Leona Lewis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Leona Lewis
Leona Lewis 2009 American Music Awards cropped.jpg
Leona Lewis at the 2009 American Music Awards
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Leona Louise Lewis
Sinh 3 tháng 4, 1985 (29 tuổi)
Islington, London, England
Nghề nghiệp Singer–songwriter
Thể loại pop, R&B
Năm 2006-nay
Hãng đĩa Syco, J
Website www.leonalewismusic.co.uk

Leona Lewis sinh ngày 3 tháng 4 năm 1985 tại Luân Đôn, Anh. Cô là một ca sĩ kiêm sáng tác nhạc đang rất thành công với ca khúc "Bleeding Love" (xếp hạng nhất tại nhiều bảng xếp hạng trong đó có cả bảng xếp hạng tại Anh và Mỹ).

Leona Lewis sở hữu chất giọng nữ trầm và nữ cao. Cô có thể hát rất khoẻ ở những nốt cao. Âm vực của cô vào khoảng 3,2 octaves (3 quãng 8 và 2 nốt), nốt thấp nhất của cô là D3 và cao nhất là Eb6. Với chất giọng khoẻ, to, trầm, âm vực rộng, Leona có thể sánh với các nữ ca sĩ khác của nền âm nhạc Mỹ như: Kelly Clarkson, Beyonce Knowles...

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Leona Lewis tên thật là Leona Louise Lewis, sinh ngày 03-04-1985 tại quận Islington, thủ đô Luân Đôn, nước Anh. Niềm đam mê âm nhạc đến với Leona Lewis khi chỉ mới lên 5. Lúc 12 tuổi, cô đã bắt đầu tập tành sáng tác những bài hát đầu tiên. Một năm sau, Leona Lewis chiến thắng tại show diễn Lady D ở Hackey Empire - một cuộc thi tài năng dành cho các teen dưới 18 tuổi. Năm 2004, cô lại giành giải cao nhất tại cuộc thi tài năng Yates’s Wannabe Talent Contest khi hát bài tình ca nổi tiếng của Mariah Carey "Always Be My Baby".

Nếu như ai đã được dịp chứng kiến cũng như nghe Leona Lewis hát sẽ hoàn toàn đồng ý với những lời khen tặng dành cho cô. Với giọng hát thiên phú, việc Leona Lewis trở thành một diva mới của nước Anh cũng như của cả thế giới chỉ còn là vấn đề thời gian.

Cuộc sống của Leona Lewis có nét gì đó giống như thần tượng âm nhạc đầu tiên của Mỹ - Kelly Clarkson. Cũng xuất thân từ gia đình bình dân, Leona Lewis phải trải qua nhiều công việc khác nhau để mưu sinh sau khi tốt nghiệp trung học. Cô từng làm phục vụ bàn trong tiệm bánh pizza và làm tiếp tân tại ga ra. Tuy cuộc sống không khá giả, nhưng Leona Lewis vẫn luôn nuôi dưỡng niềm đam mê âm nhạc. Cô tiếp tục sáng tác và thu âm những bài hát của mình. Album mà Leona Lewis đã ghi âm mang tên "Twilight" nhưng chưa bao giờ được phát hành. Nghĩ rằng sự nghiệp ca hát sẽ không đi đến đâu, Leona Lewis quyết định từ bỏ giữa chừng. Cho tới khi người bạn trai của cô, Lou Al-Chamaa, thuyết phục và động viên cô thử vận may với The X Factor 2006 thì tài năng của cô mới được biết đến. Chính tại đây Leona Lewis đã cho cả thế giới chứng kiến một giọng ca đẳng cấp có thể sánh ngang với những tên tuổi lớn của làng nhạc quốc tế.

Cuộc thi X-factor[sửa | sửa mã nguồn]

Tham gia thử giọng trong vòng sơ loại của xê ri truyền hình The X Factor 2006 với bài hát "Over The Rainbow", Leona Lewis đã chinh phục hoàn toàn ban giám khảo của cuộc thi. Sở hữu giọng hát vừa ngọt ngào mà cao vút và lảnh lót, Leona Lewis được so sánh với những diva hàng đầu như Mariah Carey, Celine Dion hay Christina Aguilera. Những màn trình diễn của cô tại cuộc thi đã khiến cả ba vị giám khảo Simon Cowell, Louis Walsh, Sharon Osbourne phải ngạc nhiên và bất ngờ khi đánh giá tài năng của Leona Lewis đã vượt ra khỏi khuôn khổ của nước Anh, đạt tầm vóc của một ca sĩ nổi tiếng thế giới. Ca sĩ Gary Barlow trong nhóm nhạc lừng danh Take That cũng cho rằng "Cô gái này có lẽ còn hát hay gấp 50 lần so với các thí sinh khác, thậm chí có thể thu âm ngay với cô ấy cũng được". Chính khả năng vượt trội của Leona Lewis mà cô đã dễ dàng chiến thắng The X Factor 2006 với 60% lượng phiếu bầu cho cô trong tổng số 8 triệu lượt bình chọn lúc đó.

Đĩa đơn đầu tay[sửa | sửa mã nguồn]

Single đầu tay của Leona Lewis chính là bài hát mà Kelly Clarkson đã trình bày trước đó mang tên "A Moment Like This". Ca khúc này đã chứng minh Leona Lewis hoàn toàn xứng đáng với những lời tán dương dành cho cô khi nó trở thành single thành công vượt bậc. Ngay khi chưa được phát hành và cũng chưa biết được hãng đĩa nào sẽ tung ra single này nhưng nó đã nhận được lên đến 1 triệu lượt người đặt mua. "A Moment Like This" được phát hành ngày 20-12-2006, bốn ngày sau khi Leona Lewis đăng quang tại The X Factor và giành được hợp đồng thu âm trị giá 1triệu bảng Anh. Nhưng trước đó nó đã lập nên một kỷ lục thế giới khi được download đến 50.000 lượt chỉ trong vòng nửa giờ đồng hồ vào đêm 17-12-2006. Đêm Noel 24-12-2006, single này trở thành ca khúc số 1 của mùa giáng sinh tại Anh và vượt qua mặt single "Patience" được yêu thích của Take That khi tiêu thụ được 571.253 bản, nhiều hơn cả những single bán chạy trong Top 40 cộng lại. Nó cũng trở thành ca khúc được download nhiều nhất trong năm 2006 hơn cả bài hit "Crazy" được đề cử Grammy của nhóm Gnarls Barkley. "A Moment Like This" xếp vị trí số 1 liên tục bốn tuần trên UK chart và 6 tuần liên tiếp trên Irish Singles chart, để rồi sau đó con số bán ra của ca khúc này lên đến 1 triệu bản.

Album Spirit[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25-04-2007, Simon Cowell cùng Clive Davis, chủ tịch của hãng thu âm Arista Records, đã mở một cuộc họp báo để công bố phát hành album đầu tay của Leona Lewis mà trước đó hãng này đã ký một hợp đồng thu âm với cô trị giá 5 triệu bảng Anh (tương đương 9.7 triệu USD) vào tháng 02-2007. Davis chính là người làm nên thành công cho Whitney Houston và hứa hẹn cũng sẽ thành công với cô ca sĩ trẻ này. Album chưa được đặt tựa và sẽ hoàn tất vào tháng 09-2007 nhưng phải đến 05-11-2007 mới được phát hành tại Anh và tung ra ở Mỹ đầu năm 2008. Trong album này, Leona Lewis cùng song ca với ngôi sao R&B của Mỹ Ne-Yo trong ca khúc "I’m You".

Single thứ hai trong sự nghiệp ca hát của Leona Lewis sẽ là single đầu tiên trong album mới, mang tên "Bleeding Love" - một bài hát được sáng tác và sản xuất bởi Ryan Tedder. Single này sẽ được phát hành ngày 22-10-2007 tại Anh. Leona Lewis cũng sẽ biểu diễn ca khúc "Bleeding Love" trong show đầu tiên của The X Factor 2007 để quảng bá cho album mới. Bài hát này cũng đã nhanh chóng chiếm được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng ở Ireland trong 8 tuần và tại bảng xếp hạng ở Anh trong 7 tuần liền. Bài hát này đã nhanh chóng trở thành bài hit tại nhiều quốc gia trên thế giới và chiếm được vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng của hơn 20 quốc gia khác

Cuối tháng 3/2008 bài hát này đã leo lên chiếm vị trí quán quân tại bảng xếp hạng United World (Tập hợp từ các bảng xếp hạng của nhiều quốc gia). Và đến đầu tháng 4/2008, "Bleeding love" đã làm nên lịch sử khi chiếm luôn cả vị trí số 1 trên Billboard Hot 100 của Mỹ để trở thành nữ ca sĩ đầu tiên của xứ sở sương mù thống trị bảng xếp hạng đĩa đơn ở Mỹ, kể từ thời ca khúc "You Keep me Hangin" của Kim Wilde lập được sau gần 21 năm. Ca khúc này được RIAA cerf 3x Plantinum và đứng thứ 2 ở Year End Chart 2008 sau Low của Florida.

Sau đó, Album đầu tay của Leona đã được phát hành ở Anh vào ngày 12/11/2007 và đã nhanh chóng đứng vị trí cao nhất sau 1 tuần phát hành tại Anh, và hiện nay đã bán được hơn 2,7 triệu bản tại đây và được chứng nhận 9x Plantinum tại Anh và 7x Platinum tại Irland. Sau đó, vào ngày 8/4/2008 Leona Lewis đã chính thức phát hành album Spirit tại xứ sở Mỹ - thị trường Âm Nhạc khó tính nhất thế giới. Thế nhưng ' điều kì diệu lại xảy đến với Leona ', Album của cô nhờ 1 phần là sức nóng của single Bleeding Love đang làm mưa làm gió trên Billboard HOT 100, nên Spirit đã đứng vị trí cao nhất cũng sau 1 tuần phát hành album với 205,000 bản copies và cũng được RIAA Cerf Plantinum tại Mỹ với lượng album xấp xỉ 1.5 triệu bản. Không chỉ ở Anh, Mỹ... album của cô cũng bán được khá nhiều ở khắp nơi trên thế giới. Hiện nay album đã bán được hơn 6 triệu bản trên toàn Thế Giới.

Vào ngày 7/3/2008, Leona đã phát hành single thứ 2 trích từ album Spirit: Better In Time và B-side là Footprints In The Sand. Đã đứng vị trí thứ 2 ở bảng xếp hạng UK. Và đây cũng là single thứ 2 của cô tại Mỹ, được phát hành ngày 15/7/2008 và single này chỉ đứng được ở vị trí cao nhất là 11, nhưng cũng đã bán được hơn 1 triệu bản tại Mỹ. Được RIAA cerf Plantinum

Ngày 3/11/2008, Leona đã phát hành single thứ 3, là 1 bản uptempo sôi động: Forgive Me tại UK và Europe. Mặc dù không gặt hái được nhiều thành công như 2 single trước nhưng Forgive Me cũng đã đứng thứ 5 tại UK và Irland và tạo được 1 sự mới mẻ đến với mọi người, khi mọi người luôn nghĩ: Leona chỉ chuyên trị Ballad.

Vào ngày 15/11/2008 tại X-factor lần 5 - nơi sản sinh ra nhiều thần tượng âm nhạc UK và đó cũng chính là nơi sản sinh ra Leona. Cô đã đến và biểu diễn ca khúc mới toanh 'Run' được cover lại từ ban nhạc Snow Patrol và đây được chọn là single thứ 3 của cô ở UK. Một màn trình diễn wá tuyệt vời, sau màn trình diễn ấy, người dân đã download lại bản orginal của Snow Patrol, khiến cho bài hát khá lâu đã quay trở lại hạng 5 trên BXH UK. Ngày 30/11, Ca khúc được phát hành ở định dạng số (Digital Download) ở UK, và chỉ sau 2 ngày nó đã bán được 69,244 bản, phá kỉ lục của Estelle với American Boy, bài hát này bán được hơn 50k bản nhưng với 1 tuần. Và dĩ nhiên, 'Run' đã tiến lên vị trí số 1 UK. Và bài hát này cũng đạt ví trí quán quân ở Irland, Áo. Khi release dưới dạng Single Mix ở US Itunes. Run cũng đã bán rất chạy ở US, và đã đứng hạng thứ 81 ở US, chỉ nhờ lượng Download.

Single thứ 3 của Leona ở US chính là: I Will Be. Được phát hành vào ngày 3/2/2009 cũng là ngày Release Spirit Deluxe Edition (US Ver). Thế nhưng hiện nay IWB vẫn chưa có bước tiến đáng kể trên Bảng xếp hạng ở Mỹ. Hiện đang đứng hạng 66 ở Billboard HOT 100 và 93 ở Billboard POP 100. Leona sẽ cần phải promo cho bài hát này.

Bảng xếp hạng Album[sửa | sửa mã nguồn]

Year Album details Peak chart positions Certifications
(sales thresholds)
UK
[1]
AUS
[2]
AUT
[3]
CAN
[4]
GER
[5]
IRE
[6]
NZ
[7]
SWE
[8]
SWI
[9]
US
[10]
2007 Spirit 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1
2009 Echo
  • Phát hành: 9 tháng 11 năm 2009
  • Nhãn đĩa: Syco (#88697570012)
  • Định dạng:: CD, tải nhạc số
1 31 8 16 12 2 26 19 3 13

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Peak chart positions Certifications Album
UK
[1]
AUS
[2]
AUT
[3]
CAN
[24]
GER
[5]
IRL
[6]
NZ
[7]
SWE
[8]
US
[25]
EU
[26]
2006 "A Moment Like This" 1 1 3 Spirit
2007 "Bleeding Love" 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1
2008 "Footprints in the Sand"1 2 50 73
"Better in Time"1 6 3 9 2 4 6 5 11 6
"Forgive Me" 5 49 15 15 5 7 11
"Run" 1 78 1 13 15 1 13 6
2009 "I Will Be" 83 66
"Happy" 2 26 2 15 3 3 20 11 31 3 Echo
2010 "I Got You" 14 30 43 43 29 43
"—" denotes did not chart, or was not released.

Cùng các ca sĩ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Peak chart positions
UK
AUS
[2]
AUT
[3]
CAN
GER
IRL
[6]
NZ
[7]
SWE
[8]
US
2008 "Just Stand Up!"
(as part of Artists Stand Up to Cancer)
26
[30]
39 73 10
[31]
11 19 51 11
[32]
2010 "Everybody Hurts"
(as part of Helping Haiti)
1
[33]
28
[34]
23
[34]
59
[35]
16
[36]
1
[37]
17
[34]
21
[34]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Chart Stats - Leona Lewis”. Chart Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  2. ^ a ă â “Discography Leona Lewis - Australia”. australian-charts.com. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  3. ^ a ă â “Discographie Leona Lewis - Austria”. austriancharts.at. Truy cập 17 tháng 9 năm 2009. 
  4. ^ “Leona Lewis Chart History - Canadian Albums”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  5. ^ a ă “Chartverfolgung / Lewis,Leona” (bằng tiếng Đức). musicline.de. Truy cập 24 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ a ă â “Discography Leona Lewis - Ireland”. irish-charts.com. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  7. ^ a ă â “Discography Leona Lewis - New Zealand”. charts.org.nz. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  8. ^ a ă â “Discography Leona Lewis - Sweden”. swedishcharts.com. Truy cập 26 tháng 8 năm 2009. 
  9. ^ “Discographie Leona Lewis”. hitparade.ch. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  10. ^ “Leona Lewis Chart History - Billboard 200”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  11. ^ a ă â b c d đ “Certified Awards Search”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ “ARIA Accreditations - 2008 Albums”. Australian Recording Industry Association. Truy cập 26 tháng 8 năm 2009. 
  13. ^ “Gold & Platin (enter "Leona Lewis" in "Interpret" field”. International Federation of the Phonographic Industry Austria. Truy cập 17 tháng 9 năm 2009. 
  14. ^ “Gold & Platinum Certification”. Canadian Recording Industry Association. Truy cập 29 tháng 8 năm 2009. 
  15. ^ “Gold-/Platin-Datenbank”. MusikIndustrie.de. Truy cập 6 tháng 11 năm 2009. 
  16. ^ “Platinum 2008”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập 26 tháng 8 năm 2009. 
  17. ^ Combined certifications for:
  18. ^ “År 2008” (PDF). International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập 15 tháng 11 năm 2009. 
  19. ^ “Edelmetall 2009”. HitParade.ch. Hung Medien. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  20. ^ a ă â “Gold & Platinum database: Leona Lewis”. Recording Industry Association of America. Truy cập 12 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ a ă http://www.cria.ca/goldplat.php
  22. ^ http://hitparade.ch/weekchart.asp?year=2010&date=20100103&cat=a
  23. ^ 2009 certified awards (Ireland) truy cập: 2010-05-21.
  24. ^ “Leona Lewis Chart History - Canadian Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009. 
  25. ^ “Leona Lewis Chart History - Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  26. ^ “Leona Lewis Chart History - European Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 24 tháng 8 năm 2009. 
  27. ^ a ă “ARIA Accreditations - 2008 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập 29 tháng 8 năm 2009. 
  28. ^ look at 5.05.08 for the New Zealand certifcation
  29. ^ http://archive.is/20110824195845/www.radioscope.net.nz/index.php?option=com_content&task=view&id=77&Itemid=61
  30. ^ “Chart Stats - Artists Stand Up To Cancer - Just Stand Up!”. Chart Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2012. Truy cập 25 tháng 8 năm 2009. 
  31. ^ “Canadian Hot 100 - Week 38 2008”. aCharts.us. Truy cập 27 tháng 8 năm 2009. 
  32. ^ Cohen, Johnathan (11 tháng 9 năm 2008). “T.I.'s 'Like' Starts Third Week Atop Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập 27 tháng 8 năm 2009. 
  33. ^ “Chart Stats - Helping Haiti - Everybody Hurts”. Chart Stats. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  34. ^ a ă â b “Helping Haiti - Everybody Hurts”. Australian-Charts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  35. ^ “Canadian Hot 100”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  36. ^ “Chartverfolgung - Helping Haiti - Everybody Hurts” (bằng tiếng Đức). Musicline.de. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  37. ^ “Discography Helping Haiti”. IrishCharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]