Robert De Niro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Robert De Niro
Robert De Niro TFF 2011 Shankbone.JPG
Robert De Niro, 2011
Tên khai sinh Robert Mario De Niro, Jr.
Sinh 17 tháng 8, 1943 (70 tuổi)
Flag of the United States.svg Thành phố New York, New York, Hoa Kỳ
Hôn nhân Diahnne Abbott (1976-1988)
Grace Hightower (1997-)

Robert Mario De Niro, Jr. (sinh ngày 17 tháng 8 năm 1943) thường được biết đến với tên Robert De Niro là một diễn viên, đạo diễnnhà sản xuất phim nổi tiếng của điện ảnh Mỹ, người đã từng đoạt giải Oscar cho cả hai hạng mục vai chínhvai phụ.

Robert De Niro được nhớ tới nhất với những vai diễn phản diện xuất sắc trong các bộ phim của Brian De PalmaMartin Scorsese. Các bộ phim đáng chú ý có sự góp mặt của De Niro có thể kể tới Bố già phần II (The Godfather Part II), The Deer Hunter, Taxi DriverRaging Bull.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Robert Mario De Niro, Jr. sinh ngày 17 tháng 8 năm 1943 tại thành phố New York trong một gia đình nghệ sĩ, bố ông là Robert De Niro, Sr., một họa sĩ và nhà điêu khắc, còn mẹ, bà Virginia Admiral cũng là một họa sĩ[1]. Ông bà của Robert De Niro, Sr. là những người Ý di cư gốc ở Ferrazzano, tỉnh Campobasso thuộc Molise miền Trung nước Ý[2]. Bố mẹ De Niro gặp nhau tại một lớp học vẽ của Hans HofmannProvincetown, Massachusetts, họ ly dị khi cậu bé Robert mới lên 2.

De Niro lớn lên ở khu Little Italy (khu Tiểu Ý) của Manhattan. Cậu được mẹ ghi danh vào trường phổ thông nghệ thuật High School of Music and ArtNew York nhưng bỏ học khi mới 13 tuổi để gia nhập những băng đảng đường phố ở khu Tiểu Ý. Sau đó De Niro quay trở lại con đường nghệ thuật khi đăng ký vào trường kịch nghệ của Stella Adler cũng như hội nghệ sĩ Actor's Studio do Lee Strasberg đứng đầu. Ở tuổi 16 cậu có vai diễn đầu tiên trong vở kịch Con gấu của Anton Chekhov.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1963, ở tuổi 20, De Niro có vai diễn điện ảnh đầu tiên khi đạo diễn nổi tiếng Brian De Palma chọn De Niro vào bộ phim The Wedding Party, tác phẩm này mãi đến năm 1969 mới được phát hành. Trong suốt thập niên 1960 Robert dành phần lớn thời gian tham gia sân khấu kịch và chỉ tham gia một số bộ phim như Trois chambres à Manhattan (1965, phim Pháp, De Niro chỉ đóng vai quần chúng) và Greetings (1968, một tác phẩm khác của De Palma).

Vai diễn điện ảnh đáng chú ý đầu tiên của De Niro là vai một vận động viên bóng chày trong Bang the Drum Slowly (1973). Cùng năm này, De Niro cũng bắt đầu mối hợp tác lâu dài và thành công với đạo diễn Martin Scorsese khi tham gia bộ phim Mean Streets của đạo diễn này. Năm 1974 Robert De Niro có vai diễn bước ngoặt, đó là vai "Bố già" Don Vito Corleone thời trẻ trong bộ phim Bố già phần II (The Godfather Part II) của Francis Ford Coppola. Vai diễn này đã mang về cho De Niro Giải Oscar đầu tiên khi ông được trao giải Vai nam phụ xuất sắc nhất năm 1975, 2 năm sau khi Marlon Brando được trao giải Vai nam chính xuất sắc nhất cũng nhờ chính vai diễn Vito Corleone này trong Bố già (The Godfather). Brando và De Niro sau này đã cùng đòng chung trong bộ phim The Score (2001).

Martin Scorsese có lẽ là đạo diễn hợp tác thành công nhất với Robert De Niro. Sau Mean Streets, De Niro còn tham gia rất nhiều phim của Scorsese, trong đó phần lớn Robert thủ vai nhân vật phản diện như Taxi Driver (1976), New York, New York (1977), Raging Bull (1980), The King of Comedy (1983), Goodfellas (1990), Cape Fear (1991) và Casino (1995). Riêng vai diễn ấn tượng Travis Bickle trong Taxi Driver đã giúp Robert De Niro có được đề cử Oscar đầu tiên cho hạng mục vai chính.

Năm 1978, De Niro vào vai Michael Vronsky trong bộ phim về đề tài Chiến tranh Việt Nam The Deer Hunter. Vai diễn này đã mang về cho Robert một đề cử nữa cho Giải Oscar Nam diễn viên chính.

Giai đoạn sau[sửa | sửa mã nguồn]

De Niro năm 1988

Robert De Niro nổi tiếng là người đầu tư kỹ lưỡng cho vai diễn. Để vào vai tay đấm Jake LaMotta trong bộ phim Raging Bull (1980) của Martin Scorsese, Robert đã phải tăng 27 kg và học cách đấm bốc thực sự. Chính nhờ sự chuẩn bị tốt và diễn xuất mẫu mực trong vai này mà Robert De Niro đã được trao tượng vàng Oscar ở hạng mục Nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Trước đó để vào vai Vito Corleone, De Niro đã sang Sicila sống một thời gian và cũng để trải nghiệm nhân vật trong Taxi Driver, ông đã dành hẳn 3 tháng để làm tài xế taxi thực sự.

Sau khi đạt được các thành công với những vai phản diện, Robert De Niro thử nghiệm khả năng diễn xuất trong thể loại hài và ông cũng thành công với các bộ phim như Midnight Run (1988), Showtime (2002), Meet the Parents (2000) và Meet the Fockers (2004). Cũng trong năm 2004, De Niro lần đầu tiên tham gia vai trò lồng tiếng cho một bộ phim hoạt hình, đó là vai cá mập Don Lino trong Câu chuyện cá mập (Shark Tale).

Năm 1995 De Niro tham gia bộ phim của đạo diễn Michael Mann Heat. Đây là lần đầu tiên ông diễn chung với Al Pacino, cũng là một ngôi sao nổi tiếng trong các vai phản diện hay trùm băng đảng. De Niro và Al Pacino đã từng cùng tham gia bộ phim Bố già phần II nhưng do một người thủ vai Vito Corleone thời trẻ, một người thủ vai Michael Corleone vì vậy hai người chưa hề cùng xuất hiện trong một cảnh quay.

Năm 2006 De Niro đã phải từ chối vai Oliver Queenan trong Điệp vụ Boston (The Departed) của đạo diễn quen thuộc Scorsese vì bận chuẩn bị cho bộ phim The Good Shepherd do chính Robert đạo diễn (Martin Sheen là diễn viên thay thế). Robert De Niro đã tỏ ý rất tiếc vì đã bỏ lỡ vai diễn này[3]

Thử nghiệm trong vai trò đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1993 De Niro đạo diễn bộ phim đầu tay có tên A Bronx Tale. Kịch bản phim do Chazz Palminteri thực hiện viết về thời niên thiếu ngỗ nghịch của chính tác giả ở khu Bronx. De Niro đã đồng ý đạo diễn A Bronx Tale sau khi xem vở kịch do một mình Chazz thủ vai. Trong tác phẩm đầu tay này Robert vào vai một tài xế xe buýt phải tìm cách tách đứa con trai ra khỏi tầm ảnh hưởng của tay anh chị địa phương, Sonny, do Palminteri đóng.

Mãi đến năm 2006 De Niro mới đạo diễn bộ phim thứ hai, The Good Shepherd với sự tham gia của hai ngôi sao Matt DamonAngelina Jolie. The Good Shepherd khắc họa lại sự ra đời của CIA, trong đó Damon vào vai một nhân viên phản gián hàng đầu trong thời gian Thế chiến thứ haiChiến tranh lạnh. De Niro cũng góp mặt trong một vai nhỏ, đó là vai tướng Bill Sullivan, người đã tuyển mộ nhân vật của Damon vào thế giới phản gián.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Robert De Niro cưới người vợ đầu, nữ diễn viên Diahnne Abbott, năm 1976, hai người có một con chung là Raphael, De Niro cũng nhận nuôi con gái riêng của Abbott là Drena. Robert còn có hai đứa con sinh đôi (bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm), Julian Henry và Aaron Kendrick, với người bạn gái lâu năm Toukie Smith.

Sau khi ly dị Diahnne năm 1988, đến năm 1997, De Niro cưới người vợ thứ hai, Grace Hightower, một cựu tiếp viên hàng không, đứa con đầu tiên của hai người, Elliot, sinh năm 1998.

Tháng 2 năm 1998, trong khi đang quay một bộ phim ở Pháp, De Niro bị cảnh sát bắt giữ để hỏi cung trong 9 tiếng liền, sau đó ông còn bị quan tòa tra hỏi vì sự dính líu đến một đường dây mại dâm. Diễn viên Mỹ đã bác bỏ mọi cáo buộc của các nhà chức trách[4] và tuyên bố trong cuộc phỏng vấn với báo Le Monde rằng mình sẽ không bao giờ quay trở lại nước Pháp và sẽ trả lại huân chương Bắc đẩu Bội tinh cho đại sứ Pháp. Giới chức Pháp sau đó đã giải thích rằng họ gọi De Niro ra tòa vì ông là một nhân chứng quan trọng, chứ không phải nghi can. Năm 2003, Robert De Niro đã cùng đạo diễn Woody Allen, nhạc sĩ nhạc Jazz Wynton Marsalis và nhà văn George Plimpton tham gia một chuyến quảng bá du lịch cho nước Pháp để phản ứng lại trào lưu chống Pháp khi đó ở Mỹ do sự kiện Cuộc xâm lược Iraq năm 2003.

Năm 2003, De Niro đã phải trị liệu ung thư tiền liệt tuyến. Cha của De Niro, ông De Niro Sr. cũng đã qua đời năm 1993 vì bệnh ung thư ở tuổi 71.

Ngày 21 tháng 10 năm 2006, Robert De Niro đã được trao chứng nhận Công dân danh dự của Ý tại lễ trao giải của Liên hoan phim Roma.

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai diễn Ghi chú
1965 Three Rooms in Manhattan Vai quần chúng
1968 Greetings Jon Rubin
1969 Sam's Song Sam
1969 The Wedding Party Cecil Quay từ năm 1963
1970 Bloody Mama Ma Barker
1970 Hi, Mom! Jon Rubin
1971 Jennifer on My Mind Mardigian
1971 Born to Win Danny
1971 The Gang That Couldn't Shoot Straight Mario Trantino
1973 Bang the Drum Slowly Bruce Pearson
1973 Mean Streets John 'Johnny Boy' Civello
1974 Bố già phần II
(The Godfather Part II)
Vito Corleone Giành Giải Oscar Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất
1976 Taxi Driver Travis Bickle Đề cử Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1976 1900 Alfredo Berlinghieri
1976 The Last Tycoon Monroe Stahr
1977 New York, New York Jimmy Doyle
1978 The Deer Hunter Michael Vronsky Đề cử Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1979 The Swap Sam Nicoletti
1980 Raging Bull Jake La Motta Giành Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1981 True Confessions Des Spellacy
1983 The King of Comedy Rupert Pupkin
1984 C'era una volta in America David 'Noodles' Aaronson
1984 Falling in Love Frank Raftis
1985 Brazil Archibald 'Harry' Tuttle
1986 The Mission Rodrigo Mendoza
1987 Angel Heart Louis Cypher
1987 The Untouchables Al Capone
1988 Midnight Run Jack Walsh
1989 Jacknife Joseph 'Jacknife' Megessey
1989 We're No Angels Ned
1990 Stanley and Iris Stanley Everett Cox
1990 Goodfellas Jimmy Conway
1990 Awakenings Leonard Lowe Đề cử Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1991 Guilty by Suspicion David Merrill
1991 Backdraft Donald 'Shadow' Rimgale
1991 Cape Fear Max Cady Đề cử Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
1992 Mistress Evan M. Wright
1992 Night and the City Harry Fabian
1993 A Bronx Tale Lorenzo Anello Kiêm đạo diễn
1993 Mad Dog and Glory Wayne 'Mad Dog' Dobie
1993 This Boy's Life Dwight Hansen
1994 Mary Shelley's Frankenstein Frankenstein
1995 Casino Frank Rosenthal
1995 Heat Neil McCauley
1995 A Hundred and One Nights Người chồng
1996 The Fan Gil Renard
1996 Sleepers Father Bobby
1996 Marvin's Room Dr. Wally
1997 Cop Land Moe Tilden
1997 Jackie Brown Louis Gara
1997 Wag the Dog Conrad Brean
1998 Great Expectations Arthur Lustig
1998 Ronin Sam
1999 Analyze This Paul Vitti
1999 Flawless Walt Koontz
2000 The Adventures of Rocky and Bullwinkle Fearless Leader
2000 Men of Honor Chief Leslie W. 'Billy' Sunday
2000 Meet the Parents Jack Byrnes
2001 15 Minutes Detective Eddie Flemming
2001 Siêu trộm so tài (The Score) Nick Wells
2002 Showtime Mitch Preston
2002 City by the Sea Vincent LaMarca
2002 Analyze That Paul Vitti
2004 Godsend Richard Wells
2004 Câu chuyện cá mập
(Shark Tale)
Don Lino Lồng tiếng
2004 Meet the Fockers Jack Byrnes
2004 The Bridge of San Luis Rey Tổng giám mục Peru
2005 Hide and Seek David Callaway
2006 The Good Shepherd Bill Sullivan Kiêm đạo diễn
2007 Stardust Thuyền trưởng Shakespeare

|[2010] || " Little Fockers" || Jack Byrnes||

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải Oscar[sửa | sửa mã nguồn]

Giải BAFTA[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đề cử: Diễn viên mới xuất sắc nhất, Bố già phần II (1974)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, Taxi Driver (1976)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, The Deer Hunter (1980)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, Raging Bull (1982)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, The King of Comedy (1984)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất, Goodfellas (1991)

Giải Quả cầu vàng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, Taxi Driver (1976)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim hài hoặc phim ca nhạc, New York, New York (1978)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, The Deer Hunter (1979)
  • Giành giải: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, Raging Bull (1981)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim hài hoặc phim ca nhạc, Midnight Run (1989)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim chính kịch, Cape Fear (1991)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim hài hoặc phim ca nhạc, Analyze This (2000)
  • Đề cử: Nam diễn viên chính xuất sắc nhất - Phim hài hoặc phim ca nhạc, Meet the Parents (2001)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tiểu sử Robert De Niro, Filmreference.com
  2. ^ Những người Molise nổi tiếng
  3. ^ Jamie Graham, The Total Film Interview, Total Film, tháng 3 năm 2007
  4. ^ De Niro furious over French grilling, BBC News

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]