Shakira

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Shakira
Shakira2009.jpg
Shakira trong một sự kiện nhậm chức của Tổng thống Mỹ Barack Obama vào năm 2009.
Tên khai sinh Shakira Isabel Mebarak Ripoll
Sinh 2 tháng 2, 1977 (37 tuổi)
Nguyên quán Flag of Colombia.svg Barranquilla, Colombia
Nghề nghiệp ca sĩ, nhạc sĩ, vũ công, nhà sản xuất đĩa, diễn viên
Thể loại Pop, Latin, Rock, R&B, Dance
Nhạc cụ Giọng ca, ghi-ta, kèn harmonica, trống, bộ gõ
Năm 1991–nay
Hãng đĩa Sony Music Entertainment (1990-1996)
Columbia Records (1996-2000)
Epic Records (2000-nay)
Live Nation (2008-nay)
Sony Music Latinh
Hợp tác Alejandro Sanz, Gustavo Cerati, Santana, Wyclef Jean, Beyoncé, Freshlyground, Dizzee Rascal, Pitbull, Calle 13
Website Shakira.com

Shakira Isabel Mebarak Ripoll (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1977) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhạc công người Colombia, một trong những ca sĩ nhạc Rock thành công nhất thế giới. Cô bắt đầu nổi tiếng khi phát hành album phòng thu thứ 2 được mang tên ¿Dónde Están Los Ladrones?, gây chú ý đến giới chuyên môn âm nhạc và gặt hái được nhiều thành công bằng chứng là cô giành được đề cử trong lễ trao giải Grammy năm 1999 ở hạng mục Album Latin Rock xuất sắc nhất, đồng thời đó cũng là lần đề cử đầu tiên của cô. Sau khi giành được thành công đó cô cho ra đời live diễn đầu tiên của mình được gọi là MTV Unplugged và giành được giải Grammy đầu tiên của cô ở hạng mục Album Latin Pop xuất sắc nhất vào năm 2001. Với đà thành công, đó Shakira đã triển khai thực hiện album tiếng Anh được mang tên Laundry Service vào năm 2001, đã trở thành album bán chạy nhất của năm 2002 với số đĩa bán ra hơn 20 triệu đĩa và lọt vào top các Album bán chạy nhất của thế kỉ, album còn mang về cho Shakira 1 giải Latin Grammy ở hạng mục Video hình thái ngắn xuất sắc nhất cho ca khúc hits nhất trong album, Suerte (Whenever, Wherever). Tiếp tục sự nghiệp cô cho ra đời album tiếp theo mang tên Fijacion Orral Vol 1, đã gây sock đến giới chuyên môn và khán giả yêu nhạc, album đã thành công ngoài sức tưởng tượng, trở thành album thành công nhất trong năm 2006 được sánh ngang bằng với album The Emancipation of Mimi của nữ ca sĩ Mariah Carey, album đã mang về cho cô tổng cộng 32 giải thưởng trên 50 đề cử, trong đó có 1 giải Grammy ở hạng mục Album Latin Rock xuất sắc nhất, và 4 giải Latin Grammy bao gồm những mục quan trọng như: Album của năm, Thu âm của năm, Bài hát của năm, Album giọng Pop xuất sắc nhất. Tiếp nối thành công cô tiếng tục cho ra đời album tiếp theo được mang tên, Oral Fixation Vol. 2 mang về cho cô 1 đề cử giải Grammy ở hạng mục Hợp tác nhạc Pop xuất sắc nhất, và tiếp tục được đề cử hạng mục đó cho vào năm 2008 cho ca khúc Beautiful Liar hát chung với nữ ca sĩ nhạc R&B, Beyonce Knowles.Shakira trở lại âm nhạc vào năm 2009, với single She Wolf đã gây được sự chú ý của giới khán giả, mang về cho Shakira 2 đề cử giải MTV Europe Music Awards ở hạng mục Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhấtVideo xuất sắc nhất. Shakira hiện có các hits đứng hàng đầu thế giới như: Hips Don't Lie (hiện là ca khúc đình đám nhất hiện nay), Whenever, Wherever, Beautiful Liar, Underneath Your Clothes, Objection, She Wolf (một trong những ca khúc hot nhất của của năm 2009), La Tortura, Give Up To Me, Waka Waka (This Time for Africa).

Shakira đã từng giành 2 giải Grammy trên 5 lần đề cử và 7 giải Latin Grammy, 4 giải MTV Video Music Awards, 1 lần đề cử giải Quả Cầu Vàng và 17 giải Premios Lo Nuestro.

Shakira là người Colombia đầu tiên nhận được ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood. Shakira có số lượng đĩa bán ra 50 triệu đĩa cũng là nghệ sĩ một trong những nghệ sĩ có số lượng đĩa bán chạy nhất thế giới, hiện nay cô đang là người giữ kỉ lục của giải Latin Grammy về Nữ nghệ sĩ giành được nhiều giải nhất. Shakia còn được biết đến với chỉ số thông minh IQ rất cao, khoảng 140. Thậm chí, cô còn được mời thuyết giảng tại Đại học danh tiếng bậc nhất thế giới, Oxford.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thơ và khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Shakira sinh ra tại Barranquilla, Colombia. Mẹ cô là bà Nidia del Carmen Ripoll Torrado, người Colombia có nguồn gốc Tây Ban NhaÝ. Bố cô là ông William Mebarak Chadid, là người Mỹ và có nguồn gốc Ả Rập (Liban) và Macedonia.[1] Cô có 7 anh chị em, một trong số họ là người quản lí của cô. Shakira bắt đầu viết nhạc từ năm cô lên 8 tuổi. Một trong những ca khúc đầu tiên của cô có tên gọi Tus gafas oscuras/ Your dark glasses viết về nỗi đau khổ của cha cô khi phải chứng kiến một cậu con trai của ông chết trong một tai nạn xe hơi. Đến năm 10 tuổi, Shakira tham dự trong dàn hợp xướng của trường nhưng rốt cuộc không được chọn vì giọng của cô quá "mạnh mẽ". Cô từng bị bạn bè trêu chọc vì những âm thanh mà cô phát ra như “tiếng kêu”. Kết quả là Shakira buộc phải tìm kiếm những cơ hội theo đuổi sự nghiệp hát hò khác.

Trong những năm từ 10 đến 13 tuổi, Shakira được mời đến dự nhiều sự kiện lớn tại quê hương Barranquilla của cô và giành được nhiều cảm tình từ người dân nơi đây. Cũng trong thời gian này, cô gặp nhà sản xuất Monica Ariza - người có nhiều ảnh hưởng đến cô và giúp đỡ cô trong những ngày đầu lập nghiệp. Trong chuyến bay từ Barranquilla tới Bogotá, Ariza đã thuyết phục giám đốc Ciro Vargas của công ty Sony Colombia cho Shakira một cơ hội thử giọng trong một khách sạn. Vargas đã nâng đỡ Shakira rất nhiều. Ông nhận ra Shakira là một tài năng hiếm có và đã giúp cô có được 3 hợp đồng ghi album đầu tiên với hãng Sony.

Magia (Magic) là album đầu tay của Shakira ghi âm cùng với hãng Sony Colombia năm 1991 khi cô mới 15 tuổi. Sau “Magia”, Shakira cho ra đời album thứ 2 năm 1993 mang tên Peligro (Danger), nhưng vì số lượng đĩa tiêu thụ vô cùng nghèo nàn nên 2 album trên không còn tồn tại và không được công nhận là album phòng thu đầu tiên của cô.

1995-2000: Thành công tại Mỹ LatinTây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Shakira quay lại thu album thứ 3 của cô vào năm 1995. Album này mang tên Pies Descalzos (Bare Feet) đã mang về cho cô danh tiếng tại Châu Mĩ Latin và có số lượng đĩa bán ra hơn 7 triệu đĩa trên toàn thế giới. Các ca khúc “Estoy Aquí”; “Pies Descalzos, Suenos blancos” và “Dónde estás corazón?” đã trở thành ví dụ điển hình cho văn hoá nhạc Pop. Pies Descalzos bán được hơn 4 triệu bản. Chính thành công này đã khiến cô cho ra đời thêm album phối khí lại mang cái tên đơn giản là "The remixes", bán được hơn 1 triệu bản. Album này bao gồm cả phiên bản tiếng Bồ Đào Nha rất thành công tại thị trường Brasil.Vào năm 1997, Shakira giành được 3 giải Billboard Music Awards bao gồm: Album của năm cho "Pies Descalzos", Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất, Video của năm cho "Un Poco de Amor". do các thành công đó cô được công nhận là một trong những nghệ sĩ có triển vọng thành công lớn và tầm cỡ quốc tế.

Sự ra đời của Donde Estan Los Ladrones và MTV Unplugged[sửa | sửa mã nguồn]

Album thứ 4 của cô mang tên Donde estan los ladrones (Where are the thieves?) sản xuất năm 1998 do Emilio Estefan với chi phí 3 triệu đôla. Tuy nhiên cái giá đó không hề đắt vì chính album đó lại đem về cho cô 7 triệu đôla và kèm theo số lượng đĩa bán ra hơn 10 triệu đĩa, sau đó album được công nhận là album Latin bán chạy nhất của mọi thời đại. Cô bắt đầu tạo dựng tiếng tăm của mình tại các nước không sử dụng tiếng Tây Ban Nha như Pháp, Thụy Sĩ, Canada và đặc biệt là . 8 trong số 11 ca khúc của album được ghi lại dưới dạng đĩa đơn bao gồm "Ciega, Sordomuda"; "Moscas en la casa"; "No Creo"; "Inevitable"; "Tú"; "Si te vas"; "Octavo dia" và "Ojos asi". Vào năm 1999, Shakira rất vinh dự được đề cử giải Grammy cho Trình diễn nhạc Latin Rock xuất sắc nhất, nhưung giải thưởng đã thuộc về Maná, chứ không thuộc về cô.Đến năm 2000, Shakira giành được giải MTV Video Music Awards cho Nghệ sĩ người Mỹ Latin có Video được yêu thích nhất cho Ojos asi.

Cũng trong năm 1999, Sau khi được đề cử trong giải Grammy Award dành cho Trình diễn nhạc Latin Rock xuất sắc nhất" Shakira bắt đầu tiến hành thực hiện live show đầu tiên của cô. Sau khi diễn xong cô phát hành ra đĩa và bán ra hơn 5 triệu đĩa trên toàn thế giới. Vào năm 2001, Shakira đã xuất sắc vượt qua các nghệ sĩ như: Christina Aguilera, Oscar de la Hoya, Luis Miguel, Alejandro Sanz để chiến thắng giải Grammy cho Album Latin Pop xuất sắc nhất cho show diễn đầu tiên của cô MTV Unplugged và đồng thời cũng giành được 2 giải Latin Grammy cho Trình diễn giọng nữ Rock xuất sắc nhất cho ca khúc Octavo diaTrình diễn giọng nữ Pop xuất sắc nhất cho ca khúc Ojos Asi, còn đề cử danh giá Album của năm thì không giành được giải.

2001-2004: Thành công trên toàn thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Shakira với màn múa lắc hông trong video "Whenever, Wherever"

Năm 2001, được đà thắng lợi của album "Donde estan los ladrones?" và "MTV Unplugged", Shakira bắt đầu triển khai kế hoạch làm album bằng tiếng Anh. Hợp tác cùng Gloria Estefan, Shakira viết và ghi âm các phiên bản bằng tiếng Anh cho các ca khúc từ album trên. Đồng thời cô soạn thêm các ca khúc cho album mới Laundry Service. Cuối cùng với nhiều cố gắng, cô đã kí được hợp đồng với hãng Sony Music để phát hành album tiếp theo mang tên, Laundry Service, rất thành công trên bề mặt thương mại, album tiêu thụ hơn 20 triệu đĩa trên toàn thế giới, trở thành một trong những album bán chạy nhất của mọi thời đại, Laundry Service đã vị trí thứ 3 trên cả 2 bảng xếp hạng cả Anh và Mỹ, với bài hát hit Whenever, Wherever đã gây chấn động đến thế giới về mức độ thành công tầm cỡ quốc tế, ca khúc đã đứng đầu tất cả các bảng xếp hạng châu Âu và châu Mỹ và đứng nhất bảng xếp hạng billboard hot 100, kèm theo với số lượng bảng bán ra vượt mức khổng lồ với số đĩa hơn 10 triệu bản, trở thành bản đĩa đơn bán chạy nhất của mọi thời đại.

Vào năm 2002, Shakira giành được 1 giải Latin Grammy cho Video hình thái ngắn xuất sắc nhất nâng số giải của cô lên đến 3 giải và đồng thời cô cũng giành thêm giải MTV Video Music Awards thứ 2 của cô cho Nghệ sĩ người Mỹ Latin có Video được yêu thích nhất cho ca khúc Whenever, Wherever và 5 giải MTV Video Music Award bằng tiếng Latin bao gồm các mục: Nghệ sĩ của năm, Video của năm, Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất,Nghệ sĩ nhạc Pop xuất sắc nhất, Nghệ sĩ của vùng.

Shakira còn cho ra volume tiếng Tây Ban Nha "Grandes éxitos" gồm một DVD và 10 ca khúc biên soạn trong album "Live & Off the record". Cũng trong năm này, cô thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới "Tour of the Mongoose" kéo dài đến năm 2003. Tháng 9 năm 2002, Shakira giành giải khán giả quốc tế bình chọn tại lễ trao giải của MTV Video Music với video "Suerte". Năm 2002 có lẽ là năm chứng kiến nhiều sự kiện đáng nhớ của Shakira. Cô còn trình diễn ca khúc "Dude"/ "Looks Like A Lady" trong buổi lễ trao giải MTV của Aerosmith; cô cùng với Celine Dion, Anastacia, Cher và The Dixie Chicks trên "Divas" do kênh VH1 truyền hình trực tiếp tại Las Vegas.

Thành công ngoài sức tưởng tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2005, Shakira phát hành album Fijación Oral vol 1 tại Châu Âu, Bắc MĩÚc. Ca khúc dẫn đầu trong album này là "La Tortura"/ The Torture đứng đầu tại Tây Ban Nha và đứng thứ 23 trong top 100 của Billboard Hot 100. Bài hát này còn gặt hái thành công trên khắp thế giới. Album này còn mang về cho Shakira giải Grammy thứ 2 của cô dành cho Giải Grammy cho album Latin Rock xuất sắc nhất và album này còn mang về cho thêm 5 giải Latin Grammy trong đó có 4 mục quan trọng: Album của năm, Thu âm của năm, Bài hát của năm, Album giọng Pop xuất sắc nhất. Trước khi cho ra album thứ hai bằng tiếng Anh "Oral fixation vol. 2", cô xuất hiện trong lễ trao giải MTV Music Châu Âu và được đề cử cho giải nữ ca sĩ xuất sắc nhất. Cô khiến cho khán giả thậm chí cả các ngôi sao gạo cội trong làng âm nhạc phải ngạc nhiên khi cô qua mặt các nghệ sĩ tên tuổi quốc tế như Gwen Stefani. Sau khi giành được chiến thắng, cô cùng các vũ công trình bày luôn ca khúc đặc sắc nhất trong album này, "Don't Bother".

Shakira cùng Wyclef Jean trong video clip của ca khúc Hips Don't Lie

Album thứ hai bằng tiếng Anh của cô mang tên Oral fixation vol.2 được phát hành vào tháng 11 năm 2005 ở Bắc Mĩ và Úc. Album được bán ra hơn 8 triệu đĩa trên toàn thế giới, cũng là album bán chạy nhất trong năm 2006. Với thành công của ca khúc Hips Don't Lie đã đứng đầu tất cả các bảng xếp hạng ở các nước trong năm 2006 và càng được biết đến với phiên bản Bambo tại World Cup 2006, ca khúc trở thành một trong những bài hát được yêu thích nhất mọi thời đại vược kỉ lục guiness, Hips Don't Lie đứng vững trên bảng xếp hạng suốt 6 tháng liên tiếp, không có đối thủ vượt qua nổi, khi We Belong Together của Mariah Carey đứng ở vị trí thứ 2, Hips Don't Lie còn phá vỡ bảng xếp hạng Billboard Hot 100 đứng nhất bảng xếp hạng trong vòng 1 tháng. Với thành công kèm theo, bảng single tiêu thụ hơn 13 triệu bản trên toàn thế giới, trở thành một trong những bản single bán chạy nhát của mọi thời đại và trở thành ca khúc được yêu thích nhất trong năm 2006. Vào năm 2007,Shakira rất vinh dự được mời biểu diễn tại lễ trao giải Grammy 2007 ca khúc Hips Don't Lie, đồng thời ca khúc mang về cho Shakira đề cử giải Grammy thứ 4 của cô ở hạng mục Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất. Cũng trong năm này, Shakira cùng với Beyonce Knowles hợp tác song ca bài hát Beautiful Liar, ca khúc đã trở thành một trong những thành công vượt bậc trong làn âm nhạc và là ca khúc được yêu thích nhất trong năm 2008, chỉ sau ca khúc Umbrella củau Rihanna và Jay Z. Vào năm 2008, Shakira nhận được đề cử giải Grammy thứ 5 của mình ở đề mục Hợp tác giọng Pop xuất sắc nhất cho ca khúc Beautiful Liar. Tháng 4 năm 2006, Shakira được tôn vinh trong một lễ từ thiện do Liên hiệp quốc tổ chức vì những đóng góp của cô trong việc bảo vệ trẻ em Colombia khỏi bạo lực. Tại buổi lễ đó, cô phát biểu: "Sau khi các bạn rời khỏi đây, xin đừng quên ở Châu Mĩ Latin có 960 trẻ em đang chết dần chết mòn".

Sự trở lại với She Wolf[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 2009, Shakira cho ra đời đĩa đơn tiếp theo, She Wolf sau nhiều năm vắng mặt, ca khúc đã gây sốc đến giới chuyên môn và vô cùng ngạc nhiên khi cô thay đổi hoàn toàn phong cách lẫn khuôn mặt hiền hậu, She Wolf đang đứng đầu các bảng xếp hạng của Mỹ, Anh và đặc biệt là thành công vượt bậc ở Châu Âu, đĩa nhạc được các giới chuyên môn đánh giá rất cao và một số nhà phê bình còn có nhiều khen ngợi, "Shakira đã khiến tôi thật ngỡ ngàng, She Wolf thật hay và thật lạ, tôi tin rằng ca khúc còn thành công hơn nữa và sẽ giúp cô đoạt được giải Grammy". Điều đó quả thật không sai chút nào "She Wolf ngày càng lan rộng ra thị trường âm nhạc và chiếm ngôi vị đầu bảng xếp hạng ở nhiều nước. Trong năm đó, Shakira được nhận đề cử rất nhiều giải thưởng và đặc biệt là giải thưởng MTV Europe Music Awards, cô giành được 2 đề cử ở hạng mục Nữ nghệ sĩ xuất sắc nhấtVideo xuất sắc nhất cho ca khúc She Wolf nhưng cuối cùng giải thưởng lại thuộc về tay của nữ ca sĩ Beyonce Knowles, cựu thành viên của ban nhạc Destiny's Child đã thắng hết cả hai giải. Khán giả càng lúc càng sững sốt hơn khi cô hợp tác Timbaland hát ca khúc "Give Up To Me", phá vỡ thị trường âm nhạc Mỹ, nhiều giới chuyên môn đánh giá rất cao cho đĩa nhạc.

Rob Stringer - chủ tịch tập đoàn Columbia/Epic Label nói: "Xu hướng của các ngôi sao gốc Latin là họ thường có một đến hai bản thu phiên bản tiếng Anh gây ấn tượng mạnh sau đó họ quay lại hát tiếng Tây Ban Nha. Shakira đã làm rất tốt việc duy trì sự nghiệp của mình trên cả hai phương diện tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha.. Shakira đang đấu tranh với hình tượng các nghệ sĩ nữ mẫu mực để xây dựng hình tượng riêng của mình, nhưng cô cũng không bỏ bê sự nghiệp ca hát bằng tiếng Tây Ban Nha. Xét trên phương diện này, Shakira quả thật là người duy nhất thực hiện được kỳ tích đó". Điểm khiến Shakira luôn khác biệt so với những bạn đồng lứa mình là dù trong phong cách nào, từ tango đến bossa nova, từ Andean đến reggaeton, các ca từ của cô cũng rất thông minh và có sức lay động rất lớn. Minh chứng cho điều đó là ca khúc ấn tượng "Ojos Asi", một giai điệu mang đậm âm hưởng Trung Đông với guitar điện từ album năm 1998 của cô mang tên "Dónde Estan Los Ladrones?". Một lần nữa trong "She Wolf", Shakira lại đem lại cho người nghe âm điệu của miền Đông này. Rất nhiều giới chuyên môn cho rằng Shakira là một tài năng âm nhạc hiếm có, chưa có bất kì nghệ sĩ người Mỹ Latin nào có thể vượt bậc đến thế, cô sẽ luôn duy trì hình ảnh của mình trong lòng khán giả.

World Cup 2010 tại Nam Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Shakira đã kết hơhp cùng với băng nhạc Freshlyground cho ra mắt bài hát Waka Waka (This Time for Africa). Bài hát này đã được FIFA chọn làm bài hát chính thức cho World Cup 2010 tại Nam Phi, trong Listen Up! The Official 2010 FIFA World Cup Album phát hành ngày 31/5/2010.

2009 : Sale el Sol[sửa | sửa mã nguồn]

Sale el Sol là album thứ 9 của cô nàng shakira, có phiên bản tiếng anh. Gồm những đĩa đơn như là Sale el Sol, Loca, RabiosaAntes de las seis. Trong đó, Rabiosa đã đạt được 180 triệu lượt xem trên mạng xã hội Youtube.

2014 : Shakira[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 4 năm vắng bóng trên thị trường âm nhạc, Shakira đã tung album phòng thu thứ 10 mang tên của mình. Gồm các đĩa đợn như là  Can't Remember to Forget You hợp tác cùng nữ ca sĩ gốc Barbados Rihanna, Nunca Me Acuerdo de Olvidarte (phiên bản tiếng Tây Ban Nha của Can't Remember to Forget You), EmpireMedicine hợp tác cùng Blake Shelton. Trong album còn có bài hát Dare (La La La) là một trong những bài hát được chọn cho World Cup 2014. Đĩa đơn Can't Remember to Forget You cũng đạt vị trí 15 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và đạt 280 triệu lượt xem trên mạng xã hội Youtube

Vũ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Shakira nổi tiếng nhờ kĩ năng vũ đạo của cô. Các bước nhảy chủ yếu dựa trên những động tác lắc hông nghệ thuật - một phần thể hiện dòng máu Liban của cô. Trong một cuộc phỏng vấn của kênh truyền hình MTV, mọi người cho rằng cô không bao giờ dùng ngực trong khi nhảy. Thế mà trong "La Tortura" và "Hips Don't Lie", khán giả được thưởng thức nghệ thuật dùng ngực trong các vũ điệu của cô.

Cuộc sống đời thường[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, Shakira có hẹn hò với Antonio de la Rúa, con trai của tổng thống Argentina, Fernando de la Rúa. Cuộc tình này kéo theo hàng loạt các tít báo trên khắp Châu Mĩ Latin. Tháng 3 năm 2001, Antonio cầu hôn cô. Trong thời kì Fernando de la Rúa làm tổng thống, kinh tế của Argentina rơi vào khủng hoảng dẫn đến các cuộc nổi loạn vào tháng 12 năm 2001 tại đất nước này. Tuy lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhưng De la Rúa và Shakira vẫn tiến hành lễ đính hôn.

Tháng 2/2011, Shakira bắt đầu mối quan hệ với trung vệ trẻ hơn 10 tuổi của FC Barcelona - Gerard Piqué.[2][3][4], họ đã kết hôn vào tháng 6/2014 và có 1 đứa con

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chi tiết: Danh sách giải thưởng của Shakira.

Các giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Shakira đã từng 5 lần đề cử và thắng được 2 giải Grammy.

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
1999 "¿Dónde Están Los Ladrones?" Trình nhạc Latin Rock xuất sắc nhất Đề cử
2001 "MTV Unplugged" Album Latin Pop xuất sắc nhất Đoạt giải
2006 "Fijación Oral Vol. 1" Album Latin Rock xuất sắc nhất Đoạt giải
2007 "Hips Don't Lie" (với Wyclef Jean) Hợp tác nhạc Pop xuất sắc nhất Đề cử
2008 "Beautiful Liar" (với Beyoncé) Hợp tác nhạc Pop xuất sắc nhất Đề cử

Các giải Latin Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
2000 "MTV Unplugged" Album của năm Đề cử
Album giọng Pop xuất sắc nhất Đề cử
Octavo Día Nữ nghệ sĩ trình diễn nhạc Rock xuất sắc nhất Đoạt giải
Ojos Asi Giọng ca nữ trình diễn nhạc Pop xuất sắc nhất Đoạt giải
Video hình thái ngắn xuất sắc nhất Đề cử
2002 Suerte (Whenever, Wherever) Video hình thái ngắn xuất sắc nhất Đoạt giải
2003 Te Aviso, Te Anuncio (Tango) Bài hát Rock hay nhất Đề cử
2006 "Fijación Oral Vol. 1" Album của năm Đoạt giải
Album giọng Pop xuất sắc nhất Đoạt giải
La Tortura (có sự tham gia của Alejandro Sanz) Thu âm của năm Đoạt giải
Bài hát của năm Đoạt giải
Video hình thái ngắn xuất sắc nhất Đề cử
2007 Beautiful Liar (with Beyonce) Thu âm của năm Đề cử

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Live:

Đĩa đơn quán quân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng
Newworldmap.png
Thế giới
Flag of the United States.svg
Mỹ
Flag of Europe.svg
Châu Âu
Flag of the United States.svg
Latin
Flag of the United Kingdom.svg
Anh
Flag of Australia.svg
Úc
Flag of Switzerland.svg
Thụy Sĩ
Flag of Spain.svg
Tây Ban Nha
Flag of the Netherlands.svg
Hà Lan
Flag of Germany.svg
Đức
Flag of France.svg
Pháp
Flag of Italy.svg
Ý
2001 "Whenever, Wherever" 1 6 1 1 2 1 1 1 1 1 1 1
2002 "Underneath Your Clothes" 2 9 2 3 1 2 2 1 2 2 3
2005 "La Tortura" (với Alejandro Sanz) 2 23 2 1 34 2 1 2 4 7 3
2006 "Hips Don't Lie" (với Wyclef Jean) 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1
2007 "Beautiful Liar" (với Beyonce) 2 3 1 1 1 5 1 1 1 1 1 1
2009 "She Wolf" 2 11 4 1 4 18 3 2 13 2 4 1
2010 "Waka Waka (This Time for Africa)" 6 38 1 2 21 32 1 1 6 1 1 1
"Loca" (với El Cata / Dizzee Rascal) 16 32 2 1 1 1 11 6 1 1
Tổng Quán quân 2 1 4 6 2 3 5 6 4 4 5 6

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Get on stage with Shakira
  2. ^ “Piqué confirms Shakira relationship on request from Barcelona coach Guardiola”. tribalfootball.com. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2011. 
  3. ^ “Sure you're just friends Shakira? Singer pictured at footballer Gerard Pique's birthday party”. dailymail.co.uk (Luân Đôn). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2011. 
  4. ^ “Gerard Piqué and Shakira spotted together again”. whoateallthepies.tv. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]