Pokémon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Logo

Pokémon (ポケモン) là một trò chơi điện tử của hãng Nintendo Nhật Bản được phát triển bởi Tajiri Satoshi phát hành vào năm 1996. Hiện đã trở thành một thương hiệu đang thịnh hành ở nhiều quốc gia khác trên thế giới, đã được chuyển thể thành các bộ anime, truyện tranh,... nhiều tập. Game Pokémon được phát triển bởi GameFreak và đã trở thành một trong những dòng game dựa trên hoạt hình nổi tiếng thứ nhì thế giới, chỉ đứng sau Mario, vốn cũng thuộc Nintendo. Sản phẩm Pokémon bao gồm video, anime, truyện tranh, móc khóa, sách ảnh...Năm 2006 Pokémon tổ chức kỉ niệm 10 năm Pokémon đến với công chúng trên toàn thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một cảnh trong phim

Pokémon được hãng Nintendo cho ra đời vào năm 1996 nhằm phục vụ cho trò chơi xách tay phổ biến nhất của họ: Game Boy. Và được phát hành lần đầu tiên ở Nhật Bản. Cái tên đầu tiên được đặt ra cho Pokémon là "Poketto Monstaa" là phát âm tiếng nhật của "Pocket Monster - quái vật bỏ túi" và sớm được người Nhật Bản rút ngắn lại thành "Pokémon". Một nhà thiết kế game người Nhật là Satoshi Tajiri đã nảy ra ý tưởng và làm nền móng cho Pokémon nhờ những ký ức thời xa xưa của ông khi còn nhỏ vẫn hay tìm bắt những con bọ cho vào hũ và thầm ước chúng có thể được mình huấn luyện để chiến đấu như một bộ phim giả tưởng trên ti vi mà ông rất thích xem. Quá trình thiết kế trò chơi khó khăn và phức tạp đến mức Tajiri phải mất đến sáu năm mới có thể cho ra đời trò chơi Pokémon mà chúng ta yêu thích. Pokémon đã gây ra một cơn sốt khủng khiếp ở Mỹ năm 1998 bằng việc phát hành 2 trò chơi là Pokémon Red và Pokémon Blue trên hệ máy Game Boy. Tuy những đường nét còn sơ khai nhưng đã chinh phục được hàng triệu con tim của khách hàng. Phải nói rằng tuy hệ thống chiêu thức và chất lượng hình ảnh chưa cao nhưng đã đặt nền móng cho những bước tiến triển vượt bậc của Pokémon.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Satoshi Tajiri là người chịu trách nhiệm về Pokémon. Theo lời đồn đại thì ông ta luôn thích - à không, đúng hơn là luôn yêu - các trò chơi video game. Ngay cả khi còn học đại học, ông đã khởi đầu sự nghiệp với tạp chí Game Freak (Người hâm mộ game).

Hãy nhìn ra mặt sau của hộp kín Pokémon hay những sách hướng dẫn và chỉ cần lướt qua bất cứ điều gì có liên quan đến Pokémon thì bạn sẽ thấy cái tên Game Freak.

Ông Tajiri trở nên nổi tiếng khắp Nhật Bản với tư cách là một chuyên gia về trò chơi video game. Ông xuất hiện trên truyền hình và đài phát thanh để nói chuyện về các trò chơi video game. Chẳng mấy chốc, ông đã tạo ra các trò chơi của riêng mình. Năm 1987, ông đã thiết kế trò chơi "Quinty" cho Hệ thống Giải trí Nitendo (gọi tắt là NES). Sau đó, ông và nhóm của mình tại tạp chí Game Freak đã thiết kế ra một bộ trò chơi khác mà một số chỉ có bán tại Nhật. Một trong số đó là "Mario và Wario" dành cho hệ thống Nitendo. Một trò chơi khác gọi là "Trứng của Yoshi" (Yoshi's Egg) được bán ra tại Mỹ cho hệ thống Game Boy.

Sau đó vào năm 1990, ông bắt đầu tạo ra Pokémon cùng với công ty Creatures. Phải mất một thời gian dài để sáng tác Pokémon (đến 6 năm) nhưng những gì mà Pokémon đã mang lại thì có thể coi là "cũng đáng bỏ công".

Theo các ghi chép về Pokémon, ông Tajiri giống như một đứa trẻ, rất thích sưu tầm những loài côn trùng. Đây vẫn còn là một sở thích phổ biến của trẻ em và người lớn Nhật Bản. Loài côn trùng được yêu thích nhất khi sưu tập được gọi là con bọ vừng. Những người sưu tập con bọ vừng ở Nhật Bản không đính chúng trên bảng như bạn thường thấy trong những bộ sưu tập bướm trong các viện bảo tàng. Họ sưu tập những con bọ sống - và nuôi chúng lớn như các con vật cưng, cũng như bạn nuôi chó hay mèo vậy.

  • Một vài thống kê về Pokémon:
- Trong 24 tháng đầu tiên sau khi Pokémon ra đời ở Mỹ, hãng Nintendo của Mỹ đã bán được khoảng 20 triệu trò chơi Pokémon cho hệ máy Game Boy ColorNitendo 64
- Pokémon đã từng đứng thứ 6 trong top những trò chơi bán chạy nhất năm 2000.
- Vào tháng 2 năm 2000, gần 27 triệu trò chơi Pokémon được bán ra ở nước Mỹ và hơn 74 triệu trò chơi Pokémon được bán ra trên khắp thế giới.
- Vào năm 2010, 2 trò chơi Pokémon là Pokémon HeartGold và Pokémon SoulSilver được công nhận là những game hay nhất trên hệ Nintendo DS, chỉ xếp sau New Super Mario Bros.

Game[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại của game Pokémon là nhập vai/phiêu lưu, 2 game đầu tiên trong thể loại này là Pokémon RedPokémon Blue, được chơi trên hệ máy Gameboy. Dần dần, dựa vào hai game này, nhà sản xuất cho ra thêm nhiều game khác cũng có cách chơi tương tự nhưng với hình ảnh, màu sắc và âm thanh ngày càng sắc nét hơn.

Danh sách các game Pokémon thuộc thể loại chính (RPG) đến hiện tại:

  • GEN I:
  • GEN II:
    • Pokémon Gold hệ Game Boy Color, phát hành 1999.
    • Pokémon Silver hệ Game Boy Color, phát hành 1999.
    • Pokémon Crystal hệ Game Boy Color, phát hành 2000.
  • GEN III:
    • Pokémon Ruby hệ Game Boy Advance, phát hành 2002.
    • Pokémon Sapphire hệ Game Boy Advance, phát hành 2002.
    • Pokémon FireRed hệ Game Boy Advance, phát hành 2004.
    • Pokémon LeafGreen hệ Game Boy Advance, phát hành 2004.
    • Pokémon Emerald hệ Game Boy Advance, phát hành 2005.
  • GEN IV:
    • Pokémon Diamond hệ Nintendo DS, phát hành 2006.
    • Pokémon Pearl hệ Nintendo DS, phát hành 2006.
    • Pokémon Battle Revolution hệ Nintendo Wii, phát hành 2007.
    • Pokémon Platinum hệ Nintendo DS, phát hành 2008.
    • Pokémon HeartGold hệ Nintendo DS, phát hành 2009.
    • Pokémon SoulSilver hệ Nintendo DS, phát hành 2009.
  • GEN V:
    • Pokémon Black hệ Nintendo DS, phát hành 2010-2011.
    • Pokémon White hệ Nintendo DS, phát hành 2010-2011.
    • Pokemon Black 2 hệ Nintendo DS/3DS, phát hành 2012.
    • Pokemon White 2 hệ Nintendo DS/3DS, phát hành 2012.
  • GEN VI:
    • Pokemon X hệ Nintendo 3DS, phát hành 2013.
    • Pokemon Y hệ Nintendo 3DS, phát hành 2013.
    • Pokemon Omega Ruby hệ Nintendo 3DS, phát hành 2014.
    • Pokemon Alpha Sapphire hệ Nintendo 3DS, phát hành 2014.

Ngoài các game thuộc thể loại chính, nhà sản xuất còn cho ra nhiều game với phong cách chơi hoàn toàn khác:

  • GEN I:
    • Pokemon Puzzle League.
    • Pokemon Snap.
    • Pokemon TGC.
    • Pokemon Pinbal.
  • GEN II:
    • Pokemon Stadium 2.
    • Pokemon Puzzle Challenge.
    • Pokemon mini.
  • GEN III:
    • Pokemon Colosseum.
    • Pokemon Channel.
    • Pokemon Dash.
    • Pokemon XD: Gale of Darkness.
    • Pokemon Ranger.
    • Pokemon Pinball Ruby Sapphire.
    • Pokemon Trozei.
    • Pokemon Mystery Dungeon: Red/ Blue rescue team.
  • GEN IV:
    • Pokemon Rumble.
    • Pokemon Ranger: Guardian Signs.
    • Pokepark Wii: Pikachu's great adventure.
    • Pokemon battle revolution.
    • Pokemon Mystery Dungeon: Explorers of Time/ Darkness/ Sky; Blazing, Stormy & Light/Red Recuse Team(GBA)Adventure Squard.
    • Pokemon Battrio.

Chuyển thể khác[sửa | sửa mã nguồn]

Phim hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ash Ketchum[sửa | sửa mã nguồn]
Bài chi tiết: Satoshi

Ash Ketchum (サトシ Satoshi?) là nhân vật chính của sê-ri phim hoạt hình, bên cạnh cậu luôn là chú Pokémon điện nhỏ màu vàng Pikachu. Ash đã đi đến các vùng đất trong vương quốc Pokémon (Kanto, Orange Islands, Johto, Hoenn, Sinnoh, Unova, Kalos) để thi đấu và thu phục các Pokémon mới. Ước mơ của cậu là trở thành bậc thầy huấn luyện Pokémon.

Những người bạn của Ash[sửa | sửa mã nguồn]
  • Brock (タケシ Takeshi?): Có mặt ở season 1 - 13, trừ season 2. Là Gym Leader của thành phố Pewter. Cũng là một tay đầu bếp giàu kinh nghiệm. Rất mê gái, đặc biệt hễ thấy cô nào trẻ đẹp là buông lời tán tỉnh và hậu quả là luôn bị véo tai bởi Misty hay Max, hay chiêu thức Poison Jab của Croagunk.
Bài chi tiết: Takeshi (Pokemon)
  • Misty (カスミ Kasumi?): Có mặt ở season 1 - 5. Sở thích của cô là các Pokémon hệ nước. Rất sợ các Pokémon hệ côn trùng.
Bài chi tiết: Kasumi (Pokémon)
  • Tracey (ケンジ Kenji?): Có mặt ở season 2. Hiện đang giúp việc nghiên cứu của giáo sư Oak tại phòng thí nghiệm.
  • May (ハルカ Haruka?): Có mặt ở season 6 - 10. Mục tiêu của cô là các cuộc thi Pokémon Contest.
  • Max (マサト Masato?): Có mặt ở season 6 - 10. Cậu là em trai của May, không phải là nhà huấn luyện Pokémon. Tuy vậy cậu ấy rất thích Pokemon.
  • Dawn (ヒカリ Hikari?): Có mặt ở season 10 - 13. Là cô bé tròn mười tuổi, muốn được trở thành điều phối viên hàng đầu giống như mẹ. Con Buneary của cô ấy rất thích Pikachu.
  • Cilan (デント Dent?): Có mặt ở season 14 - 17. Là một Gym Leader tài ba và rất giỏi nấu nướng. Cậu ấy có rất nhiều sở thích khác nhau và hay phô trương.
  • Iris: Có mặt ở season 14 - 17. Sở thích của cô ấy là Pokemon hệ rồng và rất am hiểu về chúng.
  • Serena, Clemont, Bonnie: Có mặt ở season 18.

Pokémon của Ash[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng Kanto:

  • Pikachu: Thu phục ở tập 1. Là Pokémon đầu tiên, cũng là bạn đồng hành của Ash trong suốt cuộc hành trình. Nó không thích bị nhốt trong quả cầu Pokémon và cũng từ chối tiến hóa.
  • Caterpie: Thu phục ở tập 3. Tiến hóa thành Metapod ở tập 3. Tiến hóa thành Butterfree ở tập 4. Chia tay ở tập 21. Là Pokémon đầu tiên Ash bắt được, nó rất thích Misty và nhanh chóng tiến hóa và xuất hiện trong những trận đấu đầu tiên của Ash. Ash đã thả nó về với bầy đàn và nó đã kết đôi cùng với một con Butterfree màu hồng. Ash chưa từng gặp lại nó sau khi chia tay.
  • Pidgeotto: Thu phục ở tập 3. Tiến hóa thành Pidgeot ở tập 83. Chia tay ở tập 83. Nó thường được dùng để tìm kiếm các Pokémon thất lạc. Ash đã để nó lại ở một khu rừng để bảo vệ đàn Pidgeotto và Pidgey. Ash hứa sẽ quay lại gặp nó sau khi xong việc ở quần đảo Orange nhưng chưa bao giờ thực hiện lời hứa đó.
  • Bulbasaur: Thu phục ở tập 10. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 227. Là Pokémon theo Ash lâu nhất sau Pikachu, nó không muốn tiến hóa dù có cơ hội được tiến hóa cùng bầy đàn.
  • Charmander: Thu phục ở tập 11. Tiến hóa thành Charmeleon ở tập 43. Tiến hóa thành Charizard ở tập 46. Chia tay ở tập 136. Được Ash cứu sau khi bị chủ cũ bỏ rơi. Tuy nhiên sau khi tiến hóa nó đã không chịu nghe lời Ash do nghĩ rằng cậu không đủ đẳng cấp để ra lệnh nó. Nó đã chịu nghe lời Ash sau khi được cậu cứu. Ash đã để nó ở lại núi Hỏa Long tập luyện, thỉnh thoảng nó có bay đến giúp cậu đánh một vài trận quan trọng.
  • Squirtle: Thu phục ở tập 12. Chia tay ở tập 149. Là thủ lĩnh quân đoàn rùa Squirtle Squad phá phách. Nó đã giúp Ash dành nhiều chiến thắng quan trọng. Ash đã để nó trở về lãnh đạo quân đoàn rùa Squirtle, thỉnh thoảng có gặp lại để giúp Ash đánh một số trận đánh quan trọng.Đã có lần gặp lại nó.
  • Krabby: Thu phục ở tập 13. Tiến hóa thành Kingler ở tập 77. Sau khi bắt nó ở bãi biển, nó đã bị trả về phòng thí nghiệm giáo sư Oak ngay lập tức do Ash đã mang theo đủ 6 Pokémon. Nó đã giúp Ash chiến thắng tuyệt đối ở vòng loại Indigo Plateau.
  • Primeape: Thu phục ở tập 25. Chia tay ở tập 29. Lúc đầu nó rất ghét Ash nhưng sau khi thấy được tình thương Ash dành cho mình, nó đã mến cậu. Tuy nhiên Ash đã để nó lại cho một nhà huấn luyện khác để rèn luyện tài năng đấm đánh của nó. Sau đó Ash chưa bao giờ gặp lại nó.
  • Muk: Thu phục ở tập 30. Sau khi thu phục cậu đã gửi nó về phòng thí nghiệm giáo sư Oak. Nó thường xuyên xuất hiện bên cạnh giáo sư Oak khi Ash gọi điện về, nó đã giúp Ash chiến đấu ở Indigo Plateau.
  • Tauros: Thu phục ở tập 35. Ash đã thu phục được 30 con Tauros ở khu rừng Safari và gửi về cho giáo sư Oak. Thỉnh thoảng cậu nhờ đến sự trợ giúp của nó trong một vài cuộc thi.

Vùng Orange Islands:

  • Lapras: Thu phục ở tập 86. Chia tay ở tập 115. Nó bị lạc khỏi bầy đàn và sau khi được Ash cứu, nó đã đi theo giúp cậu trong suốt cuộc hành trình ở quần đảo Orange. Ash đã chia tay sau khi nó gặp lại bầy đàn. Có một lần gặp lại nó.
  • Snorlax: Thu phục ở tập 96. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 113. Là một Pokémon mạnh mẽ nhưng nó thường ngủ hơn là chiến đấu.

Vùng Johto:

  • Heracross: Thu phục ở tập 121. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 148. Là một Pokémon mạnh mẽ mà Ash thu phục đầu tiên trong hành trình Johto, nó thích hút mật từ củ trên lưng Bulbasaur. Tuy không đi chung với Ash lâu nhưng cậu thường gọi nó đến để đánh những trận lớn.
  • Chikorita: Thu phục ở tập 128. Tiến hóa thành Bayleef ở tập 201. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Là một Pokémon hiếu thắng, nó thích làm nũng với Ash và hay ganh tị với Pikachu, cũng là Pokémon giống cái đầu tiên của Ash.
  • Cyndaquil: Thu phục ở tập 143. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Tiến hóa thành Quilava ở tập 651. Là một Pokémon hiền lành, lúc đầu nó không thể kiểm soát được khả năng chiến đấu nhưng Ash đã giúp nó.
  • Totodile: Thu phục ở tập 153. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Ash và Misty đã đấu một trận để dành quyền sở hữu. Nó là một Pokémon vui tính, lúc nào cũng thích nhảy nhót và mê gái.
  • Noctowl: Thu phục ở tập 156. Để lại ở phòng thí nghiệm giáo sư Oak ở tập 276. Là một Pokémon khá thông minh, con Noctowl của Ash có màu lông khác với đồng loại.
  • Phanphy: Nở từ trứng ở tập 232. Tiến hóa thành Donphan ở tập 431.

Vùng Hoenn:

  • Taillow: Thu phục ở tập 280. Tiến hóa thành Swellow ở tập 356.
  • Treecko: Thu phục ở tập 283. Tiến hóa thành Grovyle ở tập 342. Tiến hóa thành Sceptile ở tập 438.
  • Corphish: Thu phục ở tập 299.
  • Torkoal: Thu phục ở tập 334.Nó thể hiện cảm xúc rất tự nhiên.
  • Snorunt: Thu phục ở tập 385. Tiến hóa thành Glalie ở tập 400. Trước khi tiến hóa nó rất nghịch ngợm.
  • Aipom: Thu phục ở tập 459. Trao đổi với Dawn ở tập 524. Là một Pokémon giống cái, tính tình nghịch ngợm, hay ganh tị, nó thích thi Pokémon contest hơn là thi đấu Pokémon nên Ash đã trao đổi nó với Dawn.

Vùng Sinnoh:

  • Starly: Thu phục ở tập 471. Tiến hóa thành Staravia ở tập 482. Tiến hóa thành Staraptor ở tập 587. Thường dùng để tìm kiếm các Pokémon khác.
  • Turtwig: Thu phục ở tập 474. Tiến hóa thành Grotle ở tập 569. Tiến hóa thành Torterra ở tập 635. Tính tình hiền lành, rất sốc khi mất tốc độ của mình sau khi tiến hóa.
  • Chimchar: Thu phục ở tập 521. Tiến hóa thành Monferno ở tập 601. Tiến hóa thành Infernape ở tập 632. Đã từng bị chủ nó bỏ rơi, sau đó đi theo Ash. Thường mất kiểm soát khi dùng Blaze.
  • Buizel: Trao đổi với Dawn ở tập 524.
  • Gligar: Thu phục ở tập 533. Tiến hóa thành Gliscor ở tập 554. Chia tay ở tập 623.
  • Gible: Thu phục ở tập 626. Nó thích cắn đầu Ash.

Vùng Isshu:

  • Pidove: Thu phục ở tập 662. Tiến hóa thành Tranquil ở tập 682. Tiến hóa thành Unfezant ở tập 730. Là Pokémon giống cái thứ 3 mà Ash có, tuy nhiên Ash không biết điều đó cho đến khi nó giúp cậu thu phục được Snivy.
  • Oshawott: Thu phục ở tập 663. Là một trong 3 Pokémon ở phòng thí nghiệm dành tặng cho những nhà huấn luyện mới, tuy nhiên nó đã tự nguyện đi theo Ash. Khi tức giận nó hay ném vỏ sò của mình xuống đất rồi nhặt lên lại.Rất mê gái,tham ăn và nhát gan nhưng đôi lúc lại rất dũng cảm.Oshawott luôn muốn được Ash chọn để thi đấu.
  • Tepig: Thu phục ở tập 664. Nó đã bị nhà huấn luyện cũ bỏ rơi và trở thành Pokémon hoang dã, và đã tự nguyện đi theo Ash sau khi cậu giải cứu nó. Tiến hóa thành Pignite ở tập 730.Đã gặp lại chủ cũ của mình và đã chứng tỏ rằng mình không hề yếu đuối như chủ nó nghĩ.
  • Snivy: Thu phục ở tập 667. Là một Pokémon giống cái có đẳng cấp cao. Nó đã từ bỏ nhà huấn luyện cũ vì cho rằng không xứng đáng, nó đã chịu để Ash thu phục sau khi chứng kiến tình cảm của Ash dành cho Pokémon của mình.
  • Scraggy: Nở từ trứng ở tập 677. Là một Pokémon khá lưu manh, nó gặp ai cũng muốn đánh, sau khi được Ash cứu thì nó chịu nghe lời hơn. Rất thích chơi với Axew.
  • Sewaddle: Thu phục ở tập 678. Tiến hóa thành Swadloon ở tập 685. Là một Pokémon thích chiến đấu, nó tình nguyện đi theo Ash sau khi được cậu cứu. Tiến hóa thành Leavanny ở tập 736
  • Palpitoad: Thu phục ở tập 695. Là một Pokémon mạnh mẽ, biết nhiều chiêu thức tấn công.Trước khi được Ash thu phuc thì nó rất thân với một con Stunfisk (sau đó là Pokemon của Cilan)
  • Roggenrola: Thu phục ở tập 697. Nó đi theo Ash sau khi được cậu cứu khỏi đội Hỏa tiễn và tập huấn. Tiến hóa thành Boldore ở tập 723.
  • Sandile: Xuất hiện ở tập 663. Tiến hóa thành Krokorok ở tập 680. Thu phục ở tập 727. Tiến hóa thành Krookodile ở tập 754. Là Pokémon đầu đàn ở khu nghỉ mát suối nước nóng, vì muốn chiến đấu với Pikachu của Ash nên nó đã đi theo sau nhóm Ash. Tính tình rất nhút nhát mỗi khi bị mất đôi mắt kính râm.

Truyện tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều bộ truyện tranh và phim hoạt hình phỏng theo loại game nổi tiếng này. Thịnh hành nhất là bộ truyện Pokémon Đặc biệt (tên tiếng Nhật là Pocket Monster Special và tên tiếng Anh là Pokémon Adventures) và bộ phim Pokémon đang ăn khách trên VCDDVD. Bộ truyện tranh Pokémon Adventures dựa vào bản game chứ không phải phim hoạt hình, với các vùng đất được lấy từ game, tên các nhân vật chính cũng là tên các bản game, bộ truyện này không có một nhân vật chính xuyên suốt, nó được chia ra làm nhiều phần nhỏ, mỗi phần ở một vùng đất khác nhau và với một nhân vật trung tâm khác nhau nhưng tất cả các phần đều có mối liên quan chặt chẽ, cho đến nay đã có truyện đã có 12 phần.

  • Phần 1: RED, GREEN & BLUE
  • Phần 2: YELLOW
  • Phần 3: GOLD, SILVER & CRYSTAL. Phần này lại được chia làm ba phần nhỏ:
1. Gold, Silver:
2. Crystal:
3. Gold, Silver, Crystal:
  • Phần 4: RUBY & SAPPHIRE
  • Phần 5: FIRERED & LEAFGREEN
  • Phần 6: EMERALD
  • Phần 7: DIAMOND & PEARL
  • Phần 8: PLATINUM
  • Phần 9: HEARTGOLD & SOULSILVER
  • Phần 10: BLACK & WHITE
  • Phần 11: "BLACK2 & WHITE2"
  • Phần 12: "X & Y"

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi năm ra mắt một tập phim chủ đề riêng với phiên bản gốc tiếng Nhật

  1. Pokémon: The first Movie (1998)
  2. Pokémon: Sự bùng nổ của Lugia huyền thoại (1999)
  3. Pokémon: Hoàng đế của tháp pha lê Entei (2000)
  4. Pokémon: Celebi và Cuộc gặp gỡ vượt thời gian (2001)
  5. Pokémon: Thần hộ mệnh của thành phố nước Latias và Latios (2002)
  6. Pokémon: Bảy đêm cùng ngôi sao ước nguyện Jirachi (2003)
  7. Pokémon: Deoxys kẻ phá vỡ bầu trời (2004)
  8. Pokémon: Mew Và Người hùng của ngọn sóng Lucario (2005)
  9. Pokémon: Ngôi đền đại dương (2006)
  10. Pokémon: Cuộc đối đầu giữa Dialga với Palkia và Darkrai (2007)
  11. Pokémon: Giratina và Bông hoa của bầu trời (2008)
  12. Pokémon: Arceus chinh phục khoảng không thời gian (2009)
  13. Pokémon: Zoroark: Bá chủ của ảo ảnh (2010)
  14. Phim điện ảnh Pokémon: Victini và Người hùng bóng tối Reshiram (2011)
  15. Pokémon: Kyurem với thánh kiếm sĩ Keldeo (2012)
  16. Phim điện ảnh Pokémon: Genesect and the Legend Awakened (2013)
  17. "Pokémon: Diancie and the Cocoon of Destruction" (2014)

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Phim được chiếu vào thứ 7 và chủ nhật hàng tuần trên kênh HTV3 bắt đầu từ ngày 25 tháng 1, 2014 và bắt đầu từ Hành trình chinh phục vùng đất Ishuu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]