David Guetta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
David Guetta
David Guetta at 2011 MMVA.jpg
David Guetta ở lễ trao giải MuchMusic Video 2011
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Pierre David Guetta
Sinh 7 tháng 11, 1967 (46 tuổi)
Paris, Pháp
Nghề nghiệp DJ, sản xuất thu âm, viết bài hát
Thể loại House, electro house, hip house
Năm 1984–nay
Hãng đĩa EMI Music France, Virgin, Positiva, Astralwerks
Website DavidGuetta.com

Pierre David Guetta (sinh ngày 7 tháng 11 năm 1967), được biết đến với nghệ danh David Guetta (Phát âm tiếng Pháp: [daˌvid ɡɛˈta]), là nhà sản xuất nhạc houseDJ người Pháp.[1] Những năm 1980 và 1990, anh làm công việc DJ ở các hộp đêm, sau đó đồng sáng lập ra Gum Productions và phát hành album đầu tay Just a Little More Love năm 2002. Tiếp đó là album Guetta Blaster (2004) và Pop Life (2007). Album năm 2009 One Love của anh xuất hiện những single thành công "When Love Takes Over" (Kelly Rowland góp giọng), "Gettin' Over You" (Chris Willis, Fergie & LMFAO góp giọng) và "Sexy Bitch" (với sự góp giọng của Akon), trong đó "Sexy Bitch" đã lọt vào top 5 ở Mỹ, còn những bài kia đều đứng đầu bảng ở Anh Quốc, ngoài ra còn có một single nổi tiếng ngoài lãnh thổ Mỹ là "Memories" với sự góp giọng của Kid Cudi đã lọt vào top 5 ở nhiều nước trên thế giới. Guetta đã tiêu thụ được hơn 3 triệu bản album và 15 triệu bản đĩa đơn toàn cầu.[2]

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

1984–2000: Thời thơ ấu và bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở tuổi 19, Guetta bắt đầu sự nghiệp DJ của mình tại câu lạc bộ Broad Club ở Paris.[3] Ban đầu, anh chỉ chơi các ca khúc nổi tiếng vào thời đó, nhưng sau đó, anh khám phá ra dòng nhạc house sau khi nghe một ca khúc của Farley Keith trên đài phát thanh Pháp vào năm 1987. Một năm sau đó, anh bắt lập ra một câu lạc bộ đêm của riêng mình.[4] Năm 1990, anh phát hành "Nation Rap", một sản phẩm hợp tác với nam ca sĩ nhạc rap người Pháp Sidney Duteil.[5]

Khoảng giữa thập niên 1990, Guetta chơi nhạc trong một số câu lạc bộ nổi tiếng như Le Centrale, the Rex, Le Boy, và Folies Pigalle.[3][6] Được phát hành vào năm 1994, đĩa đơn thứ hai của Guetta, một sản phẩm hợp tác với giọng ca nhạc house người Mỹ Robert Owens có tựa đề "Up & Away", là một bản hit nhỏ trong các câu lạc bộ.[4] Năm 1994, David Guetta trở thành quản lí của câu lạc bộ đêm Le Palace, tiếp tục tổ chức các bữa tiệc ở đó và ở nhiều câu lạc bộ khác, như bữa tiệc "Scream" ở Les Bains Douches.[7]

2001–2006: Just a Little More LoveGuetta Blaster[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, David Guetta cùng với Joachim Garraud lập nên Gum Productions, và vào cùng năm đó, bản hit đầu tiên của Guetta, "Just a Little More Love", hợp tác với nam ca sĩ người Mỹ Chris Willis, ra đời.[4] Album phòng thu đầu tay của Guetta, Just a Little More Love, được phát hành vào năm 2002 qua hãng đĩa Virgin Records và đã bán ra được hơn 300,000 bản. Các đĩa đơn tiếp theo của album ("Love Don't Let Me Go", "People Come People Go" và "Give Me Something") được phát hành trong năm 2002. Guetta ra mắt album biên tập đầu tay của mình, Fuck Me I'm Famous, vào năm 2003, đặt theo tên một bữa tiệc của anh ở Ibiza. Trong album có ca khúc "Just for One Day (Heroes)" và một bản phối khí ca khúc "Heroes" của David Bowie.[4] Nhiều năm sau đó trong sự nghiệp, Guetta tiếp tục phát hành những album biên tập có tựa đề giống như vậy.

Album phòng thu thứ hai của Guetta, Guetta Blaster, được phát hành vào năm 2004. Album phát hành bốn đĩa đơn: Hai đĩa đơn "Money" và "Stay" hợp tác với Chris Willis, hai đĩa đơn còn lại là "The World Is Mine" và "In Love With Myself" đều hợp tác với JD Davis. Năm 2006, một đĩa đơn trong Just a Little More Love, "Love Don't Let Me Go", được tái phát hành và phối khí với ca khúc "Walking Away" của The Egg. Bản phối này có tựa là "Love Don't Let Me Go (Walking Away)" và có vị trí xếp hạng cao hơn hẳn ca khúc gốc.

2007–2008: Pop Life[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, album phòng thu thứ ba của Guetta với tựa đề Pop Life được phát hành. Album này là một thành công lớn ở Anh, Ireland cùng một số quốc gia khác ở châu Âu. Theo EMI, vào năm 2010, album đã bán ra được tổng cộng 530,000 bản trên toàn thế giới. Đĩa đơn đầu tiên của album, "Love Is Gone", dẫn đầu bảng xếp hạng American Dance Chart và lọt được vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở vị trí #98.

Guetta đã đi tới nhiều quốc gia trên thế giới để quảng bá cho album này. Anh chơi nhạc ở Mauritius vào tháng 1, 2008, và đi cùng với anh là nam ca sĩ nhạc rap người Pháp JoeyStarr. Cùng năm đó, anh cùng vợ mình là Cathy lên kế hoạch cho một sự kiện tổ chức tại sân vận động Stade de France vào ngày 5 tháng 7, 2008. Sự kiên này có tên là "UNIGHTED", mà trong đó, Guetta biểu diễn cùng với Tiësto, Carl Cox, Joachim Garraud andvà Martin Solveig trước đám đông 40,000 người.[8]

Năm 2009, Guetta xếp vị trí thứ ba trong cuộc thăm dò ý kiến khán giả về "Top 100 DJs" của tạp chí DJ Magazine,[9] và tiếp đó anh được đề cử ở hạng mục "DJ nhạc House Xuất sắc nhất" trong Lễ trao giải DJ Awards năm 2008. Kể từ tháng 4, 2009, Guetta đã có một chương trình phát thanh riêng trên đài phát thanh internet RauteMusik vào chiều thứ bảy hàng tuần, chương trình này có tên là DJ Mix. Chương tình này sau đó được chuyển tới đài phát thanh Radio 538, phát sóng vào chiều thứ sáu hàng tuần sau chương trình Tiësto's Club Life.

2009–2010: One Love và bước đột phá[sửa | sửa mã nguồn]

David Guetta trong tour diễn One Love Tour vào tháng 11, 2010.

Album phòng thu thứ tư của David Guetta với tựa đề One Love, được phát hành vào tháng 8, 2009. Đĩa đơn đầu tiên của album, "When Love Takes Over", hợp tác với nữ ca sĩ Kelly Rowland, đã đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng UK Singles Chart và dẫn đầu bảng xếp hạng của rất nhiều các quốc gia khác trên thế giới. Đĩa đơn thứ hai từ album, "Sexy Bitch" hợp tác với Akon, trở thành đĩa đơn quán quân thứ hai của Guetta tại Anh. "One Love" hợp tác với Estelle, "Memories" hợp tác với Kid Cudi và "Gettin' Over You" hợp tác với Chris Willis, FergieLMFAO cũng nối tiếp sự thành công của các đĩa đơn trước đó. Tính đến tháng 5, 2011, album đã bán được 3,000,000 bản trên toàn thế giới.[10] Album cũng đã được đề cử ở hạng mục Album nhạc Điện tử/Đance Xuất sắc nhất tại Giải Grammy lần thứ 52.[11] Ca khúc "When Love Takes Over" cũng nhận được hai đề cử, một cho Thu âm nhạc Dance Xuất sắc nhất và một cho Thu âm Phối khí Xuất sắc nhất, và đã giành được chiến thắng sau đó. Phiên bản tái phát hành của album với tựa đề One More Love được phát hành vào ngày 29 tháng 11, 2010. Đĩa đơn đầu tiên từ album, "Who's That Chick?", với sự góp giọng của nữ ca sĩ Rihanna được phát hành vài tuần trước đó.[12]

Vào ngày 16 tháng 6, 2009, ban nhạc The Black Eyed Peas phát hành đĩa đơn "I Gotta Feeling", đĩa đơn thứ hai từ album phòng thu thứ năm của họ, The E.N.D., và là một ca khúc được sản xuất bởi David Guetta. Ca khúc nhanh chóng trở thành một hit lớn trên toàn thế giới, dẫn đầu bảng xếp hạng của mười bảy quốc gia, đồng thời trở thành ca khúc có lượt tải về nhiều nhất mọi thời đại ở Mỹ với gần 7,5 triệu bản được bán ra, còn ở Anh đã tiêu thụ được hơn 1 triệu bản.[13][14] Guetta được đề cử hai lần cho việc hợp tác của anh với The Black Eyed Peas tại Giải Grammy lần thứ 52, ở hạng mục Ghi âm của Năm cho "I Gotta Feeling" và hạng mục Album của Năm cho album The E.N.D.. Năm 2010, anh là đồng sáng tác và là nhà sản xuất cho đĩa đơn "Commander" của Kelly Rowland từ album phòng thu thứ ba của cô, Here I Am. Ca khúc đã giành được ngôi vị quán quân trên bảng xếp hạng Hot Dance Club Songs của tạp chí Billboard Mỹ, đồng thời lọt vào Top 10 tại Bỉ và Anh. Guetta ngoài ra cũng là đồng sản xuất cho "Forever and a Day", đĩa đơn tiếp theo của Kelly Rowland ở Anh từ album đó.[15][16] Anh cũng là nhà sản xuất cho hai đĩa đơn "Acapella" và "Scream" từ album phòng thu thứ năm của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Kelis, Flesh Tone. Vào ngày 28 tháng 6, 2012, nam ca sĩ nhạc rap người Mỹ Flo Rida phát hành đĩa đơn "Club Can't Handle Me" hợp tác với David Guetta, một ca khúc nằm trong album nhạc phim Step Up 3D.

2011–hiện tại: Nothing but the Beat[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu thứ năm của David Guetta, Nothing but the Beat, được phát hành vào ngày 30 tháng 8, 2012. Album được phát hành dưới dạng đĩa đôi, với đĩa CD thứ nhất bao gồm các ca khúc có sự hợp tác của những nghệ sĩ đến từ thế giới nhạc R&B, hip hoppop, trong khi đó, đĩa CD thứ hai lại bao gồm các ca khúc nhạc sàn không lời.[17] Nam DJ người Pháp này đã lấy cảm hứng từ những ban nhạc rock nổi tiếng như Kings of Leon hay Coldplay để thêm một chút rock vào sản phẩm của mình.[18] "Where Them Girls At" hợp tác với Nicki MinajFlo Rida, đĩa đơn đầu tiên của album, được phát hành vào ngày 2 tháng 5, 2011.[19][20] "Little Bad Girl" hợp tác với LudacrisTaio Cruz được chọn làm đĩa đơn thứ hai từ album và được phát hành vào ngày 28 tháng 6, 2011.[17][21] Đĩa đơn thứ ba được từ album được phát hành vào ngày 27 tháng 9, 2011, đây là một sản phẩm hợp tác giữa Guetta và nam ca sĩ Usher, đĩa đơn có tựa đề là "Without You". Guetta cũng phát hành một số đĩa đơn quảng bá cho Nothing But the Beat như "Titanium" hợp tác với Sia, "Lunar" với Afrojack, và "Night of Your Life" hợp tác với Jennifer Hudson. Album cũng bao gồm đĩa đơn nổi tiếng "Sweat", hợp tác với Snoop Dogg, "Turn Me On" hợp tác với Nicki Minaj, và đĩa đơn "I Can Only Imagine hợp tác với Chris Brown & Lil Wayne. Một ca khúc khác cũng nằm trong album có tên là "Sunshine" có sự xuất hiện của nhà sản xuất nhạc điện tử/dance Avicii, người đã sáng tác nên bài hit "Levels".

Guetta và vợ của anh, Cathy vào tháng 1, 2012 tại lễ trao giải NRJ Music Awards.

Album tái phát hành của Nothing but the Beat, có tựa đề là Nothing but the Beat 2.0, được phát hành vào ngày 7 tháng 9, 2012. Đĩa đơn đầu tiên từ album này là "She Wolf (Falling to Pieces)", một sản phẩm hợp tác giữa Guetta và nữ ca sĩ người Úc Sia, người cũng đã từng hợp tác với anh trong đĩa đơn "Titanium". "Just One Last Time" hợp tác với Taped Rai, là đĩa đơn thứ hai từ album.

Cuộc sống riêng[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của anh là việc tại một nhà hàng của Maroc gốc Do Thái,[22] còn mẹ anh là một người phụ nữ gốc Bỉ.[23][24][25] Guetta kết hôn với Cathy Guetta, một người quản lí câu lạc bộ đêm, và đã có hai người con, Tim Elvis Eric (sinh 2004) và Angie (sinh 2007).[26]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Hạng mục Đề cử Kết quả
2006 DJ Awards DJ nhạc House Xuất sắc nhất Đề cử
2007 DJ Quốc tế Xuất sắc nhất Đoạt giải
Best Ibiza Night Đoạt giải
World Music Awards DJ có Lượng bán Xuất sắc nhất Đoạt giải
TMF Awards Trình diễn nhạc Dance Xuất sắc nhất Đề cử
2008 DJ Awards DJ nhạc House Xuất sắc nhất Đoạt giải
MTV Europe Music Awards Trình diễn người Pháp Xuất sắc nhất Đề cử
2009 DJ Awards DJ nhạc House DJ Xuất sắc nhất Đề cử
DJ Magazine Top 100 DJs
Xếp thứ 3
2010 Grammy Awards[11] Thu âm của Năm "I Gotta Feeling"
(với The Black Eyed Peas)
Đề cử
Thu âm nhạc Dance Xuất sắc nhất "When Love Takes Over"
(với Kelly Rowland)
Đề cử
Thu âm Phối khí Xuất sắc nhất Đoạt giải
Album nhạc Điện tử/Dance Xuất sắc nhất One Love Đề cử
World Music Awards[27] DJ Xuất sắc nhất Đoạt giải
Nhà Sản xuất Xuất sắc nhất Đoạt giải
Nghệ sĩ người Pháp có Lượng bán Xuất sắc nhất Đoạt giải
NRJ Music Awards Album Quốc tế của Năm One Love Đoạt giải
DJ Magazine Top 100 DJs
Xếp thứ 2
2011 Grammy Awards Thu âm Phối khí Xuất sắc nhất "Revolver"
(với Madonna)
Đoạt giải
MTV Europe Music Awards Nghệ sĩ Nam Xuất sắc nhất Đề cử
Trình diễn người Pháp Xuất sắc nhất Đề cử
DJ Magazine[28] Top 100 DJs
Xếp thứ 1
2012 Brit Awards Nghệ sĩ Nam Solo Quốc tế Chính anh ấy Đề cử[29]
Grammy Awards[30] Thu âm nhạc Dance Xuất sắc nhất "Sunshine" (với Avicii) Đề cử
Album nhạc Điện tử/Dance Xuất sắc nhất Nothing but the Beat Đề cử
Eska Music Awards[31] Nghệ sĩ Quốc tế Xuất sắc nhất Đoạt giải
American Music Awards Nhạc Dance Điện tử được Yêu thích Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “ACE Title Search - Works written by: GUETTA PIERRE DAVID”. ASCAP. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011. 
  2. ^ Otter, Charlotte (22 tháng 10 năm 2010). “Music Week – Music Week – Music business magazine – F*** Me I'm Famous goes global”. Music Week. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ a ă “David Guetta”. Ultra Music. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009. 
  4. ^ a ă â b Jeffries, David (2008). “David Guetta: Biography”. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009. 
  5. ^ David Guetta Discography discogs.com
  6. ^ D'Alguerre, Benjamin. “David Guetta: Bio complète” (bằng tiếng Pháp). MTV France. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009. 
  7. ^ “David Guetta Artist Profile”. wantickets.com.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url http://www.youtube.com/watch?v= (trợ giúp);
  8. ^ “UNIGHTED Energized by Burn Intense Energy and Cathy Guetta”. Unightedbycathyguetta.com. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  9. ^ “DJ Mag – Top 100 DJs”. Djmag.com. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  10. ^ “David Guetta confirms new single and album | EMI Music”. EMI. 5 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2011. 
  11. ^ a ă “The 52nd Annual Grammy Awards Nominees List” (PDF). Grammy Award. National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2009. 
  12. ^ “Rihanna, Doritos Unveil Interactive Musical Experience for Fans Worldwide; Features Debut of New... – PLANO, Texas, 19 Oct. /PRNewswire/”. Texas: Prnewswire.com. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ Whitworth, Dan (21 tháng 6 năm 2010). “Black Eyed Peas set downloads record”. BBC News. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010. 
  14. ^ Mason, Kerri (15 tháng 8 năm 2010). “David Guetta: Inside His Latest Hit Parade, 'Nothin But the Beat'”. Billboard.com. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  15. ^ Posted By: Sam (18 tháng 8 năm 2010). “Exclusive: Kelly Rowland – ‘Forever And A Day’ (New UK Single) | ..::That Grape Juice // ThatGrapeJuice.net::.. || Thirsty?”. Thatgrapejuice.net. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  16. ^ “YouTube – Kelly Rowland | Interview for Kelly's Official German site P2/2 | June 2010”. Youtube.com. 29 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  17. ^ a ă “David Guetta Announces New Album "Nothing But the Beat" | Astralwerks”. Astralwerks. 22 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  18. ^ “DAVID GUETTA INSPIRED BY KINGS OF LEON”. Daily Star. 23 tháng 8 năm 2010. 
  19. ^ Graff, Gary (10 tháng 5 năm 2011). “David Guetta Teams with Flo Rida, Nicki Minaj for 'Where Them Girls At'. Billboard (Detroit: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011. 
  20. ^ Cochrane, Greg (4 tháng 5 năm 2011). “David Guetta employs 'investigator' over song theft”. Newsbeat (BBC News). Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011. 
  21. ^ Corner, Lewis (10 tháng 5 năm 2011). “David Guetta confirms next single – Music News – Digital Spy”. Digital Spy. Hachette Filipacchi UK. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2011. 
  22. ^ Mas, Isabelle (1 tháng 4 năm 2002). “Mon moteur, c'est la musique et le plaisir”. L'expansion.com (bằng tiếng Pháp) (L'express.fr). Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009. 
  23. ^ “Tomorrowland heeft een headliner te pakken” [Tomorrowland has a headliner deal]. Clint.be (bằng tiếng Hà Lan). 21 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2011. “David Guetta, the French house DJ, who accidentally has another important link with Belgium - his mother is Belgian” 
  24. ^ “David Guetta ook dit jaar op Tomorrowland” [David Guetta this year also in Tomorrowland]. Knack (bằng tiếng Hà Lan). 22 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2011. 
  25. ^ Robrecht van Goolen (23 oktober 2010). “Super DJ David Guetta gaf exclusieve show op Legendz in Luik” [DJ David Guetta gave an exclusive show at Legendz Liege]. Sterrennieuws (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2011. “...de moeder van Guetta is afkomstig van Luik.” 
  26. ^ “Cathy et David Guetta à nouveau parents” (bằng tiếng Pháp). Associated Press. 24 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2007. 
  27. ^ “World Music Awards 2010”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2010. 
  28. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Loben
  29. ^ “Brit awards 2012: nominations in full”. Brits. The Guardian. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2012. 
  30. ^ “Grammy nominees/winners 2012”. Grammys. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  31. ^ “ESKA MUSIC AWARDS 2012 Best International Artist - Najlepszy Artysta (Świat): David Guetta otrzyma nagrodę specjalną podczas EMA!”. Radio Eska. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]