FC Bayern München

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bayern München
Biểu tượng Bayern München
Tên đầy đủ FC Bayern München
Biệt danh FC Hollywood
Die Bayern (Những người Bayern)
Hùm xám (ở Việt Nam)
Thành lập 27 tháng 2 năm 1900 (1900-02-27) (114 năm trước)
Sân vận động Allianz Arena
  — Sức chứa 71.457
Chủ tịch Đức Karl Hopfner
Huấn luyện viên Tây Ban Nha Pep Guardiola
Giải đấu Bundesliga
2013-2014 Bundesliga, Vô địch
Web http://www.fcbayern.t-home.de/en
Sân nhà
Sân khách
Khác

Soccerball current event.svg Mùa giải hiện nay

FC Bayern München (tiếng Anh: Bayern Munich) là một câu lạc bộ thể thao có trụ sở ở München, Đức. Câu lạc bộ này được biết đến nhiều nhất bởi câu lạc bộ bóng đá, câu lạc bộ thành công nhất ở Đức, với 24 chức vô địch quốc gia và 17 cúp quốc gia. Trên bình diện thế giới, Bayern cũng 10 lần vào chung kết UEFA Champions League, trong đó chiến thắng 5 lần, và chiến thắng 1 lần UEFA Cup, 1 European Cup, 1 UEFA Super Cup, 1 FIFA Club World Cup và 2 Intercontinental Cups.

Câu lạc bộ được thành lập năm 1900 bởi 11 cầu thủ bóng đá dẫn dắt bởi Franz John.[1] Mặc dù Bayern giành danh hiệu vô địch quốc gia đầu tiên năm 1932,[2] đội bóng không được lựa chọn để chơi ở Bundesliga khi nó thành lập năm 1963.[3] Vào khoảng giữa những năm 1970, câu lạc bộ trải qua quãng thời gian thành công nhất, khi Franz Beckenbauer dẫn dắt đội bóng vô địch cúp châu Âu 3 lần liên tiếp (1974-76). Trong những năm gần đây họ là đội bóng thành công nhất nước Đức, vô địch 7 trong số 10 giải đấu gần đây nhất. Danh hiệu quốc tế gần đây nhất họ đạt được là Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ, Siêu cúp bóng đá châu Âucú ăn ba lịch sử (chiến thắng UEFA Champions League, Bundesliga, DFB-Pokal) trong cùng 1 mùa giải năm 2013.

Kể từ đầu mùa giải 2005-06, Bayern chơi trên sân nhà là sân Allianz Arena. Trước đây đội bóng đã chơi 33 năm ở sân Olympic. Màu áo của đội bóng là màu đỏ và trắng, và trên biểu trưng của đội có màu cờ của bang Bavaria.[4]

Bayern là câu lạc bộ với hơn 223.985 thành viên đăng ký, trở thành đội bóng có số đông thành viên hạng nhì thế giới.[5][6] Có hơn 3.579 hội cổ động viên chính thức với khoảng 262.077 thành viên.[7][8] Về doanh thu, Bayern Munich là câu lạc bộ thể thao lớn nhất ở Đức và câu lạc bộ bóng đá lớn thứ tư trên thế giới, tạo ra 368,4 triệu trong năm 2012.[9]

Câu lạc bộ có những bộ môn khác như cờ vua, bóng ném, bóng rổ, thể dục dụng cụ, bowling, bóng bàntrọng tài với hơn 1.100 thành viên hoạt động.[10]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc bài chính về Lịch sử FC Bayern München
Khu tập luyện của FC Bayern

Thời kỳ đầu (1900-1965)[sửa | sửa mã nguồn]

FC Bayern Munich được thành lập bởi một số thành viên thuộc một câu lạc bộ thể dục ở Munich (MTV 1879). Khi đại hội của MTV 1879 được họp ngày 27 tháng 2 năm 1900 ra quyết định không cho các cầu thủ bóng đá của câu lạc bộ được tham dự vào Liên đoàn bóng đá Đức, 11 người của câu lạc bộ rời đại hội và cũng trong buổi tối đó họ thành lập nên câu lạc bộ Fußball-Club Bayern München. Chỉ trong vòng một vài tháng sau đó, Bayern có những trận thắng đậm trước các đối thủ cùng khu vực và vào tới trận bán kết Giải vô địch bóng đá Nam Đức 1900-01.[1] Trong những năm sau đó, đội bóng vô địch một số danh hiệu trong khu vực và vào mùa giải 1910-11 Bayern gia nhập "Kreisliga", giải vô địch đầu tiên của bang Bavaria. Đội vô địch giải này ngay năm đầu tiên, nhưng đây cũng là chức vô địch cuối cùng của đội cho tới khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914, và làm ngưng trệ mọi hoạt động thi đấu bóng đá ở Đức.[2][11]

Trong những năm đầu sau chiến tranh, Bayern vô địch nhiều giải đấu ở khu vực, trước khi giành danh hiệu vô địch Nam Đức lần đầu tiên năm 1926, điều mà đội lặp lại được một lần nữa 2 năm sau đó.[2][12] Chức vô địch quốc gia lần đầu tiên mà đội có được là vào năm 1932, khi huấn luyện viên Richard Kohn dẫn dắt đội bóng giành ngôi quán quân sau khi đánh bại Eintracht Frankfurt với tỉ số 2-0 ở trận chung kết.[2]

Việc Adolf Hitler lên cầm quyền đã ảnh hưởng tới sự phát triển của Bayern. Chủ tịch và huấn luyện viên của đội, vốn đều là người Do Thái, đều rời Đức. Nhiều cầu thủ khác trong đội cũng ra đi. Bayern từng bị chế nhạo là "đội bóng Do Thái" và là một đội bóng bán chuyên nghiệp Bayern cũng ảnh hưởng bởi luật mới chỉ cho phép cầu thủ bóng đá phải hoàn toàn nghiệp dư mới được ra sân. Trong những năm đó, Bayern không thể giành thêm chức vô địch quốc gia nào, thay vào đó họ chỉ đứng ở vị trí giữa bảng xếp hạng trong khu vực.[13]

Sau Thế chiến thứ hai, Bayern trở thành thành viên của Oberliga Süd, giải đấu phía Nam của giải hạng nhất Đức, vốn được chia ra làm năm giải khác nhau vào lúc đó. Đội đã thay và sa thải 13 huấn luyện viên từ năm 1945 tới 1963. Vào năm 1955 họ bị xuống hạng, nhưng trở lại Oberliga ngay mùa giải sau đó và lần đầu tiên vô địch cúp quốc gia, đánh bại Fortuna Düsseldorf với tỉ số 1-0 ở trận chung kết năm 1957.[14][15] Câu lạc bộ cũng phải đấu tranh về vấn đề tài chính, đứng bên bờ vực thẳm của việc phá sản vào cuối những năm 1950. Nhà sản xuất Roland Endler đã cung cấp số tiền cần thiết và cứu đội bóng.[16] Vào năm 1963, các giải Oberliga được hợp thành một giải vô địch quốc gia duy nhất, giải Bundesliga. Năm đội bóng từ Oberliga phía Nam được chọn tham gia giải. Bayern về đích ở vị trí thứ 3 ở giải phía Nam năm đó, nhưng một đội bóng từ Munich khác, TSV 1860 Munich, vô địch giải đấu. Vì Liên đoàn bóng đá Đức không muốn có hai đội trong cùng thành phố cùng tham dự giải, Bayern không được chọn tham gia Bundesliga lần đầu tiên.[3] Họ lên hạng hai năm sau đó, xây dựng đội bóng với những cầu thủ trẻ tài năng như Franz Beckenbauer, Gerd MüllerSepp Maier - những người về sau được coi như những trụ cột của đội bóng.[15]

Thời kỳ hoàng kim (1965-1979)[sửa | sửa mã nguồn]

Franz Beckenbauer

Trong lần đầu tiên được tham dự Bundesliga, Bayern về đích ở vị trí thứ 3 và cũng vô địch DFB-Pokal cùng năm đó. Điều này giúp họ được tham dự Cúp C2 vào năm sau, giải đấu mà họ đã vô địch một cách thuyết phục sau khi thắng Rangers F.C. của Scotland ở trận chung kết, khi Franz Roth ghi bàn thắng quyết định ấn định tỉ số 1-0 ở thời gian bù giờ.[15] Vào mùa giải 1966-67, Bayern bảo vệ thành công chức vô địch cúp quốc gia, nhưng thành tích không cao khiến họ phải thay huấn luyện viên, Branko Zebec lên thay thế. Ông đã thay đổi lối tấn công của Bayerrn với lối đá kỷ luật, và điều này giúp họ vô địch Bundesliga lần đầu tiên và giành cú ăn đôi đi đầu tiên trong lịch sử Bundesliga. Điều đặc biệt là Zebec đã chỉ sử dụng 13 cầu thủ trong suốt mùa giải năm đó.[17]

Huấn luyện viên Udo Lattek bắt đầu lên nắm quyền từ năm 1970. Ngay trong năm đầu tiên dẫn dắt đôi, ông đã cùng Bayern vô địch cúp quốc gia. Mùa giải 1971-72, câu lạc bộ đoạt danh hiệu vô địch quốc gia thứ 3 trong lịch sử của mình. Trận đấu quyết định gặp FC Schalke 04 ở giải năm đó là trận đấu đầu tiên trên sân Olympic, và cũng là trận đấu đầu tiên trong lịch sử được truyền trực tiếp ở Bundesliga. Bayern đánh bại Schalke 5-1 và giành danh hiệu, đồng thời cũng lập nên nhiều kỷ lục, bao gồm cả số điểm và số bàn thắng ghi được trong cùng một mùa giải.[18] Bayern cũng vô địch hai mùa giải tiếp theo, nhưng đỉnh cao là chức vô địch cúp C1 châu Âu sau khi đánh bại Atlético Madrid tại vòng chung kết, Bayern thắng 4-0 sau trận đá lại. Trong những mùa giải sau đó đội bóng không có được nhiều thành công ở giải quốc nội, nhưng vẫn bảo vệ được chức vô địch châu Âu sau khi đánh bại Leeds United ở trận chung kết giải năm 1974-1975, khi Roth và Muller ghi bàn ở những phút cuối. Một năm sau ở Glasgow, AS Saint-Étienne bị đánh bại bởi một bàn thắng khác của Roth và Bayern trở thành đội bóng thứ 3 vô địch cúp này trong 3 năm liên tiếp. Danh hiệu cuối cùng Bayern vô địch trong giai đoạn này là chiếc Cúp Liên lục địa năm 1976, sau khi đánh bại nhà vô địch Nam Mỹ năm đó là đội bóng Brasil, Cruzeiro.[19] Thời gian còn lại của giai đoạn này Bayern không giành được danh hiệu nào. Vào năm 1977 Franz Beckenbauer chuyển tới New York Cosmos.Năm 1978 Franz Roth chuyển tới SV Casino Salzburg và vào năm 1979 Sepp Maier cùng Uli Hoeneß giải nghệ trong khi Gerd Müller gia nhập Fort Lauderdale Strikers.[20]

Từ FC Breitnigge tới FC Hollywood (1979-98)[sửa | sửa mã nguồn]

Karl-Heinz Rummenigge

Thập niên 1980 là một giai đoạn với đầy những biến động ngoài sân cỏ của Bayern, với nhiều thay đổi về nhân sự và những vấn đề tài chính. Trên sân, Paul BreitnerKarl-Heinz Rummenigge, hợp lại là FC Breitnigge, đưa đội bóng tới chức vô địch Bundesliga 1980 và 1981. Họ còn vô địch DFB-Pokal vào năm 1982, 2 mùa giải sau đó là những mùa giải không thành công sau khi Breitner giải nghệ và huấn luyện viên Udo Lattek trở lại. Bayern vô địch cúp quốc gia năm 1984, sau đó vô địch giải vô địch quốc gia năm lần liên tiếp, bao gồm một cú ăn đôi năm 1986. Tuy nhiên, thành công trên cấp độ châu lục lại không đến với họ; Bayern không giành được bất cứ danh hiệu châu lục nào, chỉ có thể giành ngôi á quân tại cúp C1 châu Âu vào các năm 1982 và 1987.[21]

Jupp Heynckes được bổ nhiệm làm huấn luyện viên năm 1987, nhưng sau hai lần vô địch quốc gia liên tiếp vào các năm 1989 và 1990, phong độ của Bayern sa sút. Sau khi về nhì ở mùa giải 1990-91, đội bóng về đích chỉ với 5 điểm nhiều hơn nhóm xuống hạng vào mùa giải 1991-92. Vào mùa giải 1992-93, Bayern Munich bị loại ngay ở vòng hai cúp UEFA trước đội bóng Anh, Norwich City F.C., đội bóng Anh duy nhất đánh bại họ ở sân vận động Olympic. Thành công trở lại sau khi Franz Beckenbauer trở lại là huấn luyện viên vào giai đoạn hai của mùa giải 1993-94, đội giành ngôi vô địch quốc gia sau 4 năm trắng tay. Beckenbauer sau đó được bổ nhiệm làm chủ tịch câu lạc bộ.[22]

Các huấn luyện viên tiếp theo, Giovanni TrapattoniOtto Rehhagel đều không mang lại danh hiệu gì cho đội bóng và thành tích của đội không giống như những gì được mong đợi.[23] Trong quãng thời gian này cầu thủ Bayern thường xuất hiện ở các trang báo tạp chí về những chuyện ở ngoài đời tư hơn là những vấn đề liên quan đến sân cỏ, và họ được đặt tên là FC Hollywood. Franz Beckenbauer trở lại vào mùa giải 1995-96 với tư cách là huấn luyện viên tạm quyền và đưa đội bóng đến chức vô địch cúp UEFA vào mùa giải 1995-96, đánh bại Girondins de Bordeaux ở trận chung kết. Ở mùa giải 1996-97 Giovanni Trapattoni trở lại và giành chức vô địch quốc gia. Nhưng ở mùa giải sau đó họ lại để mất chức vô địch vào tay đội bóng mới lên hạng 1. FC Kaiserslautern, Trapattoni lần thứ hai rời đội bóng.[24]

Tìm lại được những thành công trên trường quốc tế (1998-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Khánh thành năm 2005: Sân Allianz Arena, một trong những sân vận động hiện đại nhất thế giới.

Từ năm 1998 đến 2004 Bayern được dẫn dắt bởi Ottmar Hitzfeld. Trong mùa giải đầu tiên của Hitzfeld, Bayern vô địch Bundesliga và chút nữa vô địch cúp C1, thua 2-1 vào những phút bù giờ trong trận chung kết gặp Manchester United sau khi dẫn trước hầu hết trận. Mùa giải 1999-2000 đội tiếp tục thành công với cú ăn đôi vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Chức vô địch Bundesliga thứ 3 liên tiếp đến vào năm 2001, họ vô địch tại vòng đấu cuối cùng của mùa giải. Vài ngày sau, Bayern vô địch cúp C1 lần thứ 4 sau 25 năm, đánh bại Valencia CF trên chấm luân lưu. Mùa giải 2001-02 bắt đầu với danh hiệu vô địch Cúp Liên lục địa, nhưng kết thúc mùa giải với không một danh hiệu nào nữa. Một mùa giải sau, họ có cú ăn đôi lần thứ 4, vô địch giải đấu với số điểm bỏ cách đội đứng thứ nhì kỷ lục[25]. Triều đại của Hitzfeld kết thúc vào năm 2004, với phong độ đi xuống của Bayern, bao gồm một trận thua trước đội bóng chơi ở giải hạng hai Alemannia Aachen.

Felix Magath lên thay thế và đưa Bayern tới hai cú ăn đôi liên tiếp. Trước mùa giải 2005-06, Bayern chuyển từ sân Olympic tới sân vận động Allianz Arena, sân đấu mà câu lạc bộ chia sẻ cùng TSV 1860 München. Trên sân mới này màn trình diễn của họ ở mùa giải 2006-07 trở nên thất thường. Thi đấu không tốt ở giải vô địch quốc gia và lại thua Alemannia Aachen ở cúp quốc gia, huấn luyện viên Magath bị sa thải một thời gian ngắn sau kỳ nghỉ đông.[26]

Bayern gặp São Paulo vào năm 2007.

Cựu huấn luyện viên Ottmar Hitzfeld trở lại Munich vào tháng 1 năm 2007, nhưng Bayern chỉ về đích ở vị trí thứ 4 ở mùa giải 2006-07, và không được dự Cúp C1 lần đầu sau hơn một thập kỷ. Việc không vô địch Cúp quốc gia và Cúp liên đoàn khiến họ có một mùa giải trắng tay. Ở mùa giải 2007-08, Bayern Munich có những sự thay đổi lớn về đội hình để xây dựng lại. Họ mua về 8 cầu thủ mới và bán, sa thải hoặc cho mượn 9 cầu thủ khác. Các danh thủ về với đội bao gồm Hamit Altintop từ Schalke 04, Luca Toni từ ACF Fiorentina, Miroslav Klose từ Werder Bremen, và bản hợp đồng kỷ lục Franck Ribéry từ Olympique Marseille.[27] Những bản hợp đồng mới đã có hiệu quả, và Bayern vô địch DFB-Pokal 2008 và Bundesliga, đứng đầu bảng trong mọi vòng đấu của mùa giải.[28]

Vào ngày 11 tháng 1 năm 2008 Jürgen Klinsmann được chọn làm người kế nhiệm Hitzfeld, nắm quyền ở đội bóng từ ngày 1 tháng 7 năm 2008. Ông ký hợp đồng 2 năm với đội bóng.[29] Trong giai đoạn lượt đi của Bundesliga 2008-09, Bayern có một sự khởi đầu phập phù, chỉ thắng 2 trận cho tới vòng đấu thứ 6, nhưng về sau bắt đầu tăng tốc. Bayer Leverkusen loại Bayern ở tứ kết DFB-Pokal. Ở cúp C1 Bayern cũng vào tới tứ kết. Họ bị FC Barcelona loại sau khi đứng đầu bảng F và đánh bại Sporting Clube de Portugal ở vòng loại trực tiếp với tổng tỉ số kỷ lục là 12-1. Vào ngày 27 tháng 4, hai ngày sau trận thua Schalke trên sân nhà khiến Bayern bị tụt xuống vị trí thứ 3, Klinsmann bị sa thải. Đây là hệ quả của những kết quả đáng thất vọng như trận thua với tổng tỉ số 5-1 trước Barcelona ở cúp C1, và trận thua 5-1 trước VfL Wolfsburg. Cựu huấn luyện viên Jupp Heynckes được bổ nhiệm làm người thay thế cho tới cuối mùa giải.[30] Bayern cuối cùng về đích ở vị trí thứ nhì, và được vào thẳng vòng bảng cúp C1 2009-10.

Bayern sau đó ký hợp đồng với huấn luyện viên Louis Van Gaal ở mùa giải 2009-10 từ AZ Alkmaar. Trong khi vẫn đang bị hoài nghi về những trận đấu với kết quả nghèo nàn, Van Gaal dẫn dắt Bayern vào tới vòng 1/16 cúp C1 bằng chiến thắng 4-1 trước JuventusTorino.[31] Họ gặp Fiorentina ở vòng 1/16. Vào ngày 9 tháng 3, họ thua 3-2 trước câu lạc bộ này nhưng vẫn vào tứ kết nhờ luật bàn thắng sân khách. Ở tứ kết họ gặp MU, Bayern cũng giành được kết quả tương tự như trận gặp Fiorentina, họ hoà ManU với tổng tỉ số 4-4 và vào bán kết Cúp C1 nhờ luật bàn thắng sân khách, sau khi thắng 2-1 ở lượt đi và thua 3-2 ở lượt về. Vào ngày 27 tháng 4 năm 2010, Bayern đánh bại Olympique Lyonnais 3-0 sau khi thắng 1-0 ở trận lượt đi. Kết quả đó đưa Bayern tới trận chung kết Cúp C1 2009-10. Vào ngày 8 tháng 5 năm 2010, Bayern vô địch Bundesliga 2009-10 sau khi thắng 3-1 trước Hertha BSC Berlin.[32]

Cú ăn ba lịch sử (mùa giải 2012-2013)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 6 tháng 4 năm 2013, Bayern München dành chức vô địch Bundesliga mùa giải 2012–13 sau chiến thắng 1–0 trước câu lạc bộ Eintracht Frankfurt trong khi giải vẫn còn sáu vòng, qua đó thiết lập kỷ kục mới khi trở thành đội bóng dành chức vô địch Bundesliga sớm nhất.[33] Bayern München đã đánh bại Borussia Dortmund với tỷ sô 2–1 trong trận chung kết Chung kết UEFA Champions League 2013 diễn ra vào ngày 25 tháng 5 năm 2013.[34] Ngày 01 tháng 6 năm 2013, Bayern vượt qua VfB Stuttgart trong trận chung kết Cúp Quốc Gia Đức với tỷ số chung cuộc 3-2 sau 90 phút thi đấu, qua đó hoàn tất cú ăn ba lịch sử và họ cũng là câu lạc bộ Đức đầu tiên giành được cú ăn ba trong một mùa giải.

Sau đó, Bayern cũng chiến thắng Siêu cúp bóng đá châu ÂuCúp vô địch thế giới các câu lạc bộ, nghĩa là cú ăn 5, chiến thắng tất cả các giải bóng đá quan trọng mà 1 đội bóng có thể đạt được trong cùng 1 mùa giải.

Màu áo[sửa | sửa mã nguồn]

Khi câu lạc bộ mới thành lập, màu áo chủ đạo mà Bayern chọn là màu trắng và xanh da trời, nhưng cho đến năm 1905, họ lại dùng màu áo trắng và quần đen cho tới thời điểm mà Bayern gia nhập MSC. MSC quyết định rằng các cầu thủ phải chơi với quần short màu đỏ. Một số cầu thủ trẻ được gọi là những quần đùi đỏ, điều đó có nghĩa như một lời lăng mạ.[1] Bayern đã dùng trang phục đỏ và trắng trong phần lớn lịch sử tồn tại của mình, nhưng màu xanh cũng được sử dụng. Ở mùa giải 1969-70 màu áo là sọc xanh trắng, và quần cùng tất đều màu xanh. Một kiểu tương tự cũng xuất hiện vào năm 1995, khi màu xanh lần đầu tiên là màu chủ đạo. Từ năm 1999 trở đi Bayern lại dùng màu áo truyền thống của họ.[4]

Màu áo sân khách của đội bóng đã được thay đổi theo hàng năm, bao gồm trắng, đen, xanh và vàng-xanh. Bayern cũng sử dụng một bộ trang phục khi thi đấu quốc tế riêng. Vào năm 2009, trang phục ở sân nhà là màu đỏ, sân khách là màu xanh đậm, và trang phục thi đấu quốc tế là màu trắng.[35]

Vào những năm 1980 và 90, Bayern sử dụng bộ trang phục sân khách đặc biệt khi gặp 1. FC Kaiserslautern, đó là màu áo giống của tuyển Brazil là xanh và vàng, một sự mê tín đã được sinh ra khi người ta tin rằng họ thường khó thắng tại Kaiserslautern và cần một trang phục đặc biệt.[36]

1 vài mẫu áo trong quá khứ[sửa | sửa mã nguồn]

1974 and 1976 European Cup Finals
1975 and 1982 European Cup Finals
1987
European Cup Final
1996 UEFA Cup Final
(Second leg)
1999 DFB-Pokal Final
1999–2000 and 2000–01 Bundesliga winners
2003 DFB-Pokal Final

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng của Bayern đa từng được thay đổi nhiều lần trong lịch sử câu lạc bộ. Biểu trưng gốc gồm 4 chữ F, C, B, M, màu xanh được cách điệu hóa và lồng vào nhau. Màu cờ của bang Bavaria lần đầu tiên được đưa vào biểu trưng của đội từ năm 1954.[4]

Mẫu biểu trưng hiện đại của đội bắt đầu được vẽ vào năm 1954 và trải qua nhiều bước thay đổi.[4] Thời gian đầu biểu trưng chỉ đơn sắc, màu xanh hoặc màu đỏ, cho đến đa sắc như hiện nay. Biểu trưng hiện tại (được chọn từ năm 2008) gồm ba màu xanh dương, đỏ, và trắng. Màu cờ của bang Bavaria nằm ở giữa biểu trưng, chữ FC Bayern München được viết bằng màu trắng, trong vòng tròn đỏ, được bọc trong một vòng tròn xanh, màu của Bavaria.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Sân Olympic, sân nhà của Bayern Munich từ năm 1972 cho tới năm 2005

Khi mới thành lập, Bayern tập luyện tại Schyrenplatz nằm ở trung tâm thành phố Munich. Các trận đấu chính thức đầu tiên của đội được tổ chức tại Theresienwiese. Từ năm 1901, Bayern chuyển tới sân riêng của mình, nằm ở phố Clemensstraße trong khu Schwabing. Sau khi gia nhập Münchner Sport-Club (MSC) vào năm 1906, Bayern chuyển về thi đấu từ tháng 5 năm 1907 tại khuôn viên của MSC nằm trên phố Leopoldstraße.[37] Kể từ đầu những năm 1920 khi lượng khán giả sân nhà của đội tăng lên, Bayern chuyển địa điểm thi đấu tại nhiều nơi trong Munich.[38]

Từ năm 1925, Bayern chung sân Grünwalder Stadion với câu lạc bộ 1860 Munich.[39] Cho đến thế chiến thứ hai, sân vận động thuộc quyền sở hữu của 1860 Munich, và thường được gọi là Sechz'ger (có nghĩa là "60"). Sân bị phá hủy trong chiến tranh, và các nỗ lực phục hồi lại nó khiến nó sau đó rất chắp vá. Kỷ lục về số khán giả trong một trận đấu của Bayern tại sân Grünwalder Stadion là 50.000 người trong trận gặp 1. FC Nuremberg ở mùa giải 1961–62.[40] Khi Bundesliga được thành lập, sức chứa tối đa của sân là 44.000 chỗ. Sức chứa hiện tại của sân là 21.272 chỗ, được các đội hình hai của cả Bayern và 1860 Munich sử dụng.[41][42]

Cho các trận đấu của Bayern trên sân nhà, Allianz Arena sẽ bật đèn màu đỏ.

Để tổ chức Thế vận hội mùa hè 1972, thành phố Munich cho xây dựng Sân Olympic. Sân vận động được khánh thành vào vòng đấu cuối cùng của Bundesliga 1971–72. 79.000 khán giả chật kín sân theo dõi trận đấu. Sân Olympic, trong những năm đầu, được coi là một trong những sân hiện đại nhất thế giới, và được chọn tổ chức nhiều trận chung kết lớn, như trận chung kết World Cup 1974.[43] Những năm sau đó sân vận động có nhiều thay đổi, như tăng tỉ lệ số chỗ ngồi từ khoảng 50% lên xấp xỉ 66%. Sân có sức chứa 63.000 chỗ cho các trận đấu cấp quốc gia, và 59.000 cho các trận đấu quốc tế. Nhưng với nhiều người có than phiền rằng sân quá lạnh vào mùa đông, vì chỉ có hơn nửa số chỗ nằm trong khu vực có mái che. Những phàn nàn khác rằng khoảng cách giữa khán giả và sân đấu quá xa, vì ngăn giữa khán đài và sân là đường đua điền kinh. Những mong muốn sửa đổi sân vận động đều không thể vì kiến trúc sư Günther Behnisch hầu như luôn dùng quyền phủ quyết.[44]

Sau nhiều thảo luận, cuối cùng thành phố Munich, bang Bavaria, Bayern Munchen, và TSV 1860 cùng đồng ý vào cuối năm 2000 là sẽ xây dựng một sân vận động mới. Việc Đức giành được quyền đăng cai World Cup 2006 đẩy nhanh mọi việc vì sân Olympic không còn đủ các tiêu chuẩn của FIFA được tổ chức một trận đấu trong khuôn khổ World Cup nữa. Sân Allianz Arena được xây dựng tại phía Bắc thành phố và đưa vào sử dụng từ đầu mùa giải 2005–06.[44]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng đá chuyên nghiệp của Bayern được điều hành bởi tổ chức có tên gọi FC Bayern München AG. AG là chữ viết tắt của Aktiengesellschaft (công ty cổ phần), và Bayern được điều hành giống như một công ty cổ phần, nhưng cổ phiếu của công ty không niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán mà thuộc về sở hữu tư nhân. 81,82% của FC Bayern München AG được chính câu lạc bộ sở hữu, FC Bayern München e. V. (e. V. là chữ viết tắt của Eingetragener Verein (Hội đoàn đã được đăng ký). Phần còn lại được chia đều cho hai công ty Adidas, và Audi mỗi công ty sở hữu 9,09% số cổ phiếu của Bayern và cũng là những nhà tài trợ lớn cho câu lạc bộ.[8] Adidas mua số cổ phiếu vào năm 2002 với tổng số tiền là 77 triệu và số tiền này dùng để đầu tư xây sân Allianz Arena.[45] Năm 2009, Audi đã bỏ ra 90 triệu € để mua cổ phần của mình và số vốn này dùng để trả khoản nợ xây dựng sân Allianz Arena nhanh hơn kế hoạch ban đầu.[8]

Hoạt động từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Bayern đã tham gia nhiều dự án hợp tác với mục đích từ thiện trong một thời gian dài, giúp câu lạc bộ bóng đá khác trong tình trạng hỗn loạn tài chính (như từng giúp FC St. Pauli, Borussia Dortmund, Dynamo Dresden) cũng như những người bình thường lúc họ khó khăn. Lúc xảy ra Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, "FC Bayern - Hilfe eV" được thành lập, một nền tảng nhằm mục đích tập trung các cam kết xã hội và hoạt động từ thiện của câu lạc bộ,[46] và khi thành lập Hội này được tài trợ với 600.000 €, là tiền đóng góp của các quan chức và các cầu thủ của câu lạc bộ.[47] Số tiền này được sử dụng để xây dựng một trường học ở Marathenkerny, Sri Lanka [47] và khu vực Trincomalee, Sri Lanka.

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 3 tháng 9 năm 2014[48]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Đức TM Manuel Neuer
3 Tây Ban Nha TV Xabi Alonso
4 Brasil HV Dante
5 Maroc HV Mehdi Benatia
6 Tây Ban Nha TV Thiago Alcântara
7 Pháp TV Franck Ribéry
8 Tây Ban Nha TV Javi Martínez
9 Ba Lan Robert Lewandowski
10 Hà Lan TV Arjen Robben
11 Thụy Sĩ TV Xherdan Shaqiri
13 Brasil HV Rafinha
14 Peru Claudio Pizarro
17 Đức HV Jérôme Boateng
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
18 Tây Ban Nha HV Juan Bernat
19 Đức TV Mario Götze
20 Đức TV Sebastian Rode
21 Đức HV Philipp Lahm (Đội trưởng)
22 Đức TM Tom Starke
23 Tây Ban Nha TM Pepe Reina
25 Đức Thomas Müller
24 Đức TV Sinan Kurt
27 Áo HV David Alaba
28 Đức HV Holger Badstuber
31 Đức TV Bastian Schweinsteiger (Đội phó)
34 Đan Mạch TV Pierre Højbjerg

Chuyển nhượng mùa 2014/15[sửa | sửa mã nguồn]

Thêm
Quốc tịch Tên Đội cũ Thời điểm
 Tây Ban Nha Juan Bernat FC Valencia Hè 2014
 Ba Lan Robert Lewandowski Borussia Dortmund
Flag of Germany.svg Đức Sebastian Rode Eintracht Frankfurt
class="wikitable" style="float:right;" width="48%"
Bớt
Quốc tịch Tên Đội mới Thời điểm
Flag of Germany.svg Đức Toni Kroos Real Madrid Hè 2014
 Croatia Mario Mandžukić Atlético Madrid
Flag of Germany.svg Đức Lukas Raeder Vitória Setúbal
 Bỉ Daniel Van Buyten không rõ

Số áo bất tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • 12: Bayern là một trong những đội bóng đã treo vĩnh viễn chiếc áo số 12. Số áo này được dành tặng cho các cổ động viên Bayern như một lời tri ân và coi họ là một phần của đội bóng.

Thành viên nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng danh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng danh dự (Hall of fame) trên trang web chính thức của câu lạc bộ hiện ghi danh 16 thành viên nổi bật trong lịch sử câu lạc bộ.[49]

Đội trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các đội trưởng của Bayern München kể tử năm 1965:

Cầu thủ vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 23 cầu thủ từng vô địch thế giới trong thời gian khoác áo Bayern München, trừ Bixente Lizarazu (vô địch thế giới cùng đội tuyển Pháp) và Jorginho (vô địch thế giới cùng Brasil), các cầu thủ còn lại đều vô địch thế giới khi khoác áo đội tuyển Đức:

Cầu thủ vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Đã có 17 cầu thủ từng vô địch châu Âu trong thời gian khoác áo Bayern München, ngoài Bixente Lizarazu (vô địch châu Âu cùng tuyển Pháp) và Brian Laudrup (vô địch châu Âu cùng tuyển Đan Mạch), các cầu thủ còn lại đều vô địch châu Âu cùng đội tuyển Đức:

Quả bóng vàng châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu khi đang chơi cho Bayern München:

Chiếc giày vàng châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Chiếc giày vàng châu Âu khi đang chơi cho Bayern München:

Thủ môn xuất sắc nhất năm của IFFHS[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Thủ môn xuất sắc nhất năm của IFFHS khi đang chơi cho Bayern München:

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của UEFA[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của UEFA khi đang chơi cho Bayern München:

Thủ môn xuất sắc nhất năm của UEFA[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Thủ môn xuất sắc nhất năm của UEFA khi đang chơi cho Bayern München:

Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đức khi đang chơi cho Bayern München:

Vua phá lưới Bundesliga[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ đoạt giải Vua phá lưới Bundesliga khi đang chơi cho Bayern München:

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các huấn luyện viên cùa Bayern kể từ ngày đội tham dự Bundesliga.[50] và danh sách chủ tịch câu lạc bộ [51] kể từ ngày thành lập:

30px
Ban lãnh đạo của Bayern München

Huấn luyện viên



Chủ tịch CLB

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern là câu lạc bộ giàu thành tích nhất của bóng đá Đức, đội đang giữ kỷ lục về số lần vô địch quốc giacúp quốc gia. Tại đấu trường quốc tế, thành tích của đội còn ấn tượng hơn với 8 danh hiệu lớn.[52] Bayern là một trong năm câu lạc bộ giành đủ cả ba cúp châu Âu, đồng thời là câu lạc bộ cuối cùng vô địch cúp C1 ba lần liên tiếp, vì thành tích này, đội được quyền mang mác áo của đội nhiều lần giành chức vô địch trong các trận đấu trong khuôn khổ Champions League.

Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia

52 danh hiệu

1931–32, 1968–69, 1971–72, 1972–73, 1973–74, 1979–80, 1980–81, 1984–85, 1985–86, 1986–87,
1988–89, 1989–90, 1993–94, 1996–97, 1998–99, 1999–00, 2000–01, 2002–03, 2004–05, 2005–06,
2007–08, 2009–10, 2012-13, 2013-14
1957, 1966, 1967, 1969, 1971, 1982, 1984, 1986, 1998, 2000,
2003, 2005, 2006, 2008, 2010, 2013, 2014
1983[53], 1987, 1990, 2010, 2012
1997, 1998, 1999, 2000, 2004, 2007
Quốc tế

11 danh hiệu

1974, 1975, 1976, 2001, 2013
1967
1996
1976, 2001
2013
2013

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 17–33. ISBN 389533426X. 
  2. ^ a ă â b “Success from the Outset”. FC Bayern Munich Official Website. 2003. Truy cập 11 tháng 8 năm 2008. 
  3. ^ a ă Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 134. ISBN 389533426X. 
  4. ^ a ă â b Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 581. ISBN 389533426X. 
  5. ^ [1], 2013-11-13.
  6. ^ “Jahresabschluss der FC Bayern München AG” (bằng tiếng Đức). FC Bayern München. 7 tháng 11 năm 2008. Truy cập 9 tháng 11 năm 2008. 
  7. ^ “Membership boom”. FC Bayern Munich. 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  8. ^ a ă â “FCB in profit for the 17th year in a row”. FC Bayern Munich Official Website. 27 tháng 11 năm 2009. Truy cập 11 tháng 12 năm 2009. 
  9. ^ “Bayern Munich”. Deloitte LLP. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2013. 
  10. ^ “Other Sports”. FC Bayern Munich Official Website. 2007. Truy cập 3 tháng 7 năm 2008. 
  11. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 30–40. ISBN 389533426X. 
  12. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 51–63. ISBN 389533426X. 
  13. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 101–2. ISBN 389533426X. 
  14. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 105–120. ISBN 389533426X. 
  15. ^ a ă â “A Period of Reconstruction”. FC Bayern Munich Official Website. 2003. Truy cập 11 tháng 8 năm 2008. 
  16. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 120–126. ISBN 389533426X. 
  17. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 155–158. ISBN 389533426X. 
  18. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 165–171. ISBN 389533426X. 
  19. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 190–198. ISBN 389533426X. 
  20. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 214–226. ISBN 389533426X. 
  21. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 226–267. ISBN 389533426X. 
  22. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 273–299. ISBN 389533426X. 
  23. ^ “Forward into the next Millenium”. FC Bayern Munich Official Website. 2003. Truy cập 11 tháng 8 năm 2008. 
  24. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 307–345. ISBN 389533426X. 
  25. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 351–433. ISBN 389533426X. 
  26. ^ “Bayern part company with Felix Magath”. FC Bayern Munich Official Website. 31 tháng 1 năm 2007. Truy cập 15 tháng 7 năm 2008. 
  27. ^ Bayern Magazin: 1/59, pages: 16-21, 2007-08-11 (in German)
  28. ^ “Fussballdaten - Zahlen, Texte, Bilder” (bằng tiếng Đức). fussballdaten.de. 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập 15 tháng 7 năm 2008. 
  29. ^ “Jürgen Klinsmann to succeed Hitzfeld at Bayern”. The official FC Bayern Munich website. 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập 11 tháng 1 năm 2008. 
  30. ^ “Bayern part company with Jürgen Klinsmann”. The official FC Bayern Munich website. 27 tháng 4 năm 2009. Truy cập 27 tháng 4 năm 2009. 
  31. ^ http://www.fcbayern.t-home.de/en/saison/fixtures/profis/16311.php
  32. ^ “Bayern celebrate title with win”. ESPN. 8 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2010. 
  33. ^ “Records fall as Bayern seal stunning title triumph”. FC Bayern Munich. 6 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2013. 
  34. ^ “UEFA Champions League 2013 - Dortmund-Bayern Players – UEFA.com”. 
  35. ^ “Kits / Adidas Collection”. FC Bayern Fan-Shop. Tháng 8 năm 2008. Truy cập 13 tháng 8 năm 2008. 
  36. ^ 1. FC Kaiserslautern versus FC Bayern Munich - all games since 1963 Weltfussball.de, truy cập: 15 tháng 5 năm 2009
  37. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 451–452. ISBN 389533426X. 
  38. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 55. ISBN 389533426X. 
  39. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 453–455. ISBN 389533426X. 
  40. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 122. ISBN 389533426X. 
  41. ^ “Das Grünwalder Stadion” (bằng tiếng Đức). FC Bayern Munich Official Website. 2005. Truy cập 11 tháng 8 năm 2008. 
  42. ^ “Sportliche Höhepunkte in der Geschichte des Sechz'gers” (bằng tiếng Đức). Freunde des Sechz'ger Stadions e.V. 2007. Truy cập 14 tháng 7 năm 2008. 
  43. ^ “The Olympic Stadium - Event Highlights”. Olympiapark München GmbH. 31 tháng 12 năm 2007. Truy cập 12 tháng 7 năm 2008. 
  44. ^ a ă Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 463–469. ISBN 389533426X. 
  45. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng German). Die Werkstatt. tr. 473–474. ISBN 389533426X. 
  46. ^ “FC Bayern Hilfe e.V.” (bằng German). FC Bayern Munich official website. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2009. 
  47. ^ a ă “FC Bayern Hilfe e.V.” (bằng German). FC Bayern Fanclub Hofherrnweiler e.V. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2009. 
  48. ^ “FC Bayern München – First Team”. fcbayern.de. 2014. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2014. 
  49. ^ “FC Bayern - Hall of Fame” (bằng tiếng Đức). www.fcbayern.t-home.de. 
  50. ^ Schulze-Marmeling, Dietrich (2003). Die Bayern. Die Geschichte des deutschen Rekordmeisters (bằng tiếng Đức). Die Werkstatt. tr. 595. ISBN 389533426X. 
  51. ^ “Bayern members' club presidents”. 21 tháng 5 năm 2010. 
  52. ^ “Klubstatistik”. FC Bayern Munich Official Website. Tháng 6 năm 2008. Truy cập 11 tháng 8 năm 2008. 
  53. ^ Giải đấu không chính thức

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

|}