Céline Dion
| Céline Dion | |
|---|---|
Céline Dion (tháng 11 năm 2012) |
|
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Tên khai sinh | Céline Marie Claudette Dion |
| Sinh | 30 tháng 3 năm 1968 (44 tuổi) |
| Nguyên quán | |
| Nghề nghiệp | Ca sĩ,[1] nhạc sĩ-sáng tác nhạc,[2] diễn viên[3] |
| Thể loại | Pop, dance, R&B, pop rock, soft rock, adult đương đại |
| Nhạc cụ | Giọng hát |
| Năm | 1980–nay |
| Hãng đĩa | Sony Music Canada, Epic, 550, Columbia |
| Website | celinedion.com |
Céline Marie Claudette Dion (Phát âm tiếng Pháp: [selin djɔ̃]); sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) là một ca sĩ người Canada. Được sinh ra từ một gia đình đông đúc tại Charlemagne ở tỉnh Québec,[4] Dion đã nổi lên trở thành một ngôi sao tuổi teen trong cộng đồng Pháp sau khi quản lý của cô, đồng thời là người chồng tương lai René Angélil cho vay nhà của anh ta để có tiền cung cấp cho đĩa nhạc đầu tiên của Dion.[5] Năm 1990, cô phát hành album tiếng Anh mang tựa đề Unison, giúp cô trở thành ngôi sao nhạc pop tại vùng đất Bắc Mỹ và các vùng nói tiếng Anh khác trên thế giới.[6]
Dion lần đầu được biết đến trên toàn cầu vào thập niên 1980 khi cô thắng cả hai giải World Popular Song Festival của Yamaha năm 1982 và Eurovision Song Contest năm 1988.[7][8] Sau một loạt album tiếng Pháp trong thập niên 1980, cô kí kết với hãng đĩa CBS Records Canada năm 1986. Xuyên suốt thập niên 1990, với sự giúp đỡ của Angélil, danh tiếng của cô lan rộng toàn cầu sau khi kí kết với hãng đĩa Epic Records và phát hành một vài album tiếng Anh cùng với các album tiếng Pháp, trở thành một trong những ngôi sao nhạc pop thành công nhất trong lịch sử âm nhạc.[9][10] Tuy nhiên, vào năm 1999, khi danh tiếng của cô đạt đến đỉnh cao, Dion thông báo sẽ nghỉ công tác trong ngành giải trí một thời gian và thu xếp công việc gia đình và giành thời gian chăm sóc người chồng đang bị chuẩn đoán căn bệnh ung thư của Dion.[10][11] Cô trở lại với ngành âm nhạc năm 2002 và kí kết hợp đồng 3 năm (sau này kéo dài tới 5 năm) biểu diễn hằng đêm trong chương trình âm nhạc tại Caesars Palace, Paradise, Nevada.[12][13][14]
Các ấn phẩm nhạc của Dion chịu ảnh hưởng của nhiều dòng nhạc, từ rock, R&B tới gospel và cổ điển. Chúng thường nhận được các ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc, và giọng ca của Dion được ca ngợi là điêu luyện và mạnh mẽ.[15][16][17] Dion cũng là nghệ sĩ người Canada có doanh số đĩa nhạc lớn nhất,[18][19] là nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn thứ hai tại Mỹ trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan,[20] và là nữ nghệ sĩ duy nhất có hai đĩa đơn tiêu thụ hơn 1 triệu bản tại Liên hiệp Anh.[21] Ngoài ra, album tiếng Pháp năm 1995 của cô mang tựa đề D'eux là album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại.[22] Năm 2004, sau khi đạt mốc 175 triệu bản album được bán ra, cô được trao Giải Chopard Diamond tại Giải Âm nhạc Thế giới cho việc trở thành nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn nhất mọi thời đại.[23][24] Theo Hãng Giải trí Sony, Dion đã bán được 200 triệu bản album trên toàn thế giới.[25]
Mục lục |
Tiểu sử [sửa]
1968-89: Thời thơ ấu và bắt đầu sự nghiệp [sửa]
Céline Dion sinh ra tại Charlemagne, Québec, Canada, trong một gia đình gồm 14 anh chị em và là con út. Cha mẹ của Dion là Adhémar Dion và Thérèse Tanguay, cả hai đều là người Pháp-Canada. Cô lớn lên trong gia đình nghèo theo Thiên Chúa giáo La Mã, tuy nhiên cô vẫn sống vui vẻ với gia đình tại Québec.[10][26] Âm nhạc luôn là một phần không thể thiếu trong gia đình của cô (tên của Céline Dion được đặt tên theo bài hát Céline, được thu âm bởi ca sĩ người Pháp Hugues Aufray hai năm trước khi cô ra đời).[27] Vào ngày 13 tháng 8 năm 1973 (lúc này Dion đã được 5 tuổi), Céline lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng khi biểu diễn bài hát của Christine Charbonneau tại đám cưới của anh trai Michel,[28] Du fil des aiguilles et du coton.[29] Sau đó, cô cùng các anh chị ruột ca hát tại quầy piano của cha mẹ được gọi là Le Vieux Baril. Ngay từ lúc còn nhỏ, Dion đã mong muốn trở thành một người trình diễn.[30] Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí People năm 1994, cô đã nói: "Tôi rất nhớ nhà và gia đình, tuy nhiên tôi không hề tiếc nuối tuổi xuân của tôi. Tôi chỉ có một ước mơ: Đó là trở thành ca sĩ nổi tiếng".[31]
Năm 12 tuổi, Dion cùng mẹ và anh trai Jacques sáng tác ca khúc đầu tay của cô, "Ce n'était qu'un rêve" ("Chỉ là một Giấc mơ").[26] Anh trai Michel gửi bản thu âm tới giám đốc âm nhạc René Angélil, tên của ông ấy được tìm thấy sau bìa album Ginette Reno.[5] Angélil đã thật sự xúc động khi nghe ca khúc đó của Dion, và quyết định giúp cho cô ấy trở thành một ngôi sao.[26] Năm 1981, ông thế chấp ngôi nhà của ông và tạo nên quỹ để thành lập nên album đầu tiên của Dion, La voix du bon Dieu ("Giọng nói của Chúa nhân từ"), và sau đó trở thành đĩa nhạc nổi tiếng trong địa phương và giúp Dion trở thành một ngôi sao tại tỉnh Québec. Năm 1982, độ nổi tiếng của cô lan rộng ra thế giới khi cô tham gia vào Cuộc thi Yamaha World Popular Song Festival tại Tokyo, Nhật Bản, và thắng ở hạng mục "Trình diễn tốt nhất" và huy chương vàng cho hạng mục "Bài hát tốt nhất" với ca khúc "Tellement j'ai d'amour pour toi" ("Em Yêu Anh Rất nhiều").[5]
Năm 1983, ngoài việc trở thành nghệ sĩ Canada đầu tiên được cấp chứng nhận vàng tại Pháp cho đĩa nhạc "D'amour ou d'amitié", Dion cũng giành được một vài Giải Felix, bao gồm hạng mục "Trình diễn nữ xuất sắc nhất" và "Khám phá của năm".[5][32] Thành công của cô vang dội ra cả Châu Á, Châu Âu và Úc khi Dion đại diện cho đoàn Thụy Sĩ trong cuộc thi Eurovision Song Contest năm 1988 với bài hát "Ne partez pas sans moi" ("Đừng Rời đi mà Không có Em") và chiến thắng tại Dublin, Ireland.[33] Tuy nhiên, danh tiếng của cô tại Mỹ chưa nổi cho lắm, một phần có lẽ là vì Dion là ca sĩ nói tiếng Pháp.[34] Ở tuổi 18, sau khi xem màn trình diễn của Michael Jackson, Dion nói với Angélil rằng cô muốn trở thành một ngôi sao lớn giống như Michael.[35] Mặc dù tự tin với tài năng của Dion, Angélil nhận ra rằng hình ảnh của cô cần phải lan rộng ra thị trường âm nhạc thế giới.[26] Dion tạm thời không ca hát trong một vài tháng, trong lúc phẫu thuật thẩm mỹ để cải thiện ngoại hình, và được gửi tới École Berlitz để cải thiện việc nói tiếng Anh của cô.[6]
1990-95: Những thành công lớn đầu tiên [sửa]
Hai năm sau khi hoàn tất việc học tiếng Anh, Céline Dion ra mắt album phòng thu đầu tay trên thị trường nói tiếng Anh có tên Unison vào năm 1990.[5] Cô đã được trợ giúp bởi sự hợp tác của các nhạc sĩ đi trước, gồm có Vito Luprano và nhà sản xuất nhạc người Canada David Foster.[36] Phần lớn album chịu ảnh hưởng của dòng nhạc soft rock thập niên 1980 vốn phù hợp với trên các đài phát adult đương đại. Unison chủ yếu nhận được các đánh giá tích cực từ phía phê bình âm nhạc.[37][38] Nhìn chung, album là một thành công khá lớn của Dion, đạt vị trí thứ 18 ở Canada, thứ 74 ở Mỹ và đã tiêu thụ hơn 3 triệu bản toàn thế giới.[39][40] Có năm đĩa đơn trích từ album, trong đó đĩa hát "Where Does My Heart Beat Now" là bài hát xếp hạng cao nhất từ Unison, đạt vị trí thứ 4 tại Mỹ và thứ 6 tại Canada.
|
|
Một đoạn nhạc mẫu dài 30 giây của "The Power of Love" (1993). Bài hát mang thể loại pop rock này đã quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ trong 4 tuần cùng nhiều quốc gia khác toàn cầu.
|
| Trục trặc khi nghe bản này? Xem hướng dẫn. | |
Năm 1991, Dion được chọn làm một trong những người hát chính trong ca khúc "Voices That Care" để tôn vinh quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Céline Dion thực sự trở nên nổi tiếng toàn cầu khi cô cùng với Peabo Bryson thu âm bài hát "Beauty and the Beast" cho bộ phim Người đẹp và quái vật (1991) của hãng Walt Disney.[41] Bài hát mang tính chất uyển chuyển, cổ điển với những nhạc cụ nhẹ nhàng mà sau này Céline hay thực hiện những ca khúc có tính chất như thế. "Beauty and the Beast" đã giúp Dion giành được một giải Oscar cho Bài hát xuất sắc nhất và một giải Grammy cho Trình diễn giọng pop theo cặp song ca xuất sắc nhất.[15] Sau này, bài hát có mặt trong album mang chính tên cô phát hành năm 1992. Giống với Unison, Celine Dion có giai điệu của tình yêu và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ dòng nhạc rock kết hợp với soul và cổ điển. Đĩa đơn xếp hạng cao nhất từ album là "If You Asked Me To", một bản cover lại của nữ diva Patti LaBelle, xếp hạng thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Cũng trong khoảng thời gian này, Céline tiếp tục phát hành album tiếng Pháp mới có tên Dion chante Plamodon (Dion hát những bản nhạc Plamodon) vào năm 1991.
Các album Unison, Celine Dion cùng những xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đã giúp Dion trở thành một ngôi sao lớn ở vùng Bắc Mỹ. Cô đã đạt được mục đích là dấn thân vào thị trường nói tiếng Anh và gặt hái thành công.[41] Tuy nhiên, khi Dion đang hưởng những thành công mà cô đạt được ở Bắc Mỹ, những người hâm mộ của cô ở Canada đã chỉ trích Dion vì bỏ qua họ.[15][42] Sau đó, cô đã lấy lại được niềm tin của những người hâm mộ tại lễ trao giải Félix. Tại đó, mặc dù Dion đã thắng giải cho hạng mục "Nghệ sĩ người Anh của năm", cô đã từ chối nhận giải. Céline khẳng định cô đã–và sẽ luôn luôn–là nghệ sĩ người Pháp, không phải người Anh.[6][43] Trong thời gian này, quản lý René Angélil, vốn già hơn Dion 26 tuổi, nảy sinh mối quan hệ tình cảm với cô. Mối quan hệ này đã được họ giữ bí mật vì Dion lo rằng những người hâm mộ của cô sẽ phản đối.[44]
Năm 1993, Céline Dion thông báo rằng sẽ đặt tình cảm của cô với quản lý trong album tiếng Anh thứ ba có tên The Colour of My Love. Những người hâm mộ của Dion đã ủng hộ đôi uyên ương, trái ngược với lo sợ họ sẽ phản đối như Dion đã từng nghĩ.[15] Sau đó, Angélil cùng Céline đã tổ chức một đám cưới xa hoa lộng lẫy, và được truyền hình trực tiếp trên đài phát thanh Canada.
The Colour of My Love có ca từ chủ yếu tập trung về tình yêu.[45] Vào thời điểm đó, album là đĩa nhạc thành công nhất trên thị trường, tiêu thụ trên 6 triệu bản ở Mỹ, 2 triệu bản ở Canada và quán quân bảng xếp hạng của nhiều quốc gia toàn cầu. Đĩa đơn "The Power of Love" (vốn là của nữ ca sĩ Jennifer Rush năm 1985) được Céline Dion cover lại, trở thành đĩa quán quân đầu tiên của cô tại Mỹ, Canada cũng như Úc. The Colour of My Love cũng trở thành album rất thành công ở châu Âu, quán quân tại nhiều quốc gia trong khu vực bao gồm cả Liên hiệp Anh. Đĩa đơn "Think Twice" cũng tiêu thụ trên một triệu bản sao ở Liên hiệp Anh.[46] Ngoài những thành công của các ấn hành nhạc tiếng Anh, Céline Dion còn tiếp tục phát hành những album tiếng Pháp. Năm 1994, Dion phát hành À l'Olympia, bao gồm các phần trình diễn của Dion tại Paris Olympia. Một năm sau, cô tiếp tục phát hành album D'eux trở nên thành công vang dội, với hơn 10 triệu bản sao tiêu thụ toàn thế giới. D'eux đã trở thành album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại.[36] Năm 1996, Céline Dion chiến thắng một giải Âm nhạc Thế giới ở hạng mục "Nữ nghệ sĩ có số đĩa thu âm bán chạy nhất năm" cho những thành quả đã đạt được nhờ các album trước.[47]
Xem thêm [sửa]
Chú thích [sửa]
- ^ Britannica.com. Céline Dion. Truy cập 13 tháng 9, 2009.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tênevous.fr - ^ René Angélil: the making of Céline Dion : the unauthorized biography. Google Books. Truy cập 20 tháng 12, 2010
- ^ Glatzer, Jenna (2005). Celine Dion: For Keeps. Andrews McMeel Pub. tr. 13. ISBN 0-7407-5559-5. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011.
- ^ a b c d e Tóm tắt về Céline Dion. "Canoe Jam!". Truy cập 13 tháng 9, 2007.
- ^ a b c “Bách khoa toàn thư Canada”. Sự nghiệp Céline Dion. Truy cập 14 tháng 7, 2006.
- ^ Bliss, Karen. "25 Years of Canadian Artists." Canadian Musician. March 1, 2004, p. 34. ISSN: 07089635
- ^ “Eurovision Winners”. Baltics Worldwide. 2007. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2010. [liên kết hỏng]
- ^ Taylor, Chuck. "Epic/550's Dion offers Hits." Billboard. 6 tháng 9, 1999, p. 1.
- ^ a b c "The Ultimate Diva". CNN. 22 tháng 10, 2002. Truy cập 13 tháng 9, 2007.
- ^ Celine Dion. "Phỏng vấn với Celine Dion." Peter Nansbridge. The National. Cùng Alison Smith. CBC-TV. 28 tháng 3, 2002. Được dịch lại từ tiếng Pháp (bằng tiếng Anh).
- ^ Helligar, Jeremy. "Céline Dion livin' la vida Vegas!". Us. 31 tháng 3, 2003, Trang 56.
- ^ "Celine Dion Releases 1st CD Since 1997". Digital Journal. 15 tháng 4, 2002. Truy cập 12 tháng 10, 2009
- ^ Hilburn, Robert (12 tháng 10 năm 2009). “Pop Albums; Ashanti Displaces Dion at Top”. Los Angeles Times.
- ^ a b c d Alexander, Charles P. The Power of Celine Dion". Time. 7 tháng 3, 1994
- ^ Gardner, Elysa. "Review: Falling Into You". Los Angeles Times Los Angeles, Calif. 16 tháng 11, 1997, tr. 68
- ^ “Cove Magazine”. The 100 Outstanding Pop Vocalists. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2006.
- ^ "Dion Named All-time Best-selling Canadian Act". (2000-1-06). Allbusiness. Truy cập 12 tháng 10, 2009.
- ^ Learn, Josh. "High Fidelity: Top Selling Canadian Artists". The Brock Press. Truy cập 12 tháng 10, 2009.
- ^ Up for Discussion Jump to Forums. “The Emancipation of Mimi – Mariah Carey”. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
- ^ "Featured Artists Celine Dion". The Official Charts Company. Truy cập 3 tháng 10, 2010.
- ^ "The real Céline: Céline Dion’s new French album shows her personal side". CBC. 29 tháng 5, 2007. Truy cập 12 tháng 10, 2009.
- ^ "Celine Dion honoured by World Music Awards". Canada.com. Truy cập 1 tháng 12, 2010
- ^ "World Music Awards to honor Celine Dion". CTV News. Truy cập 1 tháng 12, 2010
- ^ “Q&A: 27 years into her career, Dion preps for next tour”. Reuters. 9 tháng 2, 2008. Truy cập 18 tháng 6, 2011.
- ^ a b c d Paula Zahn, Charles Molineaux, Gail O'Neill. "Profiles of Celine Dion, Enrique Iglesias, Moby". People in the News. 18 tháng 5, 2002. Bản dịch lại.
- ^ Germain, Georges-Herbert (1998). Céline: The Authorized Biography. translated by David Homel and Fred Reed. Dundurn Press. tr. 16. ISBN 1-55002-318-7.
- ^ "Portrait of a Star French Site, Céline Dion Biography, (Céline Dion, Du fil des aiguilles et du coton, a song by Christine Charbonneau)". Portrait Star. Truy cập 1 tháng 5 năm 2013
- ^ "Céline Dion. Ma vie, French Biography". Du fil des aiguilles et du coton, bởi Christine Charbonneau.
- ^ Alexander, Charles P. The Power of Celine Dion". Time. 7 tháng 3, 1994. Lưu trữ 7 tháng 4, 2008.
- ^ Sanz, Cynthia (13 tháng 6 năm 1994). “North Star”. People. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012.
- ^ "Celine Dion Biography." The Biography Channel. 13 tháng 9, 2007.
- ^ O'Connor, John Kennedy (2 tháng 4 năm 2007). The Eurovision Song Contest — The Official History. UK: Carlton Books. ISBN 978-1-84442-994-3..
- ^ Alexander, Charles P. "The Arts & Media/Music: At Age Five She Belted Out French pop tunes standing atop tables." Time International. 28 tháng 2, 1994. tr. 44.
- ^ Céline Dion provided by VH1.com . Truy cập 16 tháng 8, 2005.
- ^ a b Alexander, Charles P. The Power of Celine Dion". Time. 7 tháng 3, 1994.
- ^ “Review—Céline Dion Unison”. Entertainment Weekly. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2012.
- ^ “Allmusic”. Review—Céline Dion Unison. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2005.
- ^ “On This Day”. celinedion.com. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2010.
- ^ Lwin, Nanda (2003). Top Albums: The Essential Chart Guide. Music Data Research. ISBN 1-896594-14-X.
- ^ a b Bliss, Karen (1 tháng 3 năm 2004). “25 Years of Canadian Artists”. Canadian Musician. tr. 34. ISSN 0708-9635.
- ^ "Celine Dion." Newsmakers 1995, Ấn hành thứ 4. Gale Research, 1995.
- ^ “Céline Dion”. Céline Dion Biography. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2006.
- ^ "Celine Dion." Contemporary Musicians, Volume 25. Gale Group, 1999.
- ^ Celine Dion, The Colour of My Love. Plugged in. Truy cập 13 tháng 9, 2007.
- ^ “The Journey so Far”. Celinedion.com. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2005.
- ^ Jerome, Jim. "The Dream That Drives Her. (Singer Celine Dion) (Interview)." Ladies Home Journal. 1 tháng 11, 1997. 146(4).
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Céline Dion. |
| Wikiquote có sưu tập danh ngôn về: |
- Trang chính thức của Celine Dion
- CelineDionUSA.com — Official U.S. website.
- TeamCeline.com — Official Fan Club.
- YouTube
- AEG Live - A New Day — Official AEG site for A New Day...
- Celine Dion at Billboard.com
|
|||||||||||||||||||||||
