Miroslav Klose
| Thông tin cá nhân | |||
|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Miroslav Josef Klose[1] | ||
| Ngày sinh | 9 tháng 6, 1978 | ||
| Nơi sinh | Opole, Ba Lan | ||
| Chiều cao | 1,84 m (6 ft 0 in)[2] | ||
| Vị trí | Tiền đạo | ||
| Thông tin về CLB | |||
| CLB hiện nay | Lazio | ||
| Số áo | 11 | ||
| CLB trẻ | |||
| 1987–1998 | SG Blaubach-Diedelkopf | ||
| CLB chuyên nghiệp* | |||
| Năm | CLB | Số trận† | (bàn thắng)† |
| 1998–1999 | FC Homburg | 18 | (1) |
| 1999–2001 | 1. FC Kaiserslautern II | 50 | (26) |
| 1999–2004 | 1. FC Kaiserslautern | 120 | (44) |
| 2004–2007 | Werder Bremen | 89 | (53) |
| 2007–2011 | Bayern Munich | 98 | (24) |
| 2011– | Lazio | 33 | (18) |
| Đội tuyển quốc gia‡ | |||
| 2001– | Đức | 126 | (67) |
| * Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia và cập nhật ngày 7 tháng 10, 2012 (UTC). † Số trận khoác áo (số bàn thắng). |
|||
Miroslav Klose (tên khai sinh là Mirosław Marian Kloze[3]), sinh ngày 9 tháng 6 năm 1978 tại Opole, Silesia, Ba Lan, là cầu thủ bóng đá người Đức gốc Ba Lan thi đấu ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Lazio tại Serie A và Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Anh là vua phá lưới World Cup 2006 tổ chức tại Đức với 5 bàn thắng và là một chuyên gia ghi bàn bằng đầu.
Mục lục |
Sự nghiệp thi đấu tại câu lạc bộ[sửa]
Klose sinh tại Opole, Ba Lan. Anh sinh ra trong một gia đình có truyền thống thể thao: mẹ anh, Barbara Jeż là thành viên của đội tuyển bóng ném quốc gia Ba Lan. Cha anh Josef Klose thi đấu bóng đá chuyên nghiệp tại Ba Lan cho Odra Opole trước khi ông rời Ba Lan năm 1978 để đến Pháp gia nhập AJ Auxerre. Năm 1985, Miroslav và mẹ chuyển đến Kusel, Đức. Cha của Klose là người Đức nên họ đã được chấp nhận định cư tại Tây Đức.[4]
Klose bắt đầu đá bóng tại câu lạc bộ địa phương Blaubach-Diedelkopf, thi đấu ở giải hạng 7 Đức. Anh còn hoàn thành 1 khóa học nghề thợ mộc và từng làm nghề này 1 thời gian trước khi kí hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp cho FC Kaiserslautern.
Kaiserslautern[sửa]
Trước khi gia nhập FC Kaiserslautern, Klose còn có khoảng thời gian thi đấu cho FC Homburg. Tại Kaiserslautern, Klose đã thi đấu trong 5 năm từ 1999 đến 2004. Trong 67 trận đầu tiên, anh đã ghi được 33 bàn. Trước khi chuyển đến Werder Bremen, anh đã có 52 bàn trong 145 trận thi đấu. Thành tích ghi bàn tại Kaiserslautern đã giúp anh được gọi vào đội tuyển Đức dự World Cup 2002.
Werder Bremen[sửa]
Klose chuyển đến Werder Bremen vào năm 2004 với giá chuyển nhượng 5 triệu €. Tại đây anh đã cùng tiền vệ người Pháp Johan Micoud, tiền đạo người Croatia Ivan Klasnić và kẻ cả tiền đạo người Paraguay Nelson Valdez tạo thành một hàng tấn công cực mạnh và mùa giải đầu tiên cho Bremen anh ghi được 15 bàn.
Với khả năng đánh đầu của mình, Klose trở thành một trong những tiền đạo đáng sợ nhất của giải Bundesliga. Mùa giải 2005-2006, anh ghi được 25 bàn trong 26 lần ra sân, trở thành vua phá lưới Bundesliga mùa giải năm đó. Anh còn có 16 đường chuyền thành bàn cho đồng đội. Thành tích này cũng giúp anh trở thành Cầu thủ xuất sắc nhất Bundesliga mùa giải 2005-2006.[5] Đầu mùa giải 2006-2007, anh lại cùng Bremen lần đầu giành League Cup Đức.
Sau màn trình diễn tuyệt vời tại World Cup 2006 với đội tuyển Đức, Klose trở thành mục tiêu săn đuổi của các câu lạc bộ bóng đá hàng đầu Châu Âu như Barcelona, Juventus và nhất là Bayern Munich, câu lạc bộ vừa trải qua 1 mùa giải không thành công và đang muốn cải tổ lại toàn bộ. Chủ tịch Bayern Franz Beckenbauer đã thuyết phục Klose đến Bayern và cuối cùng vào ngày 7 tháng 6 năm 2007, Klose tuyên bố sẽ rời Werder Bremen và câu lạc bộ đành bán anh trước khi anh trở thành cầu thủ tự do khi hợp đồng giữa anh và câu lạc bộ kết thúc vào cuối mùa giải 2007-2008. Trước khi đến Bayern, Klose đã có 64 bàn qua 132 trận thi đấu cho Bremen.
Bayern Munich[sửa]
Ngày 26 tháng 6 năm 2007, Karl-Heinz Rummenigge tuyên bố Bayern Munich đã thành công trong vụ chuyển nhượng Klose và giá trị bản hợp đồng là 15 triệu € cùng thời hạn là 4 năm. Ngày 28 tháng 6, anh hoàn thành kì kiểm tra y tế và chính thức trở thành cầu thủ Bayern.[6]
Klose có trận đầu tiên cho Bayern trong trận chính gặp đội bóng cũ Werder Bremen tại DFB-Ligapokal. Sau đó anh không dự trận gặp VfB Stuttgart vì chấn thương nhưng trong trận chung kết gặp Schalke 04, anh đã ghi bàn góp phần giúp Bayern giành ngôi vô địch.
Tại Bayern, Klose đá cặp với tiền đạo người Ý Luca Toni và tiền đạo người Đức Lukas Podolski. Anh có trận đầu tiên tại Bundesliga trong trận gặp Hansa Rostock vào ngày 11 tháng 8 năm 2007 và anh đã ghi được 2 bàn trong chiến thắng 3-0 của Bayern. Cuối tháng 9, anh lập hat-trick trong trận Bayern thắng Energie Cottbus 5-0.
Mùa giải đầu tiên, Klose cùng Bayern giành được cú đúp vô địch Bundeslia và cúp quốc gia Đức nhưng thành tích ghi bàn của anh có phần giảm sút so với các mùa giải trước. Anh ghi được 10 bàn tại Bundesliga và 5 bàn tại UEFA Cup.
Cuối mùa giải 2011-12, không đạt được thỏa thuận ký hợp đồng mới với Bayern, Klose đã rời đội bóng nước Đức sau 4 năm, với 24 bàn trong 98 trận tại Bundesliga.[7]
Lazio[sửa]
Klose đã ký hợp đồng hai năm với Lazio vào ngày 9 tháng 6 năm 2011. Lazio là đội bóng đầu tiên bên ngoài nước Đức mà Klose thi đấu.[8] Klose có bàn thắng đầu tiên cho Lazio trong chiến thắng 6-0 trước FK Rabotnički ở vòng sơ loại UEFA Europa League 2012, đồng thời còn kiến tạo 4 bàn thắng khác. Chung cuộc Lazio thắng Rabotnicki 9-1 sau hai lượt đi về.[9]
Sự nghiệp thi đấu tại đội tuyển quốc gia[sửa]
Trong màu áo Kaiserslautern, Klose ngày càng được chú ý vì khả năng ghi bàn của mình. Tháng 1 năm 2001, huấn luyện viên trưởng đội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan lúc đó là Jerzy Engel đã đến Đức để thuyết phục anh chơi cho Ba Lan. Nhưng Klose đã từ chối và nói anh quyết định sẽ thi đấu cho đội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Ngày 24 tháng 3 năm 2001, anh thi đấu trận đầu tiên cho đội tuyển Đức dưới thời huấn luyện viên Rudi Völler trong trận gặp Albania.[10] Anh vào sân từ băng ghế dự bị và ghi bàn thắng ấn định tỉ số 2-1 cho Đức từ pha đánh đầu ở cự li gần.[11]
World Cup 2002[sửa]
Tại World Cup 2002 tổ chức tại Hàn Quốc và Nhật Bản, Klose đã có 5 bàn thắng và tất cả đều từ những pha dứt điểm bằng đầu và đều diễn ra ở vòng đấu bảng. Trận đầu tiên anh lập hat-trick trong chiến thắng 8-0 của Đức trước Ả Rập Saudi.[12] Tiếp theo là bàn thắng trong trận hoà Ireland 1-1[13] và cuối cùng là trong chiến thắng 2-0 trước Cameroon.[14] Tại giải này, Đức đã lọt vào đến trận chung kết và thua Brasil 2-0, giành ngôi á quân thế giới.
World Cup 2006[sửa]
World Cup 2006 tổ chức tại Đức lại 1 lần nữa chứng kiến sự toả sáng của Klose. Trong trận khai mạc gặp Costa Rica vào ngày 9 tháng 6 cũng là sinh nhật lần thứ 28 của mình, Klose đã lần lượt ghi 2 bàn ở phút 17 và 61 mang về chiến thắng 4-2 cho người Đức để được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[15] Rồi trong trận cuối cùng của vòng bảng gặp Ecuador vào ngày 20 tháng 6, anh tiếp tục ghi 2 bàn nữa.
Tại vòng đấu loại trực tiếp, anh không ghi bàn trong chiến thắng 2-0 trước Thụy Điển nhưng vẫn được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[16] Tại trận tứ kết gặp Argentina, anh ghi bàn thắng vô cùng quan trọng ở phút 81 khi Đức đang bị dẫn trước 1-0. Sau đó Đức giành thắng lợi 4-2 trong loạt sút luân lưu để vào bán kết và dừng bước trước đội tuyển Ý với tỉ số 2-0. Chung cuộc người Đức giành hạng ba sau thắng lợi trước Bồ Đào Nha và Klose trở thành cầu thủ Đức thứ hai sau Gerd Müller đoạt danh hiệu vua phá lưới World Cup hay Chiếc giày vàng.[17] Anh còn cùng đồng đội Michael Ballack còn được bầu chọn vào đội hình tiêu biểu của World Cup.
Ngày 6 tháng 9 năm 2006, Klose ghi 2 bàn trong chiến thắng 13-0 của Đức trước san Marino tại vòng loại Euro 2008. Hai bàn thắng này đưa tổng số bàn thắng của anh cho đội tuyển lên con số 33, bằng với cựu danh thủ Fritz Walter và giúp anh xếp hạng 7 trong số những tay săn bàn hàng đầu của bóng đá Đức. Ngày 8 tháng 9 năm 2007, Klose lần đầu tiên mang băng đội trưởng đội tuyển Đức trong trận gặp Wales và anh ghi cả 2 bàn trong trận đấu đó, giúp Đức thắng 2-0.
Euro 2008[sửa]
Klose tiếp tục có tên trong 23 cầu thủ Đức tham dự Euro 2008 của huấn luyện viên Joachim Löw. Trận đầu tiên gặp Ba lan vào ngày 8 tháng 6 2008, Klose không trực tiếp ghi bàn nhưng cả 2 bàn thắng của Lukas Podolski đều có dấu ấn của Klose. 2 trận còn lại của vòng bảng gặp Croatia và Áo anh cũng không ghi bàn.
Tại vòng tứ kết ngày 19 tháng 6 gặp Bồ Đào Nha , Klose ghi bàn nâng tỉ số trận đấu lên 2-0 ở phút 26 từ pha đá phạt của Bastian Schweinsteiger. Chung cuộc Đức thắng Bồ Đào Nha 3-2.[18]
Tại vòng bán kết gặp Thổ Nhĩ Kỳ, bàn thắng của Klose ở phút 79 giúp Đức có được lợi thế dẫn bàn 2-1 và người chuyền bóng cho anh ghi bàn là Philipp Lahm. Tuy nhiên bàn bàn thắng này của anh cũng nhờ pha ra vào không hợp lý của thủ môn Rüştü Reçber bên phía Thổ Nhĩ Kỳ. Chung cuộc Đức thắng 3-2 và lọt vào chung kết.[19]
Tại trận chung kết Euro 2008, trận chung kết giải đấu lớn thứ 2 của Klose sau trận chung kết World Cup 2002 gặp Brasil, Đức lại một lần nữa thất bại và lần này là trước Tây Ban Nha. Bàn thắng duy nhất trong trận đấu của Fernando Torres ở phút 33 khiến Klose và các đồng đội bỏ lỡ cơ hội có được danh hiệu vô địch Euro lần đầu tiên. Anh còn bị thay ra ở cuối hiệp 2 để nhường chỗ cho tiền đạo Mario Gomez của VfB Stuttgart.
World Cup 2010[sửa]
Klose là một trong 23 cầu thủ Đức tham dự World Cup 2010 và đây là kì World Cup lần thứ ba trong sự nghiệp của anh.[20] Ngay trong trận mở màn thắng Úc 4-0, Klose đã nâng tỉ số trận đấu lên 2-0 bằng quả đánh đầu từ đường chuyền của Philipp Lahm.[21] Tuy nhiên, ở trận đấu tiếp theo với Serbia, anh bị truất quyền thi đấu ở phút thứ 37 của trận đấu vì nhận hai thẻ vàng. Không quá một phút sau khi Klose rời sân, tiền vệ Serbia Milan Jovanovic đã ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu.[22]
Đến ngày 27 tháng 6, trong trận đấu tại vòng 2 với đội tuyển Anh, Klose đã ghi bàn thắng mở tỉ số với pha thoát xuống rồi xỉa bóng vào góc lưới từ pha phát bóng dài của thủ môn Đức Manuel Neuer. Ở phút 72, khi tỉ số đã là 4-1, anh được thay ra sân bằng Mario Gomez.[23] Trận đấu tứ kết với Argentina là trận đấu thứ 100 của Klose cho đội tuyển quốc gia.[24] Anh đã ghi 2 bàn thắng trong trận này giúp Đức giành chiến thắng chung cuộc 4-0, đồng thời có được 14 bàn thắng qua 3 kỳ World Cup để đứng thứ hai trong danh sách các cầu thủ ghi nhiều bàn nhất tại World Cup, bằng với số bàn thắng của Gerd Müller và cách kỷ lục của tiền đạo Brasil Ronaldo 1 bàn.[25]
Trong trận bán kết với Tây Ban Nha, đội tuyển Đức đã để thua 1-0 và Klose cũng đã dính chấn thương khá nặng sau trận đấu này.[26] Do đó, anh đã không thể góp mặt trong trận tranh huy chương đồng với Uruguay để có thể phá vỡ kỷ lục ghi bàn của Ronaldo.[27]
Euro 2012[sửa]
Ngày 3 tháng 9 năm 2010, Klose ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu mở màn của đội tuyển Đức tại vòng loại Euro 2012 với Bỉ.[28] Trước trận Đức - Azerbaijan ở Köln ngày 7 tháng 9, anh đã được Liên đoàn bóng đá Đức trao tặng kỷ niệm chương nhân dịp anh gia nhập Câu lạc bộ 100, bao gồm những cầu thủ đã khoác áo tuyển Đức từ 100 trận trở lên.[29] Trong trận đấu này, Klose đã lập cú đúp trong chiến thắng 6-1 của đội tuyển Đức.[30]
Thống kê sự nghiệp thi đấu[sửa]
Câu lạc bộ[sửa]
Cập nhật: 7 tháng 10, 2012
| Câu lạc bộ | Mùa bóng | Giải ngoại hạng | Giải quốc gia | Cúp Châu Âu | Tổng cộng | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | Số trận | Bàn thắng | ||
| 1. FC Kaiserslautern | 1999–2000 | 2 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 |
| 2000–01 | 29 | 9 | 4 | 0 | 12 | 2 | 45 | 11 | |
| 2001–02 | 31 | 16 | 4 | 0 | - | - | 35 | 16 | |
| 2002–03 | 32 | 9 | 4 | 4 | 0 | 0 | 36 | 13 | |
| 2003–04 | 26 | 10 | 1 | 1 | 2 | 1 | 29 | 12 | |
| Tổng cộng | 120 | 44 | 13 | 5 | 14 | 3 | 147 | 52 | |
| Werder Bremen | 2004–05 | 32 | 15 | 5 | 0 | 8 | 2 | 45 | 17 |
| 2005–06 | 26 | 25 | 5 | 2 | 9 | 4 | 40 | 31 | |
| 2006–07 | 31 | 13 | 3 | 0 | 13 | 2 | 47 | 15 | |
| Tổng cộng | 89 | 53 | 13 | 2 | 30 | 8 | 132 | 63 | |
| Bayern Munich | 2007–08 | 27 | 10 | 8 | 6 | 12 | 5 | 47 | 21 |
| 2008–09 | 26 | 10 | 4 | 3 | 8 | 7 | 38 | 20 | |
| 2009–10 | 25 | 3 | 5 | 2 | 8 | 1 | 38 | 6 | |
| 2010–11 | 20 | 1 | 4 | 3 | 2 | 1 | 26 | 5 | |
| Tổng cộng | 98 | 24 | 21 | 14 | 30 | 14 | 149 | 52 | |
| Lazio | 2011–12 | 27 | 13 | 2 | 0 | 6 | 3 | 35 | 16 |
| 2012–13 | 7 | 5 | 0 | 0 | 2 | 1 | 9 | 6 | |
| Tổng cộng | 34 | 18 | 2 | 0 | 8 | 4 | 44 | 22 | |
| Tổng cộng sự nghiệp | 341 | 139 | 49 | 21 | 82 | 29 | 472 | 189 | |
* Bao gồm DFB-Ligapokal và DFL-Supercup.
Bàn thắng quốc tế[sửa]
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 24 tháng 3, 2001 | BayArena, Leverkusen, Đức | 2–1 | 2–1 | Vòng loại World Cup 2002 | |
| 2. | 28 tháng 3, 2001 | Sân vận động Olympic, Athens, Hy Lạp | 3–2 | 4–2 | Vòng loại World Cup 2002 | |
| 3. | 13 tháng 2, 2002 | Fritz Walter Stadion, Kaiserslautern, Đức | 1–1 | 7–1 | Giao hữu | |
| 4. | 13 tháng 2, 2002 | Fritz Walter Stadion, Kaiserslautern, Đức | 2–1 | 7–1 | Giao hữu | |
| 5. | 13 tháng 2, 2002 | Fritz Walter Stadion, Kaiserslautern, Đức | 4–1 | 7–1 | Giao hữu | |
| 6. | 18 tháng 5, 2002 | BayArena, Leverkusen, Đức | 1–0 | 6–2 | Giao hữu | |
| 7. | 18 tháng 5, 2002 | BayArena, Leverkusen, Đức | 2–0 | 6–2 | Giao hữu | |
| 8. | 18 tháng 5, 2002 | BayArena, Leverkusen, Đức | 4–2 | 6–2 | Giao hữu | |
| 9. | 1 tháng 6, 2002 | Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản | 1–0 | 8–0 | World Cup 2002 | |
| 10. | 1 tháng 6, 2002 | Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản | 2–0 | 8–0 | World Cup 2002 | |
| 11. | 1 tháng 6, 2002 | Sapporo Dome, Sapporo, Nhật Bản | 5–0 | 8–0 | World Cup 2002 | |
| 12. | 5 tháng 6, 2002 | Sân vận động Kashima, Kashima, Nhật Bản | 1–0 | 1–1 | World Cup 2002 | |
| 13. | 11 tháng 6, 2002 | Sân vận động Shizuoka, Shizuoka, Nhật Bản | 2–0 | 2–0 | World Cup 2002 | |
| 14. | 16 tháng 10, 2002 | AWD-Arena, Hannover, Đức | 2–1 | 2–1 | Vòng loại Euro 2004 | |
| 15. | 11 tháng 6, 2003 | Gundadalur, Tórshavn, Quần đảo Faroe | 1–0 | 2–0 | Vòng loại Euro 2004 | |
| 16. | 18 tháng 2, 2004 | Gradski stadion u Poljudu, Split, Croatia | 1–0 | 2–1 | Giao hữu | |
| 17. | 17 tháng 11, 2004 | Zentralstadion, Leipzig, Đức | 1–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 18. | 17 tháng 11, 2004 | Zentralstadion, Leipzig, Germany | 2–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 19. | 16 tháng 12, 2004 | Sân vận động International, Yokohama, Japan | 1–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 20. | 16 tháng 12, 2004 | Sân vận động International, Yokohama, Nhật Bản | 3–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 21. | 1 tháng 3, 2006 | Signal Iduna Park, Dortmund, Đức | 3–0 | 4–1 | Giao hữu | |
| 22. | 27 tháng 5, 2006 | Dreisamstadion, Freiburg, Đức | 1–0 | 7–0 | Giao hữu | |
| 23. | 27 tháng 5, 2006 | Dreisamstadion, Freiburg, Đức | 4–0 | 7–0 | Giao hữu | |
| 24. | 30 tháng 5, 2006 | BayArena, Leverkusen, Đức | 1–2 | 2–2 | Giao hữu | |
| 25. | 9 tháng 6, 2006 | Allianz Arena, Munich, Đức | 2–1 | 4–2 | World Cup 2006 | |
| 26. | 9 tháng 6, 2006 | Allianz Arena, Munich, Đức | 3–1 | 4–2 | World Cup 2006 | |
| 27. | 20 tháng 6, 2006 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 1–0 | 3–0 | World Cup 2006 | |
| 28. | 20 tháng 6, 2006 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 2–0 | 3–0 | World Cup 2006 | |
| 29. | 30 tháng 6, 2006 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 1–1 | 1–1 | World Cup 2006 | |
| 30. | 16 tháng 8, 2006 | Veltins-Arena, Gelsenkirchen, Đức | 2–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 31. | 16 tháng 8, 2006 | Veltins-Arena, Gelsenkirchen, Đức | 3–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 32. | 6 tháng 9, 2006 | Stadio Olimpico, Serravalle, San Marino | 3–0 | 13–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 33. | 6 tháng 9, 2006 | Stadio Olimpico, Serravalle, San Marino | 6–0 | 13–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 34. | 8 tháng 9, 2007 | Ninian Park, Cardiff, Wales | 1–0 | 2–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 35. | 8 tháng 9, 2007 | Ninian Park, Cardiff, Wales | 2–0 | 2–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 36. | 17 tháng 11, 2007 | AWD Arena, Hannover, Đức | 2–0 | 4–0 | Vòng loại Euro 2008 | |
| 37. | 6 tháng 2, 2008 | Ernst-Happel-Stadion, Viên, Austria | 2–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 38. | 26 tháng 3, 2008 | St. Jakob-Park, Basel, Switzerland | 1–0 | 4–0 | Giao hữu | |
| 39. | 27 tháng 5, 2008 | Fritz Walter Stadion, Kaiserslautern, Đức | 1–0 | 2–2 | Giao hữu | |
| 40. | 19 tháng 6, 2008 | St. Jakob-Park, Basel, Thuỵ Sĩ | 2–0 | 3–2 | Euro 2008 | |
| 41. | 25 tháng 6, 2008 | St. Jakob-Park, Basel, Thuỵ Sĩ | 2–1 | 3–2 | Euro 2008 | |
| 42. | 10 tháng 9, 2008 | Sân vận động Olympic, Helsinki, Phần Lan | 1–1 | 3–3 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 43. | 10 tháng 9, 2008 | Sân vận động Olympic, Helsinki, Phần Lan | 2–2 | 3–3 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 44. | 10 tháng 9, 2008 | Sân vận động Olympic, Helsinki, Phần Lan | 3–3 | 3–3 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 45. | 12 tháng 8, 2009 | Sân vận động Tofik Bakhramov, Baku, Azerbaijan | 2–0 | 2–0 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 46. | 9 tháng 9, 2009 | AWD-Arena, Hanover, Đức | 2–0 | 4–0 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 47. | 9 tháng 9, 2009 | AWD-Arena, Hanover, Đức | 3–0 | 4–0 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 48. | 10 tháng 10, 2009 | Sân vận động Luzhniki, Moskva, Nga | 1–0 | 1–0 | Vòng loại World Cup 2010 | |
| 49. | 13 tháng 6, 2010 | Sân vận động Moses Mabhida, Durban, Nam Phi | 2–0 | 4–0 | World Cup 2010 | |
| 50. | 27 tháng 6, 2010 | Sân vận động Free State, Bloemfontein, Nam Phi | 1–0 | 4–1 | World Cup 2010 | |
| 51. | 3 tháng 7, 2010 | Sân vận động Cape Town, Cape Town, Nam Phi | 2–0 | 4–0 | World Cup 2010 | |
| 52. | 3 tháng 7, 2010 | Sân vận động Cape Town, Cape Town, Nam Phi | 4–0 | 4–0 | World Cup 2010 | |
| 53. | 3 tháng 9, 2010 | Sân vận động King Baudouin, Brussels, Bỉ | 1–0 | 1–0 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 54. | 7 tháng 9, 2010 | RheinEnergieStadion, Köln, Đức | 3–0 | 6–1 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 55. | 7 tháng 9, 2010 | RheinEnergieStadion, Cologne, Đức | 6–1 | 6–1 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 56. | 8 tháng 10, 2010 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 1–0 | 3–0 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 57. | 8 tháng 10, 2010 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 3–0 | 3–0 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 58. | 12 tháng 10, 2010 | Astana Arena, Astana, Kazakhstan | 1–0 | 3–0 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 59. | 9 tháng 2, 2011 | Signal Iduna Park, Dortmund, Đức | 1–0 | 1–1 | Giao hữu | |
| 60. | 26 tháng 3, 2011 | Fritz-Walter-Stadion, Kaiserslautern, Đức | 1–0 | 4–0 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 61. | 26 tháng 3, 2011 | Fritz-Walter-Stadion, Kaiserslautern, Đức | 4–0 | 4–0 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 62. | 2 tháng 9, 2011 | Veltins-Arena, Gelsenkirchen, Đức | 1–0 | 6–2 | Vòng loại Euro 2012 | |
| 63. | 15 tháng 11, 2011 | Volksparkstadion, Hamburg, Đức | 2–0 | 3–0 | Giao hữu | |
| 64. | 22 tháng 6, 2012 | PGE Arena Gdańsk, Gdansk, Ba Lan | 3–1 | 4–2 | Euro 2012 | |
| 65. | 12 tháng 10, 2012 | Sân vận động Aviva, Dublin, Ireland | 4–0 | 6–1 | Vòng loại World Cup 2014 | |
| 66. | 16 tháng 10, 2012 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 1–0 | 4–4 | Vòng loại World Cup 2014 | |
| 67. | 16 tháng 10, 2012 | Sân vận động Olympic, Berlin, Đức | 2–0 | 4–4 | Vòng loại World Cup 2014 |
Danh hiệu[sửa]
Câu lạc bộ[sửa]
- Cúp quốc gia Đức: 2006 với Werder Bremen, 2007 với Bayern Munich
- Bundesliga: 2007-2008, 2009-10 với Bayern Munich
- DFB-Pokal: 2008 với Bayern Munich
Đội tuyển quốc gia[sửa]
Cá nhân[sửa]
- Vua phá lưới Bundesliga : 2005-2006.
- Cầu thủ xuất sắc nhất nước Đức: 2006
- Chiếc giày Bạc World Cup: 2002
- Chiếc giày Vàng World Cup: 2006
- Cầu thủ xuất sắc nhất trận Đức - Costa Rica World Cup 2006
- Cầu thủ xuất sắc nhất trận Đức - Thụy Điển World Cup 2006
Cuộc sống cá nhân[sửa]
Vợ của Klose, Sylwia Klose cũng sinh tại Ba Lan.[31] Hai vợ chồng có hai cậu con trai song sinh tên Luan và Noah.[32] Tháng 11 năm 2009, hai đứa con của anh bị nhiễm Cúm A/H1N1 buộc hai vợ chồng phải cách ly nhưng sau đó mọi chuyện đã trở lại bình thường.[33]
Tham khảo[sửa]
- ^ “List of Players” (PDF). FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010.
- ^ “Miroslav Klose”. FC Bayern Munich. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011.
- ^ TVN25 Artikel (polnisch)
- ^ Miroslav Klose, GFDb.com
- ^ Cầu thủ xuất sắc nhất Bundesliga 2006
- ^ Klose đến Bayern
- ^ Tân Mai (7 tháng 6 năm 0200). “Klose xác nhận rời Bayern”. Bóng Đá +. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2011.
- ^ “Klose leaves Bayern for Lazio”. UEFA.com. 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2011.
- ^ “Lazio Rabotnicki”. UEFA.com. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011.
- ^ Thông tin về Miroslav Klose trên FIFA.com
- ^ “Klose call as Germans beat Albania”. bbc.co.uk. 24 tháng 3 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2008.
- ^ Germany savage Saudis
- ^ Ireland giật một điểm ở phút cuối
- ^ Klose - ông vua ghi bàn bằng đầu
- ^ Klose xuất sắc nhất trận Đức – Costa Rica
- ^ Klose xuất sắc nhất trận Đức – Thụy Điển
- ^ Klose nhận danh hiệu Chiếc giày vàng World Cup
- ^ Đức - Bồ Đào Nha
- ^ Đức - Thổ Nhĩ Kỳ
- ^ Danh sách cầu thủ đội tuyển Đức
- ^ Đức - Úc 4-0: Bản giao hưởng từ Đức
- ^ Đức - Serbia 0-1: Tai họa từ Klose
- ^ Đức - Anh 4-1: Anh thảm bại
- ^ Chi tiết trận Argentina-Đức trên FIFA.com
- ^ Argentina - Đức 0-4 hay Joachim Lowe - Maradona 4-0
- ^ Dính chấn thương, Klose nguy cơ lỡ trận Uruguay
- ^ Uruguay - Đức 2-3: Bạch tuộc Paul đúng cả 7 trận của Đức
- ^ MH (4 tháng 9 năm 2010). “Klose giúp “cỗ xe tăng” Đức ca khúc khải hoàn”. Dân Trí. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010.
- ^ H.M.C (12 tháng 9 năm 2010). “Lịch sử gọi tên Klose”. Thể Thao và Văn Hoá. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ Ban Cầm (9 tháng 9 năm 2010). “Klose lập cú đúp, Đức hủy diệt Azerbaijan: Gerd Mueller, hãy… sợ đi là vừa!”. Thể Thao và Văn Hoá. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ^ “Spielerfrauen. Sylwia Klose” (bằng Tiếng Đức). www.em-08.info/. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2008.
- ^ “"Miroslav Klose"”. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2008.
- ^ Con trai Klose nhiễm cúm H1N1
Liên kết ngoài[sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Miroslav Klose |
- Trang web bản thân chính thức (tiếng Đức)
- Thông tin về Klose trên trang web chính thức Euro 2008
- Thông tin về Klose trên uefa.com
- Thông tin về Klose trên trang web chính thức của Bayern Munich
- Họ hàng của Klose ở Upper Silesia, Poland
- Thông tin về Klose trên Goal.com
|
|||||