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014. 
  186. ^ “Katy Perry confronts Tony Abbott on gay marriage”. The Daily Telegraph (Telegraph Media Group). 15 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2014. 
  187. ^ Couch, Aaron (27 tháng 9 năm 2012). “Johnny Lewis' Death: Hollywood Reacts”. The Hollywood Reporter (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  188. ^ “Katy Perry And Travis Split”. MTV News. Viacom. 5 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  189. ^ Kaufman, Gil (17 tháng 12 năm 2008). “Are Katy Perry And Travis McCoy Officially Engaged? Katy Weighs In”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  190. ^ Ziegbe, Mawuse (4 tháng 9 năm 2010). “Katy Perry, Russell Brand's Love Story Began at the VMAs – Music, Celebrity, Artist News”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  191. ^ Heldman, Breanne L. (6 tháng 1 năm 2010). “Katy Perry and Russell Brand Engaged in India”. E!. NBCUniversal. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2010. 
  192. ^ Ganguly, Prithwish (26 tháng 10 năm 2010). “Katy affirms Brand loyalty”. The Times of India (The Times Group). Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010. 
  193. ^ Vena, Jocelyn (16 tháng 7 năm 2012). “Katy Perry And Russell Brand Officially Divorced”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  194. ^ Diehl, Matt (27 tháng 9 năm 2013). “Katy Perry's 'PRISM': The Billboard Cover Story”. Billboard (Prometheus Global Media). Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2013. 
  195. ^ “John Mayer Dedicates Song to Katy Perry During Tour Opener”. Billboard (Prometheus Global Media). 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2013. 
  196. ^
  197. ^
  198. ^ Dinh, James (20 tháng 11 năm 2011). “Katy Perry Strips Down 'One That Got Away' At AMAs”. MTV News. Viacom. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2014. 
  199. ^ “AMAs 2012: Full Winners List”. Billboard. Prometheus Global Media. 18 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2014. 
  200. ^ Vary, Adam B. (28 tháng 8 năm 2011). “MTV 2011 VMAs: Katy Perry, Lady Gaga, Adele big winners”. Entertainment Weekly (Time Inc.). Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2011. 
  201. ^ “MTV Video Music Awards 2012: List of winners”. CBS. Leslie Moonves. 6 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2014. 
  202. ^
  203. ^ “RIAA – Top Artists (Digital Singles)”. Recording Industry Association of America. Cary Sherman. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2014. 
  204. ^ “Katy Perry First Confirmed Performer For Capital FM's Jingle Bell Ball 2013”. Capital. Global Group. 6 tháng 11 năm 2013. 
  205. ^ “Katy Perry To Headline Day One of 2013 Jingle Bell Ball”. MTV News. Viacom. 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2014. 
  206. ^ “Katy Pery Album & Song Chart History”. Charts.us. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Snoop Dogg
Chủ trì MTV Europe Music Awards
20082009
Kế nhiệm:
Eva Longoria
Tiền nhiệm:
Jonas Brothers
Chủ trì Teen Choice Awards
2010
Kế nhiệm:
Kaley Cuoco
Giải thưởng và thành tích
Tiền nhiệm:
Michael Jackson (1988)
Giải thưởng Thành tựu Đặc biệt
2011
Kế nhiệm:
Tiền nhiệm:
Michael Jackson (1988)
Giải thưởng Nổi bật của Billboard
2012
Kế nhiệm:
Tiền nhiệm:
Taylor Swift (2011)
Người Phụ nữ của Năm
2012
Kế nhiệm:
P!nk (2013)