Voi ma mút

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Voi ma mút
Thời điểm hóa thạch: Tiền Pliocen tới Holocen
Phục dựng một con voi ma mút Columbia
Phục dựng một con voi ma mút Columbia
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
(Không phân hạng) Craniata
Phân ngành
(subphylum)
:
Vertebrata
Phân thứ ngành
(infraphylum)
:
Gnathostomata
Liên lớp (superclass): Tetrapoda
(không phân hạng) Synapsida
(không phân hạng) Reptiliomorpha
(không phân hạng) Amniota
(Không phân hạng) Mammaliaformes
Lớp (class): Mammalia
Phân lớp (subclass): Theria
Phân thứ lớp
(infraclass):
Placentalia
Liên bộ (superordo): Afrotheria
(Không phân hạng) Paenungulata
Bộ (ordo): Proboscidea
Họ (familia): Elephantidae
Chi (genus): Mammuthus
Brookes, 1828
Loài

Chi Voi ma mút hay voi lông dài (danh pháp khoa học: Mammuthus) là một chi voi cổ đại đã bị tuyệt chủng. Tồn tại ở thế Pliocen, vào khoảng 4,8 triệu năm đến 4.500 năm trước. Có đặc điểm lông dài (xấp xỉ 50 cm), rậm (hơn so với voi hiện tại), ngà dài và cong (hoá thạch ở Siberi có ngà dài 3,5 m), răng voi ma mút rất dài, cong quặp vào trong, dài nhất tới 5 cm, chân sau ngắn nên trọng tâm toàn thân nghiêng về phía sau, vai nhô cao. Chân chỉ có 4 ngón (kém 1 ngón so với voi hiện nay), da dày. Voi ma mút có răng lớn, sắc cạnh, thích hợp cho nghiền nát cỏ. Vòi của voi ma mút có hai chỗ lồi giống như ngón tay, một ở phía trước và một ở phía sau, giúp chúng dễ dàng túm lấy cỏ. Da màu đen, nâu và nâu đỏ, lông vàng, cao từ 3 đến 3,3 m.

Mục lục

Sự tuyệt chủng [sửa]

Cho đến gần đây, người ta cho rằng con voi ma mút cuối cùng biến mất ở Âu châu và nam Siberia khoảng 12.000 năm trước đây tuy nhiên có những khám phá dẩn đến sự kết luận là chúng còn sống ở đó khoảng 10.000 năm trước đây. Không lâu sau đó con ma mút cũng biến mất khỏi Siberia.[1] Một nhóm nhỏ còn sống ở St. Paul Island, Alaska, cho đến 3750 trước công nguyên,[2][3] và những con ma mút nhỏ [4] của vùng đảo Wrangel sống đến 1650 trước công nguyên.[5][6] Những nghiên cứu mới đây về trầm tích tại Alaska cho thấy voi ma mút còn sống ở lục địa Mỹ châu cho đến 10.000 năm trước đây.[7]

Không thể dứt khoát giả thích tại sao voi ma mút bị tuyệt chủng như thế. Có thể do thời tiết nóng lên khoảng 12.000 năm trước đây, rồi sau đó các tảng băng tan ra và thụt ra biển khiến cho mặt biển dâng lên, có thể đây là một yếu tố. Rừng rú bị thay thế bởi đồng cỏ trong lục địa. Môi trường sinh sống cũa voi ma mút cũng do dó mà bị giảm nhỏ lại. Tuy nhiên những thay đổi về thời tiết như thế đã xảy ra trước đây. Nhiều giai đoạn ấm rất tương tự như thế dã xảy ra trong kỷ băng hà xảy ra trong nhiều triệu năm đã không gây ra tuyệt chủng cho loài sinh vật, do dó khí hậu một mình không đóng một vai trò quyết định ở đây.[8][9] Sự xuất hiện của những thợ săn thiện nghệ ở lục địa Á-ÂuMỹ châu vào khoảng thời gian sự tuyệt chủng xảy ra có thể đóng vai trò lớn lao khiến ma mút biến mất.[8][9]

Voi ma mút tuyệt chủng do khí hậu thay đổi hay bị săn bắt quá độ bỏi con người vẫn còn là một vấn đề tranh cải.[10] Một giả thuyết khác cho rằng voi ma mút có thể bị mặc phải một chứng viêm vi trùng. Một giả thích họp lý cho sự tuyệt chủng của ma mút là do khí hậu phối họp với bị săn bắn voi do loài người . Con người đã bắt đầu tiêu thụ thịt ma mút khoảng 1,8 triệu năm trước đây.[11] Có dấu hiệu ở Ukraine cho thấy người Neanderthal xây nhà dùng xương voi ma mút.[12]

Tuy nhiên viện nghiên cứu sinh vật Mỹ khám phá ra rằng xương voi của ma mút do bị các voi khác dẩm lên cũng mang những dấu vết tương tự như là bị người ta làm thịt, do dó cũng có thể là loài người sát hại ma mút vì thịt củng không hẳng đúng.

Kích thước [sửa]

Tham khảo [sửa]

  1. ^ doi:10.1016/j.bbr.2011.03.031
    Hoàn thành chú thích này
  2. ^ doi:10.1016/j.yqres.2008.03.006
    Hoàn thành chú thích này
  3. ^ doi:10.1016/j.palaeo.2008.12.019
    Hoàn thành chú thích này
  4. ^ Tikhonov, Alexei; Larry Agenbroad, Sergey Vartanyan (2003). “Comparative analysis of the mammoth populations on Wrangel Island and the Channel Islands”. DEINSEA 9: 415–420. ISSN 0923-9308. 
  5. ^ Arslanov, K., Cook, G.T. , Gulliksen, S., Harkness, D.D., Kankainen, T., Scott, E.M., Vartanyan, S., and Zaitseva, G.I. (1998). “Consensus Dating of Remains from Wrangel Island”. Radiocarbon 40 (1): 289–294. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  6. ^ Vartanyan, S.L.; Kh. A. Arslanov; T. V. Tertychnaya; S. B. Chernov (1995). “Radiocarbon Dating Evidence for Mammoths on Wrangel Island, Arctic Ocean, until 2000 BC”. Radiocarbon (Department of Geosciences, The University of Arizona) 37 (1): pp 1–6. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  7. ^ Haile J, Froese DG, Macphee RD, et al. (December năm 2009). “Ancient DNA reveals late survival of mammoth and horse in interior Alaska”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 106 (52): 22352–7. doi:10.1073/pnas.0912510106. PMC 2795395. PMID 20018740. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  8. ^ a b Martin, P. S. (2005). Twilight of the Mammoths: Ice Age Extinctions and the Rewilding of America. University of California Press. ISBN 0-520-23141-4. 
  9. ^ a b Burney, D. A.; Flannery, T. F. (tháng 7 năm 2005). “Fifty millennia of catastrophic extinctions after human contact”. Trends in Ecology & Evolution (Elsevier) 20 (7): 395–401. doi:10.1016/j.tree.2005.04.022. PMID 16701402. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ Fountain, Henry (22 tháng 12 năm 2009). “DNA Shifts Timeline For Mammoths' Exit”. The New York Times. tr. 3. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  11. ^ doi:10.1641/0006-3568(2006)56[292:CWT]2.0.CO;2
    Hoàn thành chú thích này
  12. ^ Gray R (18 tháng 12 năm 2011). “Neanderthals built homes with mammoth bones”. Telegraph.co.uk. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 

Xem thêm [sửa]

Liên kết ngoài [sửa]