Olympique Lyonnais

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Olympique Lyonnais
Logo
Tên đầy đủ Olympique Lyonnais
Biệt danh Les Gones hay OL
Tên ngắn gọn Lyon
Thành lập 1899/1950
Sân vận động Sân Gerland, Lyon
  — Sức chứa 41.004[1]
Chủ tịch Pháp Jean-Michel Aulas
Huấn luyện viên Pháp Remi Garde
Giải đấu Ligue 1
2012-2013 Hạng 3 Ligue 1
Web www.olweb.fr
Sân nhà
Sân khách
Khác

Olympique Lyonnais, còn gọi tắt là Lyon hay OL, là câu lạc bộ bóng đá ở thành phố Lyon, Pháp. Câu lạc bộ thành lập vào năm 1950 từ việc sát nhập giữa ba đội FC Lyon, AS VilleurbanneLyon Olympique Universitaire[2] - một câu lạc bộ tồn tại từ năm 1899.

OL hiện nay lấy sân Gerland làm sân nhà. Chủ tịch của câu lạc bộ từ tháng năm 1987 là ông Jean-Michel Aulas, huấn luyện viên hiện tại của đội là ông Claude Puel. Mùa bóng năm nay Lyon đang thi đấu tại Ligue 1cúp C1 châu Âu.

Câu lạc bộ là một trong những đội bóng giàu thành tích nhất của bóng đá Pháp, với bảy chức vô địch quốc gia liên tiếp giành được từ năm 2002 cho đến năm 2008.Lyon cũng đã có 12 mùa giải liên tiếp thi đấu ở UEFA Champions League và mùa giải UEFA Champions League 2009-10 là mùa giải thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ khi họ vào đến bán kết.Đội bóng nữ của câu lạc bộ hiện nay cũng là đội bóng số một của nền bóng đá đất nước hình lục lăng, sau khi giành chức vô địch Pháp trong hai mùa giải gần đây nhất, nâng số chức vô địch quốc gia mà họ đã giành được lên tổng cộng 6 lần trong lịch sử tồn tại của mình.

Lịch sử đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động Stade de Gerland của Lyon

" Lyon Olympique ", là một câu lạc bộ thể thao (gồm nhiều bộ môn khác nhau) được thành lập vào năm 1896 dưới cái tên Racing Club de Lyon, đội bóng đá của câu lạc bộ được thành lập sau đó ba năm (vào năm 1899). Đây chính là đội bóng đá đầu tiên ở Lyon lọt vào vòng chung kết giải vô địch bóng đá Pháp do liên đoàn USFSA tổ chức vào năm 1906. Tại giải đấu năm đó, đội đã gặp Olympique de Marseille ở vòng 1/8. Sau trận hòa 2-2 ở lượt đi, đội bóng thành phố Lyon đã không đến Marseille để chơi trận lượt về.

Những năm sau đó, đội mang tên " Lyon Olympique Universitaire " (thường được gọi tắt là " LOU ") có gặt hái được một số thành công nhất định nhưng sự phát triển còn hạn chế do vẫn chỉ là đội nghiệp dư thành viên của một câu lạc bộ thể thao (gồm nhiều bộ môn khác nhau), chứ không phải là một câu lạc bộ bóng đá biệt lập.[3] Đồng thời, thành phố Lyon, và nhất là thị trưởng thời đó là ông Édouard Herriot không thực sự ủng hộ bóng đá. Chính sách của thành phố thời đó là phát triển phong trào thể thao quần chúng hơn là đầu tư vào một đội bóng chuyên nghiệp.[4] Phải đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, kế hoạch chuyên nghiệp hóa đội bóng đá của LOU mới được triển khai.[3] Felix Louot, một doanh nhân của thành phố trong lĩnh vực buôn bán giày, lên nắm đội bóng đá của Lyon Olympique Universitaire và đầu tư vào đó từ năm 1944 cho đến năm 1950 tổng cộng hơn 13 triệu franc để xây dựng nền bóng đá chuyên nghiệp ở Lyon[5]. Câu lạc bộ ngay lập tức giành chức vô địch bóng đá Pháp miền Nam vào năm 1945 và lọt vào tứ kết cúp nước Pháp năm đó.[3]

Tuy nhiên, những phức tạp nảy sinh trong việc đội bóng đá vẫn không phải là một tổ chức độc lập, việc va chạm với phần còn lại của LOU vẫn hoạt động nghiệp dư, khiến Trillot và một số người bạn của ông có ý tưởng thành lập một mô hình hoạt động mới.[3] Cuộc họp đầu tiên bàn về vấn đề này được tổ chức ngày 19 tháng 05 năm 1950 tại quán Brasserie de la Republique[6]. 4 ngày sau đó, tức ngày 23 tháng 05 năm 1950, câu lạc bộ bóng đá " Olympique de Lyon et du Rhône " được tuyên bố thành lập tại quán Café Neuf[7] và lấy sân vận động Stade de Gerland làm sân nhà. Bác sĩ Marcel Trillat đề nghị chọn hai màu đỏxanh, màu biểu tượng của thành phố Lyon, làm màu của câu lạc bộ. Ngày 27 tháng 05, điều lệ hoạt động được soạn thảo xong. Đến ngày mùng 05 tháng 06, OL và LOU ký thỏa thuận đồng ý cho việc chuyển giao. Oscar Heisserer, cựu đội trưởng đội tuyển Pháp, huấn luyện viên của LOU vào mùa bóng trước đó, tiếp tục được giao đảm nhận nhiệm vụ này tại OL. Ngày 26 tháng 08 năm 1950, Olympique Lyonnais thi đấu trận đầu tiên của mình tại giải hạng hai Pháp.

Lên hạng rồi lại rớt hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Olympique Lyonnais bắt đầu mùa giải đầu tiên của mình ở giải hạng nhì vào năm 1950. Đội đặt mục tiêu thăng hạng ngay tại mùa bóng đầu tiên.[7] Sau chuỗi 10 trận bất bại vào đầu mùa giải (trong đó có 9 trận thắng), đội có một số kết quả thất thường hơn, trước khi kịp ghi đủ số điểm cần thiết vào cuối mùa để lên hạng. Tại giải năm đó, huấn luyện viên Oscar Heisserer cũng xỏ giày và thi đấu một số trận.[8]

Chuẩn bị cho lần đầu tiên được thi đấu tại hạng cao nhất của bóng đá Pháp vào mùa bóng 1951-1952, đội đưa về Lyon ba tuyển thủ quốc gia Antoine Rodriguez, Pierre FlamionAndré Grillon. Cùng hai cầu thủ trẻ nhiều triển vọng là Gilbert BonvinAndré Lerond. Tuy nhiên giải hạng nhất vẫn còn quá tầm với một đội bóng trẻ, OL phải xuống hạng ngay tại mùa bóng năm đó.[9]

Sau một mùa bóng chuyển giao và tái xây dựng lực lượng, Olympique Lyonnais giành lại quyền lên chơi ở giải hạng nhất của bóng đá Pháp vào cuối giải năm 1953-1954.[10]

29 năm ở giải hạng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1954 cho đến 1983, Lyon thi đấu liên tục 29 năm liên tại giải hạng nhất Pháp. Cho đến khi đội xuống hạng vào cuối mùa giải 1982-1983, đấy là kỷ lục về số năm thi đấu liên tục tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Pháp tính tới thời điểm đó. Thời kỳ hoàng kim của đội bóng trong khoảng thời gian này là từ đầu thập niên 60 cho đến khoảng giữa những năm 70. Lyon trong thời kỳ này được coi là một đội hợp với đá cúp[11], đội có nhiều tài năng nhưng quá thất thường để giành giải vô địch quốc gia,[12] nhưng trong từng trận đấu một thì Lyon có thể làm nên điều kỳ diệu trước bất kỳ đội bóng nào. Từ năm 1963 đến năm 1973, OL trong vòng 10 năm đã 5 lần lọt vào chung kết Cúp quốc gia Pháp (trong đó có ba lần vô địch vào các năm 1964, 1967, 1973). Olympique Lyonnais cũng lọt vào bán kết Cúp C2 châu Âu năm 1964 và chịu thúc thủ trước Sporting Clube de Portugal, đội sau đó giành ngôi quán quân.

Lối chơi của đội bóng trong thời kỳ này thường dựa vào một hàng phòng ngự số đông, vì các tiền đạo tuyến trên của họ (Nestor Combin, Angel Rambert rồi Fleury Di Nallo, Serge Chiesa, và huyền thoại Bernard Lacombe)đều có đẳng cấp cao và là các chân sút chủ lực của đội tuyển Pháp vào thời điểm đó, nên các huấn luyện viên Lyon thường cho họ độc lập tác chiến mà chú trọng lực lượng cho hàng phòng thủ.[13] Sau năm 1975, lực lượng của Olympique Lyonnais không được bổ sung một cầu thủ nào tương xứng ngoài trừ Jean Tigana (trong 3 mùa bóng từ 1978 đến 1981), đội dần trượt dốc và xuống hạng vào cuối mùa giải 1982-1983.

OL = Aulas[sửa | sửa mã nguồn]

Olympique Lyonnais ở lại giải hạng nhì trong 6 năm, ngân sách của đội không đủ mạnh để cho phép ngay lập tức trở lại hạng nhất.[14] Năm 1987, sau những năm CLB phải chơi ở giải D2, Jean-Michel Aulas, một chủ doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin đầu tư vào CLB và giành quyền kiểm soát. Ông đặt ra tham vọng "tham dự đấu trường châu Âu trong 5 năm". Aulas đã gây ngạc nhiên khi sa thải huấn luyện viên Robert Nouzaret, một trong những biểu tượng của CLB. Tuy nhiên, đội bóng dưới sự điều hành của ông đã thăng hạng lên Ligue 1 năm 1989 dưới sự dẫn dắt của Raymond Domenech.[14]

Việc giành quyền tham dự đấu trường châu Âu cũng được hoàn thành chỉ sau 2 mùa giải ở Ligue 1. Như vậy, Aulas đã thực hiện được mục tiêu đặt ra trước đó. Tuy vậy, câu lạc bộ lại đối mặt với cuộc chiến trụ hạng mùa giải ngay sau đó. Trong suốt thập niên 1990, Lyon có thành tích khá thất thường, đội thường xếp ở khoảng giữa của bảng xếp hạng. Nổi bật nhất có lẽ là mùa giải 1994-1995 khi OL đứng thứ hai chung cuộc sau FC Nantes, nhờ vào thế hệ cầu thủ đi lên từ lò đào tạo của đội bóng như Florian Maurice hay Bruno N'gotty.[15]

Năm 1999, việc đầu tư 15 triệu euro của tập đoàn Pathé vào OL đổi lấy một phân ba cổ phần của CLB cho phép Jean-Michel Aulas tăng cường đáng kể về lực lượng, ngôi sao lớn đầu tiên về vùng Rhônes có lẽ là tiền đạo đội tuyển Brasil Sonny Anderson (với giá chuyển nhượng kỷ lục của bóng đá Pháp vảo thời điểm đó[16]), đánh dấu một sự khời đầu kỉ nguyên của CLB.

Năm 2002, OL giành danh hiệu vô địch Ligue 1 lần đầu tiên trong lịch sử vào vòng đấu cuối cùng của mùa giải. Trước vòng cuối cùng, OL đứng thứ hai với 2 điểm ít hơn RC Lens. Lịch thi đấu vô tình xếp chính hai đội sẽ đối đầu với nhau tại lượt trận cuối cùng ở Gerland, Lyon giành chiến thắng với tỉ số 3-1 để giành ngôi quán quân. Sau chức vô địch đầu tiên này là chuỗi 7 chức vô địch liên tiếp (kỷ lục của bóng đá Pháp), tính đến hết mùa giải 2007-2008.[16]

OL đã trở thành một thế lực bóng đá không chỉ ở Pháp mà còn là ở châu Âu. Đội bóng cũng là thành viên của G14 (tổ chức của 18 CLB đứng đầu châu Âu).

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ligue1 trophy.svg Vô địch Ligue 1: 7
    • Vô địch: 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008
    • Á quân (2): 1995, 2001, 2010
  • Vô địch Ligue 2: 3
    • Vô địch: 1951, 1954, 1989
  • Vô địch cúp Quốc gia: 4
    • Vô địch: 1964, 1967, 1973, 2008
    • Á quân (3): 1963, 1971, 1976
  • Vô địch cúp Liên đoàn: 1
    • Vô địch: 2001
    • Á quân (4): 1996, 2007, 2012, 2014
  • Vô địch Siêu cúp bóng đá Pháp: 7
    • Vô địch: 1973, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007
    • Á quân (2) - 1967, 2008
  • Các chức vô địch khác
    • Vô địch phía Nam nước Pháp (1): 1945
  • Coppa Intertoto.svg Cúp Intertoto (1)

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 26 tháng 1 năm 2013

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Pháp TM Rémy Vercoutre
2 Pháp HV Mehdi Zeffane (Youth)
3 Pháp HV William Le Pogam (Youth)
4 Burkina Faso HV Bakary Koné
5 Croatia HV Dejan Lovren
6 Pháp TV Gueïda Fofana
7 Pháp TV Clément Grenier
8 Pháp TV Yoann Gourcuff
9 Argentina Lisandro López
10 Pháp Alexandre Lacazette
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
12 Pháp TV Jordan Ferri
13 Pháp HV Anthony Réveillère
14 Pháp HV Mouhamadou Dabo
15 Serbia HV Milan Biševac
16 Bồ Đào Nha TM Anthony Lopes
17 Pháp TV Steed Malbranque
18 Pháp Bafétimbi Gomis
19 Pháp Jimmy Briand
21 Pháp TV Maxime Gonalons (captain)

Cầu thủ cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
30 Bỉ TM Théo Defourny (FC Rouen)
20 Argentina HV Fabián Monzón (Fluminense)
11 Brasil TV Michel Bastos (Schalke 04)
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
22 Mali TV Sidy Koné (SM Caen)
36 Pháp Harry Novillo (Gazélec Ajaccio)
29 Guinée Mohamed Yattara (ESTAC)

Các đời huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Olympique lyonnais.png
Các huấn luyện viên trưởng của Olympique Lyonnais[17]

Chủ tịch Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Olympique lyonnais.png
Các chủ tịch của Olympique Lyonnais[18]

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Pháp) Sức chứa của sân Gerland, trên trang olweb.fr
  2. ^ L'Equipe Periodique 2005, tr. 1955
  3. ^ a ă â b (tiếng Pháp) “Le foot à Lyon avant l'OL”. olweb.fr. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2009. 
  4. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 16
  5. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 17
  6. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 19
  7. ^ a ă Vincent Duluc 2007, tr. 20
  8. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 21
  9. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 23
  10. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 28
  11. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 105
  12. ^ Collectif - L'Equipe 2007, tr. 40
  13. ^ Vincent Duluc 2007, tr. 51
  14. ^ a ă (tiếng Pháp) “De 1980 à 1990”. olweb.fr. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
  15. ^ (tiếng Pháp) “De 1990 à 1999”. olweb.fr. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
  16. ^ a ă (tiếng Pháp) “Depuis 2000...”. olweb.fr. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
  17. ^ (tiếng Pháp) “Les 24 entraîneurs de l'OL”. olweb.fr. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 
  18. ^ (tiếng Pháp) “Les 8 présidents de l'OL”. olweb.fr. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]