F.C. Barcelona

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
FC Barcelona
Logo FC Barcelona
Tên đầy đủ Futbol Club Barcelona
Biệt danh Blaugrana, Azulgrana, Barça
Thành lập 29 tháng 11 năm 1899 (1899-11-29) (114 năm trước)
với tên Foot-Ball Club Barcelona
Sân vận động Camp Nou,
Barcelona, Tây Ban Nha
  — Sức chứa 98.787
Chủ tịch Cờ của Tây Ban Nha Josep Maria Bartomeu
Huấn luyện viên Cờ của Tây Ban Nha Luis Enrique
Giải đấu La Liga
La Liga 2012-13 La Liga, Vô địch
Sân nhà
Sân khách
Khác

Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

FC Barcelona (viết tắt của Futbol Club Barcelona trong tiếng Catalan), cũng thường được biết đến với tên gọi tắt Barcelona, hay thân mật là Barçacâu lạc bộ thể thao giàu thành tích ở Barcelona, Catalonia, Tây Ban Nha. Câu lạc bộ này tập hợp nhiều bộ môn thể thao nhưng trong đó nổi tiếng nhất là đội tuyển bóng đá Barcelona. FC Barcelona được thành lập vào năm 1899 bởi một nhóm cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ, AnhCatalan, dẫn dắt bởi Joan Gamper. Khẩu hiệu là Més que un club (Không chỉ là một câu lạc bộ). Sân nhà của Barça là sân Nou Estadi del Futbol Club Barcelona (Sân mới của Câu lạc bộ bóng đá Barcelona), thường được gọi là Camp Nou.

Phòng truyền thống của đội bao gồm với 22 danh hiệu vô địch quốc gia (La Liga), 26 Cúp quốc gia, 11 Siêu cúp quốc gia và 2 Cúp Liên đoàn Tây Ban Nha. Ở đấu trường quốc tế, FC Barcelona cũng sở hữu 17 danh hiệu với 4 chức vô địch Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, 4 Cúp C2, 3 Cúp C3, 4 Siêu cúp châu Âu cùng 2 Cúp thế giới các câu lạc bộ.

Với tổng cộng 78 danh hiệu lớn giành được, FC Barcelona là câu lạc bộ giàu thành thích nhất Tây Ban Nha.[1] Ở mùa giải 2008-2009, dưới sự dẫn dắt của Huấn luyện viện Pep Guardiola, Barça trở thành đội bóng đầu tiên trên thế giới giành được cú ăn 6 (đoạt cả sáu danh hiệu chính ở cả sáu giải đấu tham gia) trong cùng một mùa giải (Cúp C1 châu Âu/UEFA Champions League, La Liga, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha, Siêu cúp bóng đá châu ÂuCúp thế giới các câu lạc bộ).

Đối thủ chính của Barcelona là Real Madrid. Trận đối đầu giữa hai đội được gọi là El Clásico. Từ khi Giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1929, Barça cùng Real Madrid và Athletic Bilbao là ba câu lạc bộ chưa bao giờ bị xuống chơi ở giải hạng nhì. Theo cuộc thăm dò thực hiện vào năm 2010 của trung tâm nghiên cứu xã hội học Tây Ban Nha Centro de Investigaciones Sociológicas[2] thì FC Barcelona là câu lạc bộ có nhiều cổ động viên thứ 2 ở Tây Ban Nha với 25%, xếp sau Real Madrid (32%) và bỏ xa đội thứ ba là Valencia (5%).

Lịch sử

Sự thành lập và những thập niên đầu dưới sự dẫn dắt của chủ tịch Joan Camper (1899–1930)

Thông báo thể thao: Người bạn và đồng đội của chúng ta Hans Gamper ... cựu vô địch bóng đá Thụy Sĩ, muốn tổ chức một vài trận bóng tại thành phố, và nhắn tất cả những ai hứng thú với môn thể thao này, hãy đến văn phòng tòa soạn của tờ báo này vào mỗi tối thứ ba thứ sáu hàng tuần, từ 9 đến 11 giờ tối.

Nội dung tin quảng cáo của Gamper trên tờ Los Deportes[3]
Tin quảng cáo của Gamper trên tờ Los Deportes
Joan Gamper

Bộ môn bóng đá chậm chinh phục được người Tây Ban Nha nói chung, và người Catalunya nói riêng[4]. Vào cuối thế kỷ XIX, Barcelona đang chuyển mình nhanh chóng trong công cuộc công nghiệp hóa và thu hút nhiều người nước ngoài đến sống và làm việc, trong đó Hans Gamper, một kế toán mang quốc tịch Thụy Sĩ và chơi bóng đá nghiệp dư[5]. Gamber đầu tiên muốn gia nhập đội Gimnasio Tolosa, nhưng bị từ chối do câu lạc bộ nói trên không chấp nhận người nước ngoài, ông quyết định tự thành lập một câu lạc bộ bóng đá[5]. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1899, Joan Gamper đăng một mẩu tin quảng cáo trên tờ Los Deportes chiêu gọi mọi người thành lập một câu lạc bộ bóng đá. Và ngày 29 tháng 11 năm 1899, sau khi nhận được nhiều lời phản hồi đồng ý nhận lời tham gia, mọi người quyết định gặp mặt nhau tại trụ sở của Gimnasio Solé. Mười một cầu thủ có mặt gồm: Walter Wild, Lluís d'Ossó, Bartomeu Terradas, Otto Kunzle, Otto Maier, Enric Ducal, Pere Cabot, Josep Llobet, John Parsons, và William Parsons mang các quốc tịch Anh, Thụy Sĩ và Đức. Mọi người đi đến quyết định thành lập CLB Foot-Ball Club Barcelona[3]. Walter Wild, người lớn tuổi nhất đội, được chọn làm chủ tịch đầu tiên[6].

Trận đấu đầu tiên của đội diễn ra trên sân Bonanova, và Barça thua một đội tập hợp các cầu thủ quốc tịch Anh đang sống tại Barcelona[7] với tỉ số 1-0[6]. Đội đầu tiên thường đá trong khuôn viên khách sạn Casanovas trong năm 1900, sau đó rời đến sân tại ngõ Horta vào năm 1901, rồi chuyển đến phố Muntaner từ năm 1905[6][7].

Walter Wild là vị chủ tịch đầu tiên nhưng người có công lớn nhất trong việc thành lập CLB là Hans Maximilan Gamper (hay còn được biết đến với cái tên Joan Gamper) – một chàng trai trẻ người Thụy Sĩ sinh sống ở xứ Catalan (sau này Joan Gamper đã năm lần làm Chủ tịch CLB). Với Gamper làm đội trưởng và thủ quỹ, Walter Wild làm chủ tịch đầu tiên, Barcelona mở đầu lịch sử của mình bằng trận thua 0-1 trước đội bóng của những người Anh đang sống tại Barcelona vào ngày 8 tháng 12 năm 1899. Và trận đấu đầu tiên ngoài địa giới Catalan là với FC Madrid (Real Madrid sau này), lúc đó cũng mới thành lập vào tháng 5 năm 1902 và trận đấu đó Barca thắng 3-1 mở đầu cho những cuộc đối đầu giữa 2 CLB kình địch trong suốt chiều dài lịch sử. Joan Gamper cũng chính là vị chủ tịch vĩ đại nhất trong lịch sử CLB.

1923-1939, thời kỳ nội chiến

Vào dịp kỷ niệm 25 năm thành lập CLB, Barça khánh thành Sân vận động Les Corts và CLB cũng là một tập hợp của nhiều anh tài như là Samitier, Sargi-Barba, Piere, Sancho,... tất cả những điều đó giúp CLB giành được nhiều chức vô địch trong thời kỳ này.

Tại đấu trường nội địa, Barça trở thành nhà vô địch đầu tiên khi giải La Liga được thành lập vào năm 1929 và kể từ đó cho đến nay chưa bao giờ xuống hạng (cùng với Real MadridAthletic Bilbao). Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và sau đó là cuộc nội chiến bắt đầu đã buộc Barça phải bán đi những cầu thủ hay nhất của mình. Chế độ Franco căm thù đội bóng giương cao ngọn cờ của xứ Catalan. Không chỉ gạt bỏ tất cả những gì liên quan đến địa phương, chẳng hạn như ngôn ngữ, Franco còn đưa một người thân cận lên chức chủ tịch CLB và đổi tên Barça thành "Club de Fútbol Barcelona" theo đúng tiếng Tây Ban Nha.

1939-1988

Thập niên 1950 đánh dấu một thời đại mới trong lịch sử CLB với những cầu thủ Hungary như Ladislao Kubala, Zoltán Czibor, Sándor Kocsis và những cầu thủ Tây Ban Nha như Luis Suarez, Barcelona giành được những danh hiệu đầu tiên ở châu Âu. Một cú đánh đầu bằng vàng của Evaristo đã gạt Real ra rìa ở cúp C1 năm 1961. Nhưng sai lầm ngớ ngẩn của thủ thành Ramallets đã dâng chiếc cúp cho Benfica, lúc đó còn vô danh. Đó là trận chung kết C1 đầu tiên của Barça, chiếc cúp mà mãi 31 năm sau mới trở về với họ. Đấy là thời kì huy hoàng của CLB, trong vòng 13 năm Barça đạt được 6 chức vô địch Liga, 5 cúp Nhà vua và 2 cúp Hội chợ liên thành phố (tiền thân của cúp C3 hay là UEFA sau này). Trong suốt lịch sử các cúp châu Âu, Barça là đội bóng duy nhất chưa bao giờ vắng mặt ở đấu trường này. Và Barça cũng cùng với Juventus, Ajax AmsterdamBayern München là những đội bóng hiếm hoi đã dành đủ cả ba chiếc cúp C1, C2 và C3. Trong thập niên 1950, với sự phát triển mạnh mẽ của CLB, sân Les Corts trở nên chật chội. Vào ngày 24 tháng 9 năm 1957 sân vận động hiện thời – sân Camp Nou, được khánh thành với sức chứa hơn 90.000 chỗ ngồi. Và sân Camp Nou trong suốt chiều dài lịch sử của mình và qua các lần sửa chữa nâng cấp đã có lúc lên đến 120.000 chỗ ngồi. Cho đến bây giờ sân Camp Nou vẫn là sân vận động lớn nhất châu Âu.

Nhưng những thành công của Barça không làm người ta thoả mãn, họ vẫn chưa có chiếc cúp C1 danh giá, tiền đổ ra như nước nhằm phục vụ tham vọng này. Và rất nhiều những ngôi sao sáng, những huấn luyện viên tài ba nhất của bóng đá thế giới đã đến đây với mục tiêu chinh phục nó: Rinus Michels, Terry Venables, Diego Maradona và những chàng trai người Anh như Gary Lineker, Hughes... Nhưng họ vẫn trắng tay khi thất bại trước Benfica vào năm 1961 tại Thụy Sĩ và trước Steaua Bucharest năm 1986 tại chính Tây Ban Nha.

1988-2006

Và cuối cùng Johan Cruyff – cầu thủ huyền thoại người Hà Lan, người đã từng thi đấu trong màu áo Barcelona, đổ bộ xuống đây vào một ngày mùa thu năm 1988 trên chiếc ghế huấn luyện viên trưởng để mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử CLB, ông đã biến Barça thành cái gọi là "Dream Team". Và cú sút khủng khiếp của Ronand Koeman trong một đêm Wembley kỳ ảo tháng 5 năm 1992 đã đem đến chiếc cúp châu Âu duy nhất còn thiếu trong lịch sử mà Barca đã đeo đuổi suốt 40 năm. Ngôi đền thiêng của Barca đã mở ra với huyền thoại người Hà Lan, với những chiến công mà không ai có thể lặp lại được cho đến tận bây giờ. Có thể tổng kết lại Barca dưới thời đấy qua phát biểu của Fernando, một cựu cầu thủ của Valencia: "Bạn không thể thắng được Barca đâu. Thứ nhất, họ lúc nào cũng có nhiều bóng. Thứ hai, họ khoẻ hơn chúng ta và thứ ba, họ chạy như những thằng điên". Mùa giải 2005-2006, họ bảo vệ thành công chức vô địch La Liga, và đặc biệt là Champions League (tiền thân là cúp C1) với 1 đội hình được xem là "Dream Team 2" gồm những cái tên Ronaldinho, Eto'o, Messi...

Trong hơn 100 năm tồn tại, Barca đã đem được nhiều chiến tích về trưng bày trong phòng truyền thống của mình: 22 lần vô địch La Liga, 25 lần đoạt cúp Nhà vua, 10 lần đoạt Siêu cúp Tây Ban Nha, 4 cúp Champions League, 4 cúp C2, 3 cúp C3, 4 Siêu cúp châu Âu2 Cúp thế giới các câu lạc bộ.

Biểu tượng

Biểu trưng

Biểu trưng của câu lạc bộ luôn có màu cờ của thành phố Barcelona, vốn là sự kết hợp giữa lá cờ của xứ Catalonia và chữ thập của thánh Georges.[8]. Biểu trưng đầu tiên của đội chỉ đơn giản là một hình thoi, ở trên có vương miện xứ Aragon và một con dơi, một bên có một cành nguyệt quế và bên kia có một cành cọ.[9]

Năm 1910, câu lạc bộ tổ chức một cuộc thi sáng tác biểu trưng cho mình. Người đoạt giải là Carles Comamala, khi đó cũng là cầu thủ của đội. Tác phẩm của Comamala vẫn là biểu trưng của câu lạc bộ ngày nay với một số sửa đổi nhỏ so với nguyên mẫu. Biểu trưng giống một cái nồi khổng lồ, phần phía trên bên trái có chữ thập của thánh Georges, phía trên bên phải là cờ xứ Catalonia, phía dưới là màu áo của đội.[9] Trong thập niên 1940, dưới chế độ độc tài Franco, các chữ viết tắt " F. C. B. " (tên câu lạc bộ viết tắt bằng tiếng Catalan) được thay bằng các chữ viết tắt " C. F. B. " (tên câu lạc bộ viết tắt bằng tiếng Tây Ban Nha), bốn gạch đỏ của cờ xứ Catalan cũng được rút xuống thành hai gạch đỏ giống với cờ Tây Ban Nha.[9]

Năm 1949, vào dịp kỉ niểm 50 năm ngày thành lập câu lạc bộ, phiên bản với cờ Catalan ở góc phải được sử dụng lại.[9] Đến năm 1974, khi chế độ Franco đã bắt đầu suy yếu, đội lại sử dụng lại biểu trưng với các chữ viết tắt " F. C. B. ".[9] Lần gần đây nhất logo được hiện đại hóa là vào năm 2002 khi nhà thiết kế Claret Serrahima xóa bớt các dấu chấm giữa các chữ viết tắt.[9]

Màu áo

FCB.svg
Nhà tài trợ trang phục của F.C. Barcelona

Tài trợ chính thức

Tài trợ trang phục

Barcelona lần đầu tiên thi đấu với màu áo truyến thống xanh và đỏ hồng lựu trong trận gặp Hispania vào năm 1900[8].

Có rất nhiều lời giải thích khác nhau về sự lựa chọn hai màu này làm màu áo truyền thống của Barcelona: theo con trai của vị chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ, Arthur Witty, ông giải thích rằng cha ông đã lấy ý tưởng từ màu áo của trường Merchant Taylors' School mà ông đã từng theo học. Nhưng giải thích được nhiều người chấp nhận nhất là Joan Camper đã chọn lại màu áo giống như của câu lạc bộ cũ của mình, đội FC Basel[8].

Trang phục thi đấu chính thức của blaugrana trong nhiều năm được sản xuất bởi công ty địa phương Meyba. Năm 1992 hãng Kappa (Italia) thay thế Meyba. Còn từ năm 1998, Barça mặc trang phục được sản xuất bởi Nike. Trong một thời gian dài, áo đấu của đội có một điểm đặc biệt là không in tên bất kì nhà tài trợ nào[10], điều này chấm dứt vào năm 2006, khi chủ tịch Laporta tuyên bố kí một hợp đồng 5 năm với tổ chức UNICEF[10]. Bốn năm sau, chủ tịch Sandro Rosell kí hợp đồng tài trợ thương mại quảng cáo trên áo đấu đầu tiên của Barça với quỹ Qatar Foundation, tên của tổ chức này sẽ xuất hiện trên áo đấu của đội từ mùa giải 2011-2012[11].

1899
1910
1913
1920
1992
1994
1995
1998
1999
2004-2005
2005-2006
2006-2007
2007-2008
2008-2009
2009-2010
2010-2011
2011-2012
2012-2013

Bài hát truyền thống

Trong suốt lịch sử của mình, câu lạc bộ đã có nhiều bài hát chính thức khác nhau[12]. Bài hát truyền thống được sử dụng hiện này là bài El Cant del Barça (Bài ca của Barça), được sáng tác vào năm 1974 nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập câu lạc bộ. Hai tác giả Josep Maria Espinás và Jaume Picas sáng tác phần lời bằng tiếng Catalan, trong khi phần nhạc được soạn bởi Manuel Valls.

Bản sắc xã hội-chính trị

Khẩu hiệu của câu lạc bộ được viết trên khán đài sân Nou Camp: mès que un club (tiếng Việt: "Còn hơn cả một câu lạc bộ")

Về mặt chính thức, câu lạc bộ tập hợp cổ đổng viên của mọi thành phần xã hội, không phân biệt gốc gác, lập trường chính trị hay tôn giáo. Tuy nhiên, các sử gia cũng như những nhà xã hội học đều đồng ý rằng đa phần những người ủng hộ câu lạc bộ FC Barcelona không thuần túy vì những thành tích trong thể thao của nói, mà còn vì những lý do chính trị - xã hội khác[4][13].

Câu lạc bộ gắn liến với văn hóa vùng Catalunya và rộng lớn hơn là với tất cả những giá trị riêng của vùng Catalunya[14], nó đối lập với sự quản lý trung ương từ Madrid[13]. Bản sắc của xứ Catalunya là một trong những nét văn hóa địa phương nổi tiếng nhất trên thế giới, FC Barcelona được coi như một biểu tưởng mạnh, một biểu tượng anh hùng trong việc bảo vệ văn hóa và ngôn ngữ Catala, vốn được sử dụng trong tất cả các tài liệu chính thức của câu lạc bộ. Như một biểu tượng, lá cờ của xứ Catalunya xuất hiện trên biểu trưng, trên áo đấu và trên băng đội trưởng của câu lạc bộ... Ngoài ra, Bẩç cũng nhiều lần lên tiếng chính thức ủng hộ quyền tự trị của vùng Catalunya vào các năm 1932, 1979 và 2006. Vì những lý do trên, vào ngày 21 tháng 12 năm 1992, Hội đồng vùng Catalunya đã trao trặng câu lạc bộ Huân chương Creu de Sant Jordi (tiếng Việt: "Chữ thập của Thánh Georges"), phần thưởng qua quý nhất của vùng[15].

Một số sử gia, như Manuel Vázquez Montalbán, đưa ra quan điểm rằng FC Barcelona đối với nhiều người Catalan thì nó như đại diện cho đội tuyển Catalunya trên đấu trường quốc tế[16]. Trên tinh thần này, câu lạc bộ đã ủng hộ việc thành lập nhiều đội tuyển Catalunya trong nhiều môn thể thao khác nhau, trong đó có đội tuyển bóng đá Catalunya được khởi động lại từ những năm cuối của thâm 1990. Đội tuyển này, dưới sự dẫn dắt của Johan Cruijff từ tháng 11 năm 2009, có sự tham gia của nhiều cầu thủ của đội như Víctor Valdés, Carles Puyol, Gerard Piqué, Xavi Hernández, Sergio Busquets, Cesc Fàbregas hay Bojan Krkić. Chủ tịch Laporta, một người luôn đấu tranh cho chủ nghĩa độc lập của xứ Catalunya, đã phát biển trong nhiệm kì của mình:

Xứ Catalunya là một quốc gia độc lập toàn diện. Một ngày nào đó sự áp bức của Tây Ban Nha sẽ chấm hết. Tôi hy vọng rằng khi mình còn sống, tôi sẽ được xem một trận đấu trong khuôn khổ World Cup giữa CatalunyaTây Ban Nha [17].

Thêm nữa, Barça luôn là nơi tập những người ủng hộ nền Cộng hòa Tây Ban Nha, nhất là trong nửa đầu của thế kỷ XX[18]. Cũng vì điều này mà câu lạc bộ chưa bao giờ xin sự bảo trợ của Hoàng gia Tây Ban Nha, khác với nhiều câu lạc bộ Tây Ban Nha (và đặc biệt là hai đối thủ truyền kiếp của FC Barcelona là Real Madrid CFReial Club Deportiu Espanyol de Barcelona). Sự đỉnh điểm chống lại chính quyền trung ương Tây Ban Nha là trong một trận đấu vào năm 1925, các cổ động viên của đội đã huýt sáo khi cử hành bài Marcha Real, bài quốc ca Tây Ban Nha, vì điều này mà chính quyền đã treo sân của câu lạc bộ trong vòng sáu tháng. Bản sắc chính trị này dần biến mất với sự thiết lập lại nền dân chủ, chế độ Franco sụp đổ vào 1977, và câu lạc bộ cũng dần bình thường hóa mối quan hệ của mình với Hoàng gia Tây Ban Nha. Những biểu tượng của sự bình thường hóa mối quan hệ này có thể kể đến đám cưới diễn ra năm 1997 giữa cầu thủ bộ môn bóng ném của câu lạc bộ là Iñaki Urdangarin với công chúa Cristina de Borbón, con gái vua Juan Carlos, hay khi đức vua đã tới Paris để cổ vũ cho Barça trong trận chung kết Champions League 2005-06, bên cạnh thủ tưởng Tây Ban Nha José Luis Zapatero, vốn là một cổ động viên nhiệt thành của đội. Tuy nhiên, vẫn còn rào cản giữa cổ động viên với chính quyền trung ương, như trong trận chung kết Cúp nhà vua Tây Ban Nha năm 2009 giữa BarçaAthletic Bilbao, các cổ động viên đã huýt sáo khi nhà vua bước vào sân vận động và quốc ca được cử[19].

Lối chơi

Lối chơi của FC Barcelona mang ảnh hưởng của yêu cầu của các socis luôn đòi hỏi đội phải thắng với lối chơi hấp dẫn[13][20]. Yêu cầu này thường được cho là bắt đầu từ khi László Kubala ra nhập câu lạc bộ, người trong một thập niên (1951-1961) dẫn dắt lối chơi blaugrana[14][21]. Ngay cả khi Helenio Herrera dẫn dắt đội, người nổi tiếng trong thập niên 1960 với chiến thuật catenaccio, phòng ngự bê-tông, khi cầm Barça từ năm 1958 cho đến năm 1960 cũng đã áp dụng chiến thuật 4-2-4 thiên về tấn công và lối đá đẹp, xoay quanh bộ ba có tốc độ và kỹ thuật điêu luyện là: Kubala, Sándor KocsisLuis Suárez[22], cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên đoạt Quả bóng vàng châu Âu năm 1960.

Năm 1971, sau một thập kỷ không thành công, chủ tịch Agustí Montal Costa đã mời huấ luyện viên người Hà Lan Rinus Michels, người vừa dẫn dắt Ajax Amsterdam tới chức vô địch Cúp C1 châu Âu. Michels mang đến Barcelona triết lý " bóng đá tổng lực ", dựa trên những đặc điểm chiến thuật và kỹ thuật cơ bản sau: kiểm soát và giữ bóng, liên tục di chuyển và lối chơi một chạm[23]. Nó giống với một tư duy, một cách chới bóng hơn là một chiến thuật, bóng đá tổng lực có một đòi hỏi: tất cả các cầu thủ cùng thủ và cùng công. Michels đòi hỏi các cầu thủ của mình di chuyển sao cho phù hợp với các khoảng trống mà đối phương lộ ra, dựa vào tư duy chiến thuật di chuyển, sự hiểu nhau qua rèn luyện cùng với sức bền thể lực. Đội thường đá với sơ đồ 4-3-3, tất cả các cầu thủ đều phải có khả năng cùng tất công hay lùi về phòng ngự mọi lúc. Những cầu thủ chạy cánh, được hỗ trợ bởi những hậu vệ cánh lên tham gia tấn công, dùng hai biên để tận dụng tối đa chiều ngang của sân bóng, làm lộ khoảng trống trong hàng phòng ngự của đối phương[24].

Sau khi chiêu mộ được Quả bóng vàng châu Âu người Hà Lan Johan Cruijff vào năm 1973, Barça đã tìm được một cầu thủ đủ tầm để dẫn dắt lối chơi này. Dù với thành tích khá khiêm tốn để lại khi họ ra đi năm 1978, đội dẫn dắt bởi bộ đôi Michels và Cruijff vẫn là một huyền thoại trong mắt cổ động viên Barcelona vì nó khiến họ tự hào, điều này diễn ra đồng thời với sự hồi sinh của chủ nghĩa độc lập xứ Catalunya và sự sụp đổ của chế độ Franco[21].

Sau một thời gian đội thi đấu không thành công, chủ tịch Núñez đã mời huấn luyện viên người Đức Udo Lattek, một trong những huấn luyện viên giàu thành tích nhất thời điểm đó. Chiến thuật gia nổi tiếng với triết lý khai thác tối đa các sai lầm và lỗ hổng của đối phương, ông xây dựng một lối chơi trực diện và quyết liệt cho Barcelona, và đòi hỏi một nền tảng thể lực xung mãn[25], triết lý nào không hợp với ngôi sao của blaugrana lúc đó là Maradona. Mặc dù đoạt được 3 chiếc cúp, trong đó có Cúp C2 châu Âu ngay trong mùa giải đầu tiên nắm đội, nhưng Lattek cũng vẫn bị thay thế bởi huấn luyện viên người Argentina César Luis Menotti, nhà cầm quân vô địch World Cup 1978. Menotti xây dựng một lối chơi phối hợp nhỏ và kỹ thuật, tiến tới kiểm soát bóng tốt, và đòi hỏi toàn đội phải đá rát để thu hồi bóng nhanh. Lối chơi không ngại va chạm này lên đến đỉnh điểm trong trận đánh nhau trên sân giữa cầu thủ đội Barcelona, do Maradona dẫn đầu, với cầu thủ đội Athletic Bilbao trong trận chung kết Cúp nhà vua năm 1984.

Năm 1984, đến lượt huấn luyện viên người Anh Terry Venables tới thử vận. Ông mang đến một thứ bóng đá toàn khối kín kẽ theo sơ đồ 4-4-2[26], một đội hình rất chắc chắn và hiệu quả[21]. Điều này giúp Barça vô địch quốc gia lại lần đầu từ năm 1974, cũng như lọt vào chung kết Cúp C1 châu Âu vào mùa giải sau đó. Nhưng sau thất bại của FC Barcelona trong trận đấu đó trước Steaua Bucarest (đội không ghi được bàn nào, hòa 0-0, rồi thua 0-2 sau loạt sút luân lưu), tiếp liền với việc để Real Madrid vô địch quốc gia ở mùa giải ngay sao đó, dù được tăng viện LinekerHughes, Venables bị sa thải vào năm 1987[21].

Vài tháng sau đó, Johan Cruijff quay trở lại câu lạc bộ, lần này là với tư cách huấn luyện viên. Ông muốn áp dụng đúng công thức của thầy mình là Michels[27]: bóng phải được chuyền ban nhanh, các cầu thủ liên tục di chuyển[26], các cầu thủ phải bọc lót cho nhau và tận dụng hai cánh để bao tối đa diện tích của sân[21]. Ông thay đổi nhiều nhân sự đội, kết hợp những cầu thủ trưởng thành từ lò đào tạo của câu lạc bộ với một số ngôi sao ngoại quốc hợp với lối chơi này. Các cầu thủ được di chuyển khá tự do, họ phải tận dụng để tối ưu hóa lối chơi của tập thể[26]. Chiến thuật 4-3-3 như thời Michels, có thể biến chuyển thành 3-4-3 khi cầu thủ libero Ronald Koeman dâng cao lên tiếp viện cho tuyến tiền vệ. Josep Guardiola phân phối bóng cho tuyết trên bao gồm LaudrupStoitchkov ở hai cánh và trong phong Salinas, người sau đó được thay thế bởi Romário. Đội có nhiều năm thống trị bóng đá Tây Ban Nha, kèm với một chức vô địch cúp C1 châu Âu năm 1992, á quân Champions League năm 1994 (thua AC Milan). Cruijff rời đội vào năm 1996[21].

Sau một thời gian ngắn tương đối thành công dưới triều đại của Bobby Robson, huấn luyện viên người Hà Lan Louis van Gaal, đang trên đỉnh cao của sự nghiệp sau chức vô địch Champions League năm 1995 với Ajax Amsterdam được mời về đội. van Gaal áp dụng chiến thuật sở trường của mình, đội hình thi đấu với sơ đồ 3-4-3, đá pressing cao và triển khai nhiều tấn công từ hai cánh[21], khá giống với sơ đồ dưới thời Dream team của Cruijff. Hàng công có nhiều tài năm như Figo, RivaldoLuis Enrique, cùng với các ngôi sao người Hà Lan như Kluivert, đội dành hai chức vô địch Liga liên tiếp vào các năm 1998 và 1999, nhưng không có thành tích nào khả quan trên đấu trường châu Âu, vì một hàng thủ khá mỏng. van Gaal bị sa thải năm 2000.

Năm 2003, chủ tịch Laporta giao đội cho Frank Rijkaard. Ông mang ảnh hưởng của Cruijff, người từng dẫn dắt ông khi còn là cầu thủ ở Ajax, và chiến lược gia người Ý Arrigo Sacchi. Lối chơi dưới thời Rijkaard dựa vào việc pressing rất cao, các tuyến xích lại gần nhau, đòi hỏi thu hồi bóng nhanh nhất có thể[21]. Lối chơi của Barcelona khá giống với lối chơi toque của các đội bóng Nam Mỹ, đá nhanh và ngắn[21]. Đội đá với sơ đồ 4-3-3 đặc trưng của mình giống với thờiMichels, xoay quanh một tuyến giữa ba người có kỹ thuật cá nhân tốt, bền sức và có tư duy chiến thuật cao (Deco, Xavi, Edmilson...). Bộ ba này cầm nhịp cho toàn đội, sau đó mở bóng cho cầu thủ phía cánh là MessiRonaldinho, được yểm trợ bởi hai hậu vệ cánh, hoặc trực tiếp cho trung phong Eto'o[20]. MessiRonaldinho được quyền di chuyển tự do, toàn đội có chức năng bọc lót cho họ[20]. Đội đạt được kết quả rất tốt từ năm 2004 cho đến năm 2006, với đỉnh điểm là chức vô địch cúp C1 năm đó, sau đó thành tích tạm thời đi xuống với giảm sút phong độ của một số trụ cột.

Người thay thế Frank Rijkaard là huấn luyện viên đội trẻ FC Barcelona B khi đó, Pep Guardiola.[28] Guardiola, người trưởng thành từ lò đào tạo trẻ của Barça xây dựng lới chơi tiki-taka cho đội, lối đá đặc trưng mà mỗi cầu thủ trẻ ở La Masia được rèn rũa. Guardiola cũng bán đi Ronaldinho và Deco, và xây dựng Barcelona xung quanh bộ ba Xavi, Iniesta và Messi.

Đội bóng dưới triều địa Guardiola được coi như đạt đến đỉnh cao của bóng đá thế giới, như nhận xét của Carlos Alberto Parreira, huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil vô địch World Cup 1994. Vào thời điểm tháng 12 năm 2010, Parreira coi FC Barcelona là đội bóng hay nhất thế giới vì nó phát minh ra một lối chơi và tiếp cận bóng đá mới. Với Parreira, những thành công của Barça dựa vào 6 điểm chính: tính thủ lính của đội trưởngCarles Puyol trên sân, tố chất thủ lĩnh của Pep Guardiola ở ngoài sân, tài năng của hai cầu thủ dẫn dắt lối chơi là Xavi và Iniesta, sự hiệu quả trước khung thành của MessiVilla, cũng như những đóng góp của Pedro Rodríguez khiến đội có thể áp đặt lối chơi của mình trước mọi đối thủ[29].

Bố trí đội hình của chiến thuật "4-2-4".
Bố trí đội hình của chiến thuật "4-3-3".
Bố trí đội hình của chiến thuật "4-4-2".
Bố trí đội hình của chiến thuật "3-4-3".

Cơ sở vật chất

Sân Camp Nou và các sân vận động từng sử dụng khác

Sân vận động Camp Nou

Câu lạc bộ hiện đang là chủ sở hữu của sân Camp Nou, có sức chứa 99.354 chỗ ngồi.[30] Đây là một trong những sân nổi tiếng nhất thế giới, nằm ở khu Les Corts, phía Tây thành phố Barcelona[31].

Sân nhà đầu tiên của Barcelona là sân Camp de la Indústria. Với sức chứa 6.000 chỗ ngồi, chỉ trong một thời gian ngắn, sân này đã không đáp ứng được lượng thành viên ngày càng đông của câu lạc bộ.[32]

Vào năm 1922, khi lượng cổ động viên đã vượt ngưỡng 20.000, Barça đã vay tiền để xây sân Camp de Les Corts, với sức chứa ban đầu là 20.000 chỗ ngồi. Sau Nội chiến Tây Ban Nha, câu lạc bộ bắt đầu thu hút được nhiều thành viên tham gia và nhiều cổ động viên hơn. Chính vì vậy mà sân nhiều lần được nâng cấp: khán đài chính được hoàn thành năm 1944, khán đài nam hoàn thành năm 1946, và cuối cùng là khán đài bắc năm 1950. Sau lần nâng cấp cuối cùng, sân Les Corts có sức chứa tối đa 60.000 chỗ.[33]

Người ta thường gắn quyết định xây sân Camp Nou với sự kiện siêu sao người Hungary László Kubala chuyển về thi đấu cho đội. Lượng khán giả mới tới sân xem anh thi đấu tăng vọt và sân Les Corts trở nên quá bé.[31][33][34][35]

Cuối năm 1950, câu lạc bộ mua mảnh đất gần sân Camp de Les Corts, nhưng do vướng mắc nhiều vấn đề mà trong suốt gần ba năm công trình không thể khởi công[31]. Mãi đến ngày 28 tháng 3 năm 1954, lễ động thổ xây dựng sân Camp Nou mới được tiến hành, dưới sự chứng kiến của hơn 60.000 cổ động viên, cùng chủ tịch Barça khi đó là ông Francesc Miró-Sans, nhóm kiến trúc sư catalan thiết kế: Fransec Mitjans, Josep Soteras et Lorenzo Garcia Borbon[31]; cùng với chủ tịch vùng Felipe Acedo Colunga và được đức Tổng giám mục của Barcelona Gregorio Modrego ban lễ thánh. Công trình được hoàn thành vào ngày 24 tháng 9 năm 1957 với tổng mức đầu tư 288 triệu peseta.[33]

Sân được nâng cấp nhân dịp Tây Ban Nha đăng cai World Cup 1982, sân Camp Nou khi đó đạt sức chứa tối đa hơn 120.000 chỗ ngồi. Nó được giảm xuống dưới 100.000 chỗ vào mùa bóng 1998-1999 để phù hợp với các tiêu chuẩn mới của UEFA cho phép sân được xếp hạng " élite " " 5 sao ".

Trung tâm La Masia

Một lượng lớn vé được bán cho các thành viên mua vé năm, vào mùa bóng 2008-2009, tổng số người mua vé năm là 86.200 người[36]. Những người có vé năm có thể bán lại chỗ của mình những trận mà họ không muốn đi xem qua hệ thống Seient Lliure, điều này cho phép tăng lượng vé bán lẻ (8.000 chỗ) cho mỗi trận[36].

Các cơ sở vật chất khác

Câu lạc bộ cũng sở hữu nhiều cơ sở vật chất khác, bao gồm:[37]

  • Ciutat Esportiva Joan Gamper (Khu huấn luyện của FC Barcelona)
  • Masia-Centre de Formació Oriol Tort (Cư xá của các cầu thủ đội trẻ)
  • Mini Estadi (Sân nhà của đội hai)
  • Palau Blaugrana (Khu liên hợp thể thao trong nhà của FC Barcelona)
  • Palau Blaugrana 2 (Khu liên hợp thể thao trong nhà thứ hai của FC Barcelona)
  • Pista de Gel (đường trượt băng của FC Barcelona)

Barça qua những con số

  • Thắng 16 trận liên tiếp ở giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha mùa giải 2010/2011.
  • Cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại của CLB: Paulino Alcántara (Sinh: 7/10/1896. Mất: 13/2/1964), người Philippines. Anh đã ghi được 356 bàn trong 357 trận (1912-1927).

Chú thích: Thành tích của Alcántara là tính luôn các trận giao hữu và những trận không được xem là trận đấu quốc tế. Theo thống kê từ trang chủ của Barcelona thì Lionel Messi (hiện vẫn đang thi đấu) mới là Vua phá lưới mọi thời đại của CLB Barcelona.

  • Cầu thủ thi đấu nhiều nhất cho Barça: Migueli, 649 trận (1973-1988).
  • "Pichichi" ghi nhiều bàn thắng nhất: Lionel Messi 50 bàn mùa bóng 2011-2012.
  • Cầu thủ được mua đắt nhất: Zlatan Ibrahimović đến từ Inter Milan với giá 69 triệu Euro.
  • Cầu thủ được bán đắt nhất: Luis Figo đến Real Madrid với giá 58.5 triệu Euro.
  • Cầu thủ trẻ nhất vượt qua cột mốc 300 trận cho Barça: Xavi (vào lúc 25 tuổi và 8 tháng).
  • Barça là CLB duy nhất chưa từng vắng mặt ở các cúp châu Âu kể từ khi giải này được khởi tranh (1955).
  • Cùng với Bayern München, Ajax AmsterdamJuventus là bốn CLB đã từng giành được cả ba chiếc cúp châu Âu (C1, C2, C3).
  • Cùng với Real MadridAthletic Bilbao là ba CLB của Liga chưa từng phải xuống hạng nhì.
  • Barça cũng là đội đang giữ kỷ lục có số trận thắng liên tiếp nhiều nhất ở Champions League: 11 trận tại mùa bóng 2002-2003.
  • Giáo hoàng quá cố John Paul II là thành viên mang thẻ số 108.000 của CLB.
  • Barça là CLB Tây Ban Nha sở hữu nhiều "Quả bóng vàng châu Âu" nhất: Suárez (1960), Cruyff (1973,1974), Stoichkov (1994), Ronaldo (1997), Rivaldo (1999), Figo (2000), Ronaldinho (2005), Messi (2009,2010).
  • Barça là CLB sở hữu nhiều cầu thủ "Xuất sắc nhất thế giới của FIFA": Romário (1994), Ronaldo (1996,1997), Rivaldo (1999), Ronaldinho (2004,2005), Messi (2009,2010).
  • Messi trở thành cầu thủ đầu tiên đoạt giải thưởng "Quả bóng vàng Fifa" - năm 2010 (từ năm 2010, giải thưởng "Quả bóng vàng Châu Âu" và giải thưởng "Cầu thủ xuất sắc nhất Fifa" được gộp chung lại thành "Quả bóng vàng Fifa").
  • Barça cũng là CLB có nhiều cầu thủ từng đoạt danh hiệu "Chiếc giày vàng châu Âu" nhất: Krankl (1979), Stoichkov (1990), Pizzi (1996), Ronaldo (1997), Lionel Messi (2011).
  • Barça là CLB Tây Ban Nha đầu tiên đạt "cú ăn ba" trong mùa giải 2008-2009 với 3 chiếc cúp: La Liga, Copa del Rey, Champion League.
  • Barça là CLB đầu tiên trên thế giới đoạt được 6 chiếc cúp (mức tối đa ở Tây Ban Nha) trong năm 2009 bao gồm: La Liga, Copa del Rey, Champion League, Siêu cúp TBN, Siêu cúp châu Âu, Cúp thế giới CLB.
  • Barça là CLB vô địch với số điểm kỉ lục 99 điểm/38 vòng đấu (kỉ lục tại La Liga và toàn châu Âu) trong mùa giải 2009/2010.
  • Barça đoạt kỷ lục trong mùa 2012/2013 giải Champion League vòng bán kết khi thua FC Bayern München 7 bàn trắng (4 quả trận đi, và 3 bàn tại sân nhà).

Đội hình hiện tại

Tính đến ngày 26 tháng 8, năm 2012.[38]
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Cờ của Đức TM Marc-André ter Stegen
2 Cờ của Tây Ban Nha HV Martín Montoya
3 Cờ của Tây Ban Nha HV Gerard Piqué
4 Cờ của Croatia TV Ivan Rakitić
6 Cờ của Tây Ban Nha TV Xavi Hernández (Đội phó)
7 Cờ của Tây Ban Nha Pedro Rodríguez
8 Cờ của Tây Ban Nha TV Andrés Iniesta (đội phó)
9 Cờ của Uruguay Luis Suárez
10 Cờ của Argentina Lionel Messi
11 Cờ của Tây Ban Nha TV Neymar
13 Cờ của Chile TM Claudio Bravo
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
14 Cờ của Argentina TV Javier Mascherano
15 Cờ của Tây Ban Nha HV Marc Bartra
16 Cờ của Tây Ban Nha TV Sergio Busquets
17 Cờ của Tây Ban Nha Alex Song
18 Cờ của Tây Ban Nha HV Jordi Alba
19 Flag of the Netherlands TV Ibrahim Afellay
21 Cờ của Brasil HV Adriano Correia
22 Cờ của Brasil HV Daniel Alves
24 Cờ của Pháp HV Jérémy Mathieu
25 Cờ của Tây Ban Nha TM Jordi Masip López
-- Cờ của Tây Ban Nha Gerard Deulofeu
-- Cờ của Brasil TV Rafinha
  Cờ của Tây Ban Nha TV Sergi Roberto

Danh sách cho mượn

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
Cờ của Brasil Keirrison (đến Coritiba cho tới ngày 30 tháng 06, 2014)

Thành viên nổi bật

Quả bóng vàng FIFA

Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng FIFA khi đang chơi cho F.C. Barcelona[39]:

Chú thích: Từ năm 2010, giải thưởng "Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA" đã sáp nhập với giải "Quả bóng vàng Châu Âu" thành một giải duy nhất là giải "Quả bóng vàng FIFA". Messi là cầu thủ đầu tiên đạt giải thưởng này.

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA

Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA khi đang chơi cho F.C. Barcelona[40]:

Quả bóng vàng châu Âu

Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu khi đang chơi cho F.C. Barcelona[39]:

Chiếc giày vàng châu Âu

Cầu thủ đoạt giải Chiếc giày vàng châu Âu khi đang chơi cho F.C. Barcelona[41]:

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của La Liga

Cầu thủ đoạt giải Trofeo Alfredo di Stéfano khi đang chơi cho F.C. Barcelona:

Pichichi (Vua phá lưới La Liga)

Cầu thủ đoạt giải Pichichi khi đang chơi cho F.C. Barcelona[43]:

Cầu thủ vô địch thế giới

Đã có 9 cầu thủ từng vô địch thế giới trong thời gian khoác áo FC Barcelona, ngoài RomárioRivaldo (vô địch thế giới cùng Brasil), các cầu thủ còn lại đều vô địch thế giới khi khoác áo đội tuyển Tây Ban Nha:

Cầu thủ vô địch châu Âu

Đã có 11 cầu thủ từng vô địch châu Âu trong thời gian khoác áo FC Barcelona, tất cả các cầu thủ đều vô địch châu Âu cùng đội tuyển Tây Ban Nha vào các năm 1964, 20082012:

Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo

 
Ghi nhiều bàn thắng nhất
FCB.svg
Cầu thủ
Số bàn
Cờ của Tây Ban Nha César Rodríguez (1942-1955) 235
Cờ của Argentina Lionel Messi (2004-nay) 230
Cờ của Hungary László Kubala (1950-1961) 194
Cờ của Tây Ban Nha Josep Samitier (1919-1932) 178
Cờ của Tây Ban Nha Josep Escolà (1934-1949) 167
Cờ của Philippines Cờ của Tây Ban Nha Paulino Alcántara (1912-1916 và 1918-1927) 137
Cờ của Tây Ban Nha Ángel Arocha (1926-1933) 134
Cờ của Cameroon Samuel Eto'o (2004-2009) 130
Cờ của Brasil Rivaldo (1997-2002) 130
Cờ của Tây Ban Nha Mariano Martín (1940-1948) 124
Tính đến 19 tháng 02 năm 2012[44][45][46][47][48]
 
Khoác áo nhiều nhất
FCB.svg
Cầu thủ
Số trận
Cờ của Tây Ban Nha Xavi (1998-nay) 606
Cờ của Tây Ban Nha Migueli (1973-1989) 549
Cờ của Tây Ban Nha Carles Puyol (1999-nay) 539
Cờ của Tây Ban Nha Carles Rexach (1965-1981) 449
Cờ của Tây Ban Nha Víctor Valdes (2002-nay) 437
Cờ của Tây Ban Nha Guillermo Amor (1988-1998) 421
Cờ của Tây Ban Nha Andoni Zubizarreta (1986-1994) 410
Cờ của Tây Ban Nha Joan Segarra (1949-1964) 402
Cờ của Tây Ban Nha Joaquim Rifé (1964-1976) 401
Cờ của Tây Ban Nha José Ramón Alexanko (1980-1993) 400
Tính đến 09 tháng 02 năm 2012[44][49]

   Cầu thủ còn đang thi đấu cho câu lạc bộ

Lãnh đạo

Dưới đây là danh sách các huấn luyện viên[50] và chủ tịch câu lạc bộ [51] của FC Barcelona kể từ ngày thành lập:

FCB.svg
Ban lãnh đạo của FC Barcelona

Huấn luyện viên

Cờ của Tây Ban Nha Tito Vilanova



Chủ tịch CLB

Thành tích

FCB.svg
Phòng truyền thống
  • Liga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.png
  • Liga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.pngLiga.png
  • Liga.pngLiga.png

  • RFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svg
  • RFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svg
  • RFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svgRFEF - Copa del Rey.svg

  • RFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svgRFEF - Supercopa de España.svg
  • RFEF - Supercopa de España.svg

  • Copa de Liga de España2.svg Copa de Liga de España2.svg

  • Coppacampioni.pngCoppacampioni.pngCoppacampioni.pngCoppacampioni.png

  • Coppacoppe.pngCoppacoppe.pngCoppacoppe.pngCoppacoppe.png

  • UEFA - Inter-Cities Fairs Cup.svgUEFA - Inter-Cities Fairs Cup.svgUEFA - Inter-Cities Fairs Cup.svg

  • FIFA Club World Cup.svg FIFA Club World Cup.svg

  • Supercoppaeuropea.pngSupercoppaeuropea.pngSupercoppaeuropea.pngSupercoppaeuropea.png

Danh hiệu chính thức

Quốc gia

61 danh hiệu

1928–29; 1944–45; 1947–48; 1948–49; 1951–52; 1952–53; 1958–59; 1959–60; 1973–74; 1984–85;
1990–91; 1991–92; 1992–93; 1993–94; 1997–98; 1998–99; 2004–05; 2005–06; 2008–09; 2009–10;
2010–11; 2012–13
1909–10; 1911–12; 1912–13; 1919–20; 1921–22; 1924–25; 1925–26; 1927–28; 1941–42; 1950–51;
1951–52; 1952–53; 1956–57; 1958–59; 1962–63; 1967–68; 1970–71; 1977–78; 1980–81; 1982–83;
1987–88; 1989–90; 1996–97; 1997–98; 2008–09; 2011–12
1983, 1991, 1992, 1994, 1996, 2005, 2006, 2009, 2010, 2011, 2013
1982-83; 1985-86
Quốc tế

17 danh hiệu

1991-92; 2005-06; 2008-09; 2010-11
1978-79; 1981-82; 1988-89; 1996-97
1958; 1960; 1966
2009, 2011
1992, 1997, 2009, 2011

Chú thích

  1. ^ Le Barça passe devant le Real en nombre de titres, sport.es, 31 mai 2011
  2. ^ “Ficha Técnica” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Centro de Investigaciones Sociológicas. Tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  3. ^ a ă Ball, Phill 2003, tr. 89
  4. ^ a ă Dobson, Stephen; John Goddard (2001). The economics of football. Cambridge. tr. 335-338. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2001. 
  5. ^ a ă Javier Prieto Santos (4 tháng 5 năm 2006). “Barca: statistiques, particularismes, et curiosités”. So Foot. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ a ă â (tiếng Anh) “History: Origins (1899-1922)”. FC Barcelona. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ a ă “Camp Nou: histoire du stade du FC Barcelone”. fcbarcelonaclan.com. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2010. 
  8. ^ a ă â Ball, Phill 2003, tr. 90-91
  9. ^ a ă â b c d “The crest”. FC Barcelona. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ a ă LESAY Jean-Damien (29 tháng 6 năm 2006). “Le Barça et l'Unicef, la morale du maillot”. Libération. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ “Barcelone: un sponsor maillot pour 165 millions d'euros”. L'Express (avec AFP). 10 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2010. 
  12. ^ (tiếng Anh) “The anthems”. FC Barcelona. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2011. 
  13. ^ a ă â François Musseau (25 tháng 5 năm 2009). “Etre un "socio" du Barça, c’est avoir un passeport catalan (entretien avec Enrique Murillo)”. Libération. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  14. ^ a ă Machenaud, Vincent. “Entretien avec Sandro Rosell: « Un Ballon d'or, ça vaut la Ligue des champions. »”. France football (3379 (supplément)): 26–27. 
  15. ^ (tiếng Catalan) Sắc lệnh 162/1992, ngày 20 tháng 12 năm 1992, của concessió de la Creu de Sant Jordi de la Generalitat de Catalunya al Futbol Club Barcelona
  16. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Cien años y un día, Manuel Vázquez Montalbán”. El País. 6 tháng 12 năm 1999. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  17. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Laporta du paradis”. So Foot. 14 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  18. ^ Jaume Sobrequés i Callico 1998
  19. ^ “Hymne sifflé et coupé: la télé publiquelicencie le chef des sports”. La Dernière Heure/Les Sports. 14 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2011. 
  20. ^ a ă â Coulaud, Vincent; Prieto, Sébastien (tháng 04 năm 2006). “Rijkaard et la manière (entretien)”. So Foot (32): 42–43. 
  21. ^ a ă â b c d đ e ê Ghemmour, Ghérif; Gonzalez, Alexandre; Pietro Santos, Javier (tháng 04 năm 2006). “Barça: gustar y gagnar”. So Foot (32): 34–40. 
  22. ^ “Entretien avec Luis Suarez”. So Foot. 25 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ Machenaud, Vincent (tháng 01 năm 2011). “La Masía: « Le seul critère c'est le talent ! »”. France football (3379 (supplément)): 24–25. 
  24. ^ “Biographie de Rinus Michels”. FIFA. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2011. 
  25. ^ “Entretien avec Jose Ramon "Tatin" Alexanco”. So Foot. 21 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  26. ^ a ă â “Entretien avec Andoni Zubizarreta”. So Foot. 19 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011. 
  27. ^ “Johan Cruyff ou l'axe Amsterdam-Barcelone”. FIFA. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  28. ^ “Rijkaard until 30 June; Guardiola to take over”. FC Barcelona. 8 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2009. 
  29. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Parreira: "Hace 30 ó 40 años que el Barça creó un estilo"”. Marca. 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  30. ^ (tiếng Anh) “FC Barcelona Information”. fcbarcelona.cat. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  31. ^ a ă â b (tiếng Anh) “Camp Nou: Brief history”. fcbarcelona.cat. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  32. ^ Santacana, Carles (14 tháng 3 năm 2009). “Cent anys del camp de la Indústria” (bằng Catalan). FC Barcelona. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  33. ^ a ă â “Brief history of Camp Nou”. FC Barcelona. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2010. 
  34. ^ Farred, Grant. tr. 124.
  35. ^ Eaude, Michael. tr. 104.
  36. ^ a ă (tiếng Tây Ban Nha) O. Domènech/S. Solé (25 tháng 11 năm 2008). “Más de 36.000 abonados ausentes en el Estadi”. El Mundo Deportivo. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  37. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “El proyecto Barça Parc, adelante” (bằng Tiếng Tây Ban Nha). FC Barcelona. 2009. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  38. ^ “2012–13 season”. FC Barcelona. 26 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2012. 
  39. ^ a ă (tiếng Anh) Moore, Rob; Stokkermans, Karel. “European Footballer of the Year ("Ballon d'Or")”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  40. ^ (tiếng Anh) “World Player of the Year - Winners”. RSSSF. Truy cập 14 janvier 2011. 
  41. ^ (tiếng Anh) “Golden Boot ("Soulier d'Or") Awards”. RSSSF. Truy cập 14 janvier 2011. 
  42. ^ Messi consigue su tercer Trofeo Di Stéfano Marca.com 01/06/11 (tiếng Tây Ban Nha)
  43. ^ (tiếng Anh) “Spain - List of Topscorers ("Pichichi")”. RSSSF. Truy cập 14 janvier 2011. 
  44. ^ a ă Số liệu chỉ tính các trận đấu chính thức, không tính các trận giao hữu
  45. ^ (tiếng Tây Ban Nha) Gascón, Javier (23 tháng 8 năm 2010). “Los máximos goleadores en partido oficial” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Mundo Deportivo. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010. 
  46. ^ (tiếng Anh) “Statistics 2008–09”. FC Barcelona. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  47. ^ “Statistics 2009–10”. FC Barcelona. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010. 
  48. ^ (tiếng Tây Ban Nha) “Maximos golejadores en partits oficials” (PDF) (bằng Catalan). FC Barcelona. 18 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010. 
  49. ^ “Jugadores con más partidos oficiales” (PDF). FC Barcelona. 18 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2010. 
  50. ^ “List of Managers”. FC Barcelona. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2010. 
  51. ^ “Presidents” (bằng Catalan). FC Barcelona. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010. 
  52. ^ “Managing Commission (1936-1939)”. FC Barcelona. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2009. 
  53. ^ “Evolution 1929–10”. Liga de Fútbol Profesional. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  54. ^ Carnicero, José; Torre, Raúl; Ferrer, Carles Lozano (28 tháng 8 năm 2009). “Spain – List of Super Cup Finals”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  55. ^ Torre, Raúl (29 tháng 1 năm 2009). “Spain – List of League Cup Finals”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  56. ^ “Champions League history”. Union of European Football Associations (UEFA). Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  57. ^ “UEFA Cup Winners' Cup”. UEFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  58. ^ “Tournaments”. FIFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  59. ^ “UEFA Super Cup”. UEFA. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 

Sách tham khảo

  • Ball, Phill (2003). Morbo: The Story of Spanish Football. WSC Books Limited. ISBN 0-9540134-6-8. 
  • Eaude, Michael (2008). Catalonia: a cultural history. Oxford University Press. ISBN 0-19-532797-7. 
  • Ferrand, Alain; McCarthy, Scott (2008). Marketing the Sports Organisation: Building Networks and Relationships. Taylor & Francis. ISBN 0-415-45329-1. 

Lịch sử Barça:

Liên kết ngoài