Jérôme Boateng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jerome Boateng
Boateng-Jerome.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jérôme Agyenim Boateng[1]
Ngày sinh 3 tháng 9, 1988 (26 tuổi)
Nơi sinh Berlin, Đức
Chiều cao 1,92 m (6 ft 3 12 in)
Vị trí Hậu vệ cánh, Trung vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Bayern Munich
Số áo 17
CLB trẻ
Tennis Borussia Berlin
2002–2006 Hertha BSC
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2006–2007 Hertha BSC II 25 (1)
2007 Hertha BSC 10 (0)
2007–2010 Hamburg 75 (0)
2010–2011 Manchester City 16 (0)
2011– Bayern Munich 80 (3)
Đội tuyển quốc gia
2007–2009 U-21 Đức 15 (1)
2009– Đức 13 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 13 tháng 8, 2011 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 9 tháng 3, 2011(UTC)

Jérôme Agyenim Boateng (sinh ngày 3 tháng 9 năm 1988 ở Berlin) là một cầu thủ bóng đá người Đức gốc Ghana hiện chơi cho Bayern MunichBundesligaĐội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Là một cầu thủ đa năng, Boateng thường chơi ở vị trí hậu vệ cánh nhưng vẫn có khả năng chơi ở vị trí trung vệ.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng là một trung vệ người Đức gốc Ghana. Anh là một cầu thủ có sức khoẻ và đa năng để chơi ở mọi vị trí ở hàng hậu vệ. Anh bắt đầu sự nghiệp với đội trẻ của Tennis Borussia Berlin và hiện chơi cho [Bayern Muchen] tại Bundesliga.

Hertha BSC[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng chơi cho Hertha BSC Berlin từ ngày 1 tháng 7 năm 2002 khi anh mới 13 tuổi, cho tới ngày 22 tháng 8 năm 2007. Sau khi tách ra khỏi đội trẻ, anh chơi cho đội dự bị trong một mùa giải, trước khi có lần đầu tiên được gọi lên đội 1 vào ngày 13 tháng 1 năm 2007. Anh có trận ra mắt gặp Hannover 96 ở sân AWD-Arena ở vòng đấu thứ 19 của mùa giải 2006-07.[2] Anh trở thành cầu thủ quen thuộc trong đội hình 1 khi mới 18 tuổi.

Boateng được liên hệ để chuyển sang Hamburger SV vào mùa hè 2007.[3] Bởi điều này, theo như giới truyền thông Đức, Boateng không muốn kí bản hợp đồng chuyên nghiệp 5 năm cùng Hertha.

Hamburger SV[sửa | sửa mã nguồn]

Anh chuyển tới Hamburger SV vào ngày 22 tháng 8 năm 2007 với mức giá vào khoảng 1,1 triệu euro.[4] Boateng có 2 mùa giải thành công cùng Hamburg, nơi anh đã trở thành một vị trí quan trọng trong hàng phòng thủ ở mùa giải 2008/09, mùa giải mà Hamburg đã nằm trong cuộc chạy đua tới ngôi vô địch và vào tới bán kết cúp UEFA trong cả 2 mùa giải anh ở đội bóng. Ở mùa giải 2009-10, anh được triệu tập vào đội tuyển Đức sau khi gây ấn tượng ở Hamburg.

Manchester City[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 5 tháng 6 năm 2010, Manchester City xác nhận họ đã có được Boateng với mức phí 10,4 triệu euro theo hợp đồng 5 năm. Tại Man City, Boateng sẽ được khoác chiếc áo số 17 mà anh ưa thích.[5] Anh có trận đấu đầu tiên cho câu lạc bộ mới trong trận giao hữu trước mùa giải với Valencia. Trong trận này, anh đã có pha tạt bóng để Gareth Barry đánh đầu ghi bàn mở tỉ số.[6] Tuy nhiên, anh phải vắng mặt từ 2-3 tuần trong giai đoạn đầu mùa giải vì chấn thương đầu gối.[7]

Boateng có trận đấu đầu tiên cho Manchester City tại Premier League trong chiến thắng 1-0 trước Chelsea ngày 25 tháng 9 năm 2010.[8] Ba ngày sau, anh có trận đấu đầu tiên tại Europa League trong trận hòa 1-1 với Juventus.[9] Trong suốt mùa giải 2010-11, Boateng chỉ có 24 lần ra sân do thường xuyên chấn thương.

Bayern Munich[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2011, Boateng bày tỏ ý định muốn rời Manchester City để đến thi đấu cho Bayern Munich vì lý do thi đấu cho Bayern sẽ giúp anh có được cơ hội ở vị trí chính thức trong đội tuyển quốc gia và được thi đấu ở vị trí ưa thích là trung vệ hay vì hậu vệ phải.[10] Ngày 15 tháng 7, vụ chuyển nhượng của anh đến Bayern Munich đã chính thức hoàn tất với mức phí là 13,5 triệu euro và bản hợp đồng có thời hạn đến ngày 30 tháng 6 năm 2015.[11] Ngày 27 tháng 7, anh có trận đấu đầu tiên cho Bayern tại Cúp Audi 2011 trong trận đấu với AC Milan. Ngày 6 tháng 8, Boateng có mặt trong đội hình xuất phát trong trận đấu mở màn của Bayern tại Bundesliga 2011-12 gặp Borussia Moenchengladbach. Tuy nhiên, anh và thủ môn tân binh Manuel Neuer đã có pha phối hợp với nhau không tốt dẫn đến bàn thắng duy nhất của trận đấu thuộc về Moenchengladbach.[12]

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng đã cơ hội thi đấu lần lượt cho đội tuyển U-16, U-17 và U-19 Đức. Ngày 5 tháng 7 năm 2007, anh được huấn luyện viên Frank Engel triệu tập vào đội tuyển U-19 Đức tham dự Giải vô địch bóng đá U-19 Châu Âu 2007[13] tổ chức tại Áo, từ 16 tháng 7 đến 27 tháng 7.[14]

2 năm sau, Boateng tiếp tục góp mặt tại Giải vô địch bóng đá U-19 Châu Âu 2009 và cùng đội U-19 Đức giành chức vô địch. Nhờ thành tích này, anh đã được triệu tập vào đội tuyển Đức chuẩn bị cho các trận đấu tại vòng loại World Cup 2010 với NgaPhần Lan.[15] Anh có trận ra mắt cho đội tuyển Đức vào ngày 10 tháng 10 năm 2009 gặp Nga và bị đuổi khỏi sân ở phút 70 sau khi phải nhận 2 thẻ vàng.[16]

World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng đã được huấn luyện viên Joachim Löw chọn vào danh sách 23 cầu thủ Đức tham dự World Cup 2010 tại Nam Phi.[17] Ngày 23 tháng 6 năm 2010, Boateng đã có cuộc đối đầu với người anh trai Kevin-Prince Boateng đang thi đấu cho Ghana và trận đấu đã kết thúc với tỉ số 1-0 nghiêng về Đức.[18] Đây là lần đầu tiên trong lịch sử World Cup hai anh em ruột chơi cho hai đội tuyển quốc gia khác nhau đối đầu với nhau.[19]

Boateng đã tiếp tục có mặt trong hai chiến thắng tại vòng 2 và vòng tứ kết với AnhArgentina.[20][21] Tại trận bán kết với Tây Ban Nha, anh đã phải rời sân ở phút 52 nhường chỗ cho Marcell Jansen.[22] Boateng đã cùng đội tuyển Đức giành huy chương đồng World Cup 2010 sau khi đánh bại Uruguay 3-2, trận đấu mà anh đã thi đấu trọn vẹn 90 phút.[23]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

U-21 Đức

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật 5 tháng 7, 2010[24]

Thành tích cấp CLB Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Cúp châu lục Tổng cộng
Mùa giải CLB Giải vô địch Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Đức Giải vô địch DFB-Pokal Premiere Ligapokal Châu Âu Tổng cộng
2006-07 Hertha BSC Bundesliga 8 0 1 0 0 0 0 0 9 0
2007–08 Hamburg SV Bundesliga 27 0 3 0 7 0 0 0 37 0
2008–09 21 0 5 0 0 0 9 0 35 0
2009-10 27 0 1 0 0 0 13 2 42 2
2010–11 Bayern Munich Bundesliga 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Anh Giải vô địch Cúp FA Cúp Liên đoàn Châu Âu Tổng cộng
2010–11 Manchester City Premier League 16 0 3 0 0 0 5 0 24 0
Tổng cộng Đức 85 0 10 0 0 0 29 2 124 2
Anh 16 0 3 0 0 0 5 0 24 0
Tổng cộng sự nghiệp 101 0 13 0 0 0 34 2 148 2

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Boateng có mẹ là người Đức và cha là người Ghana.[25] Cha của anh, ông Prince Boateng, đã rời Ghana đến Đức năm 1981. Anh có một em gái, Avelina và hai người anh em cùng cha khác mẹ, Kevin-Prince Boateng và George. Jérôme và Kevin đã cãi nhau khá gay gắt sau sự kiện người anh vào bóng thô bạo làm Michael Ballack chấn thương và khiến cầu thủ người Đức này không thể tham dự World Cup 2010. Jerome tỏ ra thất vọng vì sự bảo thủ của anh mình: "Chúng tôi nhìn nhận vấn đề quá khác nhau, và tôi nói với anh ấy rằng chúng ta đường ai nấy đi" mặc dù anh vẫn dành sự kính trọng cho người anh của mình: "Dù thế nào đi nữa, đó cũng vẫn là anh trai tôi, mặc dù vào giây phút này đây, chúng tôi chẳng biết nói gì với nhau cả".[26]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Jerome Boateng bound for Manchester City despite brother's nightmare at Spurs”. dailymail.co.uk. 22 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ “1. Bundesliga”. Transfermarkt. 31 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2007. 
  3. ^ “Mit "Black Power" zum Erfolg” (bằng tiếng Đức). Abendblatt. 8 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2007. 
  4. ^ Hamburg bán Jerome Boateng: Chỉ vì hám lợi
  5. ^ Jerome Boateng agrees to five-year deal “Jerome Boateng agrees to five year deal”. mcfc.co.uk. 5 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  6. ^ Hữu Kương (8 tháng 8 năm 2010). “Man City (2-0) Valencia: Chiến công đầu tiên”. Bongdaso.com. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  7. ^ TD (22 tháng 8 năm 2010). “Đội tuyển Đức sẽ không có Jerome Boateng”. Bongda.com.vn. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ “Jérôme Boateng could make first Manchester City start against Juventus”. Guardian.co.uk. 27 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2011. 
  9. ^ “TEAM NEWS: Emmanuel Adebayor partners Carlos Tevez in attack as Jerome Boateng makes first start for Manchester City for Europa League meeting with Juventus”. Goal.com. 30 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  10. ^ “http://news.bbc.co.uk/sport1/hi/football/13727646.stm”. BBC News. 12 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. 
  11. ^ “Bayern vá xong hàng thủ bằng Jerome Boateng”. Thể thao và Văn hóa. 15 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  12. ^ “"Hùm xám" Bayern thua mất mặt ở Bundesliga”. Thể thao và Văn hóa. 8 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ “Jerome Boateng called up to Euro 2008”. Hertha BSC. 5 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007. 
  14. ^ “Engel banks on Germany experience”. UEFA. 5 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007. 
  15. ^ Jerome Boateng có thể ra mắt trong trận đấu với Nga!
  16. ^ “Feuertaufe für Boateng” (bằng tiếng Đức). kicker.de. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009. 
  17. ^ Danh sách cầu thủ đội tuyển Đức
  18. ^ “Ghana 0-1 Germany”. BBC News. 29 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  19. ^ McDonnell, David (22 tháng 6 năm 2010). “Boateng brothers put feud aside to make World Cup history”. Daily Mirror. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  20. ^ Đức - Anh 4-1: Anh thảm bại
  21. ^ Chi tiết trận Argentina-Đức trên FIFA.com
  22. ^ Thắng Đức, Tây Ban Nha lần đầu vào chung kết World Cup
  23. ^ “Germany pip Uruguay to third place”. FIFA. 10 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  24. ^ “Jérôme Boateng” (bằng tiếng Đức). weltfussball.de. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  25. ^ “Deutsche Talente und ihre Alternativen”. 
  26. ^ Anh em nhà Boateng: Trong sự trớ trêu của số phận

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]