Nicki Minaj

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nicki Minaj
Nicki Minaj 3, 2012.jpg
Nicki Minaj ra mắt hãng nước hoa đầu tiên của mình, Pink Friday vào năm 2012 tại Sydney (Úc)
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Onika Tanya Maraj
Sinh 8 tháng 12, 1982 (31 tuổi)
Nghề nghiệp Rapper, ca sĩ, nhạc sĩ
Thể loại Hip hop, R&B, pop
Năm 2002–nay
Hãng đĩa Young Money Entertainment,
Cash Money Records, Universal Motown
Hợp tác Young Money, Lil Wayne, Drake, Christina Aguilera, Mariah Carey, Britney Spears, Ke$ha, Madonna, Rihanna

Onika Tanya Maraj (sinh ngày 8 tháng 12 năm 1982),[1] nổi tiếng với nghệ danh Nicki Minaj (phát âm /mɪˈnɑːʒ/), là một nghệ sĩ thu âm nhạc hip hopR&B người Mỹ. Cô thành danh sau khi trở thành thành viên của nhóm nhạc rap Young Money.

Cô từng góp giọng trong một đoạn ngắn gần cuối ca khúc "Woohoo" của Christina Aguilera. Cô cũng là nghệ sĩ nữ duy nhất trong danh sách "Các ông hoàng nhạc hip hop" của tạp chí Rolling Stone.

Tháng 11 năm 2010, cô phát hành album phòng thu đầu tay, Pink Friday, cả phiên bản chuẩn và phiên bản cao cấp. Album này đạt được thành công khi đứng vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được chứng nhận bạch kim bởi RIAA. Đĩa đơn "Super Bass" trích từ Pink Friday là đĩa đơn thành công nhất của Nicki Minaj tại Mỹ, đạt vị trí thứ ba trên Billboard Hot 100 của Mỹ và đạt chứng nhận 4 lần bạch kim tại đây. Đến tháng 4 năm 2012, cô cho phát hành album phòng thu thứ 2: Pink Friday: Roman Reloaded. Pink Friday: Roman Reloaded rất thành công trên thị trường âm nhạc khi ra mắt tại vị trí quán quân trên Billboard 200. Album cũng đạt vị trí quán quân tại Canada, Scotland và Liên hiệp Anh. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Starships" là bài hát được xếp hạng tốt nhất của Minaj trên thế giới (#5 tại Mỹ, #1 tại Scotland và lọt vào tốp 10 tại Úc, Bỉ, Canada, Ireland, Nhật...).

Hiện nay, Nicki đang làm giám khảo của American Idol.

Sự nghiệp ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

2010-2011: Pink Friday[sửa | sửa mã nguồn]

Pink Friday là album phòng thu đầu tay của Nicki Minaj. Album phát hành vào tháng 11 năm 2010. Đĩa đơn đầu tiên, "Your Love" đạt vị trí thứ 14 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, thứ 1 trên bảng xếp hạng Hot Rap Songs và thứ 4 trên bảng xếp hạng Hot R&B/Hip hop Songs. Đĩa đơn thành công nhất của Minaj trong album này là "Super Bass", đạt vị trí thứ 3 (cao nhất) trên Billboard Hot 100, và xếp hạng cuối năm là thứ 8. Video của "Super Bass" đạt lượt xem là trên 200 triệu lượt trên Youtube (tính đến cuối 2011). Vào thời gian này, Minaj cũng được nhiều nghệ sĩ chọn làm nghệ sĩ hợp tác trong các đĩa đơn "Raining Men" của Rihanna trong album Loud, bản remix (phối khí) của ca khúc "Till The World Ends" của Britney Spears từ album Femme Fatale cùng với ca sĩ Kesha (2011), ca khúc "Fireball" của Willow Smith (2011). Trong suốt thời gian này, cô cũng góp giọng trong đĩa đơn "Woohoo" cùng với Christina Aguilera từ album Bionic của Aguilera.

2011-2012: Pink Friday: Roman Reloaded[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ 2 của Minaj, Pink Friday: Roman Reloaded phát hành vào 3 tháng 4 năm 2012. Album đã phát hành đĩa đơn quảng bá, "Stupid Hoe" và ba đĩa đơn, là "Starships", "Right By My Side" và "Beez In The Trap". Đĩa đơn "Starships" là đĩa đơn thành công nhất của Minaj (từ trước tới nay) khi lọt vào tốp mười bảng xếp hạng của nhiều nước trên thế giới. Pink Friday: Roman Reloaded đạt vị trí quán quân trên Billboard 200 và xuất hiện trên bảng xếp hạng của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong thời gian này, cô cũng được chọn làm nghệ sĩ hợp tác trong rất nhiều bài hát và đĩa đơn, "Give Me All Your Luvin'" của Madonna, "Turn Me On" của DJ người Pháp David Guetta, "Take It To The Head" của DJ KhaledChris Brown... chứng tỏ độ nổi tiếng của Minaj ngày càng mở rộng.

2012-2013: American Idol và các dự án khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, Nicki đang làm giám khảo cho chương trình tìm kiếm tài năng American Idol cùng Mariah Carey, Randy JacksonKeith Urban. Ngoài ra cô cũng phát hành nước hoa mang tên Pink Friday. Trong thời gian này cô cũng góp giọng trong hai bài hát "Beauty and a Beat" của Justin Bieber và "Girl on Fire " của Alicia Keys.Nhìn chung,cả hai bài hát này đều rất thành công trong bảng xếp hạng billboard khi lần lượt đúng tại vị trí #5 và #11 trong bảng xếp hạng Billboard và cũng rất thành công trên các bảng xếp hạng uy tín trên thế giới.

Mâu thuẫn cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Nicki Minaj có nhiều mâu thuẫn. Đầu tiên, khi Nicki bắt đầu có tên tuổi nhờ album "Pink Friday", 'Lil Kim đã rap một bài hát để hắt hủi Nicki với những từ ngữ không dễ chịu tí nào do sợ Nicki sẽ thế chỗ, trở thành một nữ rapper nổi tiếng hơn cả mình. Sau đó, Nicki đã đáp trả lại Kim bằng cách hợp tác với Eminem trong bài hát "Roman's Revenge". Mọi việc chưa dừng lại ở đó. Sau khi tung ra album phòng thu thứ 2: "Pink Friday: Roman Reloaded" thì Nicki làm MV cho bài hát "Stupid Hoe" nhằm nói đến và ám chỉ tới 'Lil. Sau đó là đến Mariah Carey. Trong buổi ghi hình tại vòng thử giọng tại "American Idol", do tranh cãi nảy lửa với Mariah về một thí sinh, Nicki đã rời khỏi trường quay của "American Idol". Cô vừa đi vừa chửi thề và dọa bắn Mariah. Sau đó, cô có mặt tại "The Ellen Show". Cô khẳng định với "Ellen DeGeneres" rằng cô rất tôn trọng Mariah và cô khẳng định rằng cô không bị tâm thần vì lúc đó, do cô không bình tĩnh được nên cô đã rời khỏi trường quay tại vòng thử giọng.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Album hợp tác

Mixtape

Chuyến lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Mở màn

Chính thức

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
Truyền hình
2010 My Super Sweet 16 Chính cô Khách mời[3]
My Time Now MTV Special
VH1 Divas: Salute the Troops Biểu diễn "Girls Just Wanna Have Fun" với Katy Perry
2011 New Year's Eve with Carson Daly Biểu diễn "Moment 4 Life" và "Save Me"[4]
Fashion Police Giám khảo khách mời
Saturday Night Live "Jesse Eisenberg/Nicki Minaj" (Mùa 36, tập 693)
America's Next Top Model Giám khảo khách mời / Cycle 17, tập 1[5]
Americas Best Dance Crew Mùa 6, tập 7[6]
E! Special: Nicki Minaj E! Special[7]
2012 Dick Clark's New Year's Rockin' Eve with Ryan Seacrest 2012 Biểu diễn "Turn Me On", "Super Bass", and "Roman in Moscow"[8]
Nicki Minaj: A Day in the Life 4Music special
The Cleveland Show "Menace II Secret Society" (Mùa 4, tập 2)[9]
Nicki Minaj: My Truth Loạt phim ba tập của E![10]
2013 American Idol Giám khảo (Mùa 12–nay)[11]
Phim
2008 The Come Up DVD Volume 17 (Wayne World Edition) Chính cô Dirty Money Entertainment, khách mời
2011 Britney Spears Live: The Femme Fatale Tour khách mời, biểu diễn
2012 Ice Age: Continental Drift Steffie[12] Lồng tiếng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Police Report: Nicki's Asst. Struck Minaj w/ Suitcase”. TMZ. 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ Rodriguez, Jayson (17 tháng 3 năm 2011). “Lil Wayne Kicks Off I Am Still Music Tour In Rhode Island – Music, Celebrity, Artist News”. MTV. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ Justin | Ep. Royal16 | My Super Sweet 16 | Full Episode Video | MTV
  4. ^ Jan 1st 2011 4:45 pm by Georgette Cline Comments (1 tháng 1 năm 2011). “Nicki Minaj Celebrates New Year With Carson Daly”. The Boombox. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ “America's Next Top Model Episodes | Season 17 – Episode 1 – Nicki Minaj”. Cwtv.com. 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  6. ^ “Nicki Minaj Guests on ‘America’s Best Dance Crew’ [Photos]”. Rap-Up. Devin Lazerine. 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  7. ^ “Nicki Minaj's 'E! Special'”. Vibe. 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2012. 
  8. ^ “Nicki Minaj Blasts Off on ‘Dick Clark’s New Year’s Rockin’ Eve’ [Video]”. Rap-Up. Devin Lazerine. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  9. ^ “WebVoyage Titles”. Cocatalog.loc.gov. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  10. ^ EOL Staff (27 tháng 9 năm 2012). “Nicki Minaj Coming to E! in a Series of Specials”. E!. NBC Universal. 
  11. ^ Kenevy, Bill. “'Idol' names its judges: Minaj, Urban”. USA Today. Gannett Company. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012. 
  12. ^ Ice Age: Continental Drift (2012) – Full cast and crew

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]