Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức

Huy hiệu

Tên khác Nationalelf (Mười một tuyển thủ)
DFB-Elf (Mười một DFB)
Die Adler (Đại bàng)
(Die) Mannschaft (Đội tuyển)
Những cỗ xe tăng Đức[1]
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Đức
(Deutscher Fußball-Bund – DFB)
Liên đoàn châu lục UEFA (Châu Âu)
Huấn luyện viên Joachim Löw
Trợ lý Thomas Schneider
Đội trưởng Bastian Schweinsteiger
Thi đấu nhiều nhất Lothar Matthäus (150)
Ghi bàn nhiều nhất Miroslav Klose (71)
Mã FIFA GER
Xếp hạng FIFA 1 (9.2014)
Cao nhất 1[2] (Tháng 12.1992, 8.1993, 12.1993, 2.1994 – 3.1994, 6.1994, 7.2014 – nay)
Thấp nhất 22[2] (Tháng 3.2006)
Hạng Elo 1 (9.7.2014)
Elo cao nhất 1 (1990–92, 1993–94, 1996–97, 7.2014 – nay)
Elo thấp nhất 17 (1923)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Thụy Sĩ 5–3 Đức Flag of the German Empire.svg
(Basel, Thụy Sĩ; 5 tháng 4 1908)[3]
Trận thắng đậm nhất
Flag of the German Empire.svg Đức 16–0 Đế quốc Nga Flag of Russia.svg
(Stockholm, Thụy Điển; 1 tháng 7 1912)[4]
Trận thua đậm nhất
Flag of England.svg Nghiệp dư Anh 9–0 Đức Flag of the German Empire.svg
(Oxford, Anh; 13 tháng 3 1909)[5][6]

Giải Thế giới
Số lần tham dự 18 (lần đầu vào năm 1934)
Kết quả tốt nhất Vô địch, 1954, 1974, 19902014
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Số lần tham dự 11 (lần đầu vào năm 1972)
Kết quả tốt nhất Vô địch, 1972, 19801996
Cúp Liên đoàn các châu lục
Số lần tham dự 2 (lần đầu vào năm 1999)
Kết quả tốt nhất Thứ 3, 2005

Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức (tiếng Đức: Die deutsche Fußballnationalmannschaft) là đội tuyển bóng đá đại diện cho nước Đức trong các cuộc thi đấu quốc tế kể từ năm 1908.[3] Hiệp hội bóng đá Đức (Deutscher Fußball-Bund), thành lập năm 1900, là cấp quản lý của đội tuyển.[7][8] Kể từ khi DFB được tái lập vào năm 1949 đội tuyển là đại diện cho Cộng hòa liên bang Đức. Trong thời kỳ Đồng minh chiếm đóng Đức, đã có hai đội tuyển quốc gia được FIFA công nhận: Đội tuyển Saarland đại diện cho Saarland (1950–1956) và Đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Đức đại diện cho Cộng hòa Dân chủ Đức (1952–1990). Thành tích của hai đội đều được thống kê vào lịch sử của đội tuyển bóng đá quốc gia Đức hiện tại[9][10]. Tên gọi chính thức và mã hiệu "Germany FR (FRG)" được viết ngắn gọn thành "Germany (GER)" sau khi nước Đức tái thống nhất vào năm 1990.

Đội tuyển Đức là một trong những đội bóng thành công nhất trên đấu trường quốc tế, với bốn lần vô địch World Cup (1954, 1974, 19902014) và ba lần vô địch UEFA (1972, 19801996).[7] Họ cũng từng ba lần giành vị trí thứ hai ở giải vô địch bóng đá châu Âu, và bốn lần xếp thứ hai ở giải vô địch bóng đá thế giới cũng như bốn lần ở vị trí thứ ba .[7] Đông Đức đạt huy chương vàng bóng đá ở Thế vận hội Mùa hè 1976.[11] Sau khi bế mạc FIFA World Cup 2014, đội tuyển Đức giành hệ số Elo cao nhất trong lịch sử của tất cả các đội tuyển quốc gia, với kỷ lục 2200 điểm.[12] Đức cũng là quốc gia duy nhất có cả đội tuyển nam và đội tuyển nữ đều giành chức vô địch. Đội tuyển Đức cũng là đội tuyển thuộc liên đoàn bóng đá Châu Âu đầu tiên giành chức vô địch thế giới trên đất Nam Mỹ. Đức cũng là đội tuyển Châu Âu duy nhất tham dự mọi Giải vô địch bóng đá thế giới từ trước tới nay khi họ được phép, với một lần bị cấm tham dự năm 1950 do ảnh hưởng chính trị từ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đội tuyển Brazil cũng giành được thành tích tương tự đối với Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ. Huấn luyện viên hiện tại của đội tuyển là ông Joachim Löw.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa các năm 1899 và 1901, trước khi hình thành đội tuyển quốc gia, đã có năm trận đấu quốc tế không chính thức giữa các đội bóng khác nhau của Đức và Anh, mà kết quả là đa phần đội Đức bị đánh bại với tỉ số đậm. Tám năm sau khi thành lập Hiệp hội bóng đá Đức (DFB), trận đấu chính thức đầu tiên của đội tuyển quốc gia Đức[13] diễn ra ngày 5 tháng 4 1908 gặp Thụy Sĩ tại Basel, với kết quả Thụy Sĩ thắng 5–3.[3] Có một điều trùng hợp là, trận bóng của đội Đức đầu tiên sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1920, trận đấu đầu tiên sau chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1950 khi Đức vẫn còn bị cấm tham dự các trận bóng quốc tế, và trận bóng đầu tiên năm 1990 với các cầu thủ Đông Đức, tất cả đều là các trận đá với Thụy Sĩ. Chức vô địch thế giới lần đầu tiên của Đức cũng là trên đất Thụy Sĩ.

Trong thời gian đầu các cầu thủ đều do DFB lựa chọn, và không có một huấn luyện viên chính thức nào. Huấn luyện viên đầu tiên của đội tuyển Đức là Otto Nerz, một giáo viên thể thao đến từ Mannheim, người lãnh đạo đội bóng từ 1926 tới 1936.[14] Hiệp hội bóng đá Đức đã không thể đến được Uruguay để tham dự World Cup đầu tiên vào năm 1930 vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái, nhưng đội tuyển đã giành được vị trí thứ ba tại World Cup 1934 trong lần đầu tiên họ tham dự. Sau khi có màn trình diễn nghèo nàn tại thế vận hội Mùa hè 1936 ở Berlin, Sepp Herberger được cử làm huấn luyện viên. Năm 1937 ông cùng với đội bóng nhanh chóng được đặt biệt danh là Breslau Elf (mười một cầu thủ Breslau) khi họ có trận thắng 8–0 trước Đan Mạch tại thành phố mà thời đó thuộc Đức là Breslau, Hạ Silesia (nay là Wrocław, Poland).[15][16]

Sau khi Áo trở thành một phần của Đức trong lần Anschluss (sát nhập) tháng 3 năm 1938, lúc đó đội tuyển Áo – một trong những đội bóng mạnh của Châu Âu vào thời điểm đó vì cách thức hoạt động chuyên nghiệp – đã bị giải thể mặc dù đã vượt qua vòng loại của World Cup 1938. Do yêu cầu của các chính trị gia Đức Quốc xã, năm hay sáu cầu thủ người Áo, đến từ các câu lạc bộ Rapid Vienna, Austria Vienna, First Vienna FC, đã được gọi vào đội tuyển Đức với mục đích thống nhất quốc gia trên mọi phương diện bởi các lý do chính trị. Trong giải vô địch thế giới 1938 khởi tranh từ 4 tháng 6, tuyển Đức "thống nhất" này chỉ có một trận hòa 1–1 với Thụy Sĩ, và thua 2–4 trước chủ nhà với nhiều khán giả tại Paris. Kết quả bị loại ngay ở vòng đầu tiên là một trong những kết quả tồi tệ nhất của đội tuyển Đức trong lịch sử tham dự World Cup (ngoại trừ các năm 1930 và 1950 khi họ không được phép tham gia).

Trong thế chiến lần hai, đội bóng đã có 30 trận thi đấu quốc tế từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 11 năm 1942, khi đội tuyển bị ngừng hoạt động do đa số các cầu thủ bị buộc gia nhập quân đội. Nhiều cầu thủ quốc gia đã được quy tụ về với huấn luyện viên Herberger biệt danh Rote Jäger với nhiệm vụ là các nhân viên không quân nhằm bảo vệ các cầu thủ tránh khỏi lửa đạn chiến tranh.

Ba đội bóng Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh thế giới lần hai, Đức bị cấm tham dự các sự kiện thể thao quốc tế cho đến tận năm 1950. Liên đoàn DFB không là thành viên đầy đủ của FIFA, và không một trong ba đội bóng Đức nào — Tây Đức, Đông Đức, và Saarland — được tham dự vòng đấu loại giải vô địch 1950.

Cộng hòa Liên bang Đức hay còn gọi là Tây Đức, tiếp tục duy trì sự hoạt động của DFB. Khi FIFAUEFA công nhận, DFB đã bắt đầu và tiếp tục những thành tích của đội tuyển có từ trước thời gian chiến tranh. Đội Thụy Sĩ một lần nữa là đội đầu tiên gặp Đức vào năm 1950.[17] Và Tây Đức đã vượt qua vòng loại và được tham dự World Cup 1954.

Saarland, dưới quyền kiểm soát của Pháp từ 1947 tới 1956, đã không tham gia vào các tổ chức của Pháp và có đội bóng của Đức cho riêng họ. Saarland gửi đội tuyển tham dự thế vận hội Mùa hè 1952 và vòng loại FIFA World Cup 1954. Năm 1957, Saarland trở về thuộc Cộng hòa Liên bang Đức.

Năm 1949, những người cộng sản đã thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức). Năm 1952 hiệp hội bóng đá Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutscher Fußball-Verband der DDR-DFV) và đội bóng quốc gia đầu tiên được thành lập. Họ là đội duy nhất đánh bại đội vô địch Tây Đức trong FIFA World Cup 1974 trong trận bóng duy nhất giữa hai đội trong lịch sử nước Đức thời chiến tranh lạnh. Đông Đức giành huy chương vàng môn bóng đá nam tại thế vận hội Mùa hè 1976. Sau khi tái thống nhất nước Đức năm 1990, liên đoàn bóng đá Đông Đức được sát nhập về DFB.

Vô địch World Cup 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Helmut Rahn ghi bàn ấn định trong trận chung kết FIFA World Cup 1954.

Đội Tây Đức, với người đội trưởng Fritz Walter, gặp các đội Thổ Nhĩ Kỳ, Nam TưÁo. Khi gặp Hungary ở vòng bảng, Đức bị thua 3–8. Tây Đức gặp lại tuyển Hungary trong trận chung kết với sức mạnh của đội Hungary lúc đó đã không bị đánh bại trong 32 trận liên tiếp. Với diễn biến kịch tính, đội Tây Đức đã giành chiến thắng 3–2 khi Helmut Rahn ghi bàn thắng quan trọng ở phút 84.[18] Chiến thắng này còn được gọi là "Sự kỳ diệu ở Bern" (Das Wunder von Bern).[19]

Những kỷ niệm chiến bại: bàn thắng trên sân Wembley và trận bóng thế kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi xếp thứ tư ở World Cup 1958 và chỉ vào tới vòng tứ kết tại World Cup 1962, hiệp hội DFB đã có sự thay đổi. Họ đưa ra và khuyến khích cách làm bóng đá chuyên nghiệp, những câu lạc bộ chơi tốt nhất được quy tụ trong giải đấu mới là Bundesliga. Năm 1964, Helmut Schön trở thành huấn luyện viên trưởng thay cho Herberger khi ông đã tại vị trong 28 năm.

World Cup 1966, Tây Đức vào trận chung kết gặp chủ nhà Anh sau khi đánh bại Liên Xô ở bán kết. Trong thời gian đá bù giờ, bàn thắng đầu tiên của Geoff Hurst trở thành một trong những bàn thắng gây tranh cãi nhất trong lịch sử World Cup: trọng tài biên đã căng cờ báo hiệu bóng đã lăn qua vạch vôi khung thành và bàn thắng được tính, sau khi bóng nẩy từ xà ngang. Nhưng các thước phim ghi lại cho thấy dường như bóng chưa lăn qua vạch khung thành. Hurst sau đó ghi thêm một bàn thắng nữa giúp đội tuyển Anh giành chiến thắng chung cuộc 4–2.[20][21]

Đội tuyển Tây Đức gặp lại tuyển Anh ở tứ kết tại World Cup 1970 và đã trả được món nợ khi chiến thắng 3–2, trước khi họ bị thua 4–3 trong thời gian hiệp phụ của trận bán kết gặp Italia. Trận này có tới 5 bàn thắng trong hiệp phụ và là một trong những trận bóng kịch tính nhất trong lịch sử giải vô địch bóng đá thế giới, và thường được gọi là "Trận bóng thế kỷ" đối với cả Đức và Ý.[22][23] Tây Đức cuối cùng giành được vị trí thứ ba của giải sau khi chiến thắng Uruguay 1–0. Gerd Müller với 10 bàn thắng trở thành vua phá lưới của giải.

Vô địch World Cup 1974 trên sân nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1971, Franz Beckenbauer trở thành đội trưởng của đội tuyển quốc gia. Ông đã dẫn dắt đội tuyển đoạt chức vô địch Châu Âu Euro 1972, khi đánh bại Liên Xô 3–0 trong trận chung kết.[24][25]

Là chủ nhà của World Cup 1974, họ đã giành chức vô địch lần thứ hai khi thắng Hà Lan 2–1 trong trận chung kết ở thành phố Munich.[26] Có hai trận đấu đáng nhớ của tuyển Tây Đức tại giải năm 1974. Ở vòng đấu bảng thứ nhất họ gặp tuyển Đông Đức và để thua 1–0.[27] Tây Đức vào trận chung kết gặp đội Hà Lan có lối chơi "Bóng đá tổng lực" khi đó của đội trưởng Johan Cruijff. Hà Lan dẫn trước từ một quả phạt đền. Tuy nhiên, Tây Đức đã dồn lên tấn công và nhận được một quả phạt đền với bàn thắng của Paul Breitner trước khi Gerd Müller ghi bàn ấn định chiến thắng.[28][29]

Cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Gerd Müller, ảnh chụp năm 2006.

Tây Đức đã không bảo vệ được các chức vô địch của họ ở hai sự kiện thể thao lớn tiếp theo. Họ thua đội Tiệp Khắc trong trận chung kết Euro 1976 ở loạt sút luân lưu với kết quả chung cuộc 5–3.[30]

Tại World Cup 1978, đội Đức bị loại ở vòng đấu loại trực tiếp sau khi thua đội tuyển Áo 2–3. Sau đó Schön nghỉ hưu và người trợ lý của ông, Jupp Derwall, lên thay thế.

Giải đấu đầu tiên của Tây Đức dưới quyền chỉ đạo của Derwall đã thành công, khi họ đoạt chức vô địch châu Âu lần thứ hai tại Euro 1980 khi đánh bại Bỉ 2–1 ở trận chung kết.[31] Tây Đức vào tới trận chung kết của World Cup 1982 với nhiều trận đấu khá vất vả trước đó. Họ để thua 1–2 trước Algeria trong trận đầu ra quân,[32] nhưng đã vào được vòng đấu loại trực tiếp bằng chiến thắng gây tranh cãi 1–0 trước tuyển Áo. Ở bán kết họ gặp Pháp, với kết quả hòa 3–3 trong 120 phút thi đấu và chiến thắng 5–4 ở loạt đá luân lưu.[33][34] Tại trận chung kết, Tây Đức thua 1–3 trước đội Ý.[35]

Trong giai đoạn này, cầu thủ Gerd Müller ghi được tổng cộng 14 bàn thắng ở hai kỳ World Cup (1970 và 1974). Ông có 10 bàn thắng ở giải năm 1970 và là vua phá lưới của giải. (Kỷ lục tổng số 14 bàn thắng của Müller tại World Cup bị Ronaldo phá vỡ vào năm 2006 và sau đó đến lượt Miroslav Klose phá vỡ vào năm 2014 với 16 bàn thắng[36]).

Triều đại Beckenbauer[sửa | sửa mã nguồn]

Franz Beckenbauer

Sau khi Tây Đức bị loại ở vòng bảng của Euro 1984, Franz Beckenbauer trở lại làm huấn luyện viên đội tuyển quốc gia thay thế cho Derwall.[37] Tại World Cup 1986, Tây Đức đứng ở vị trí á quân trong lần thứ hai liên tiếp sau khi đánh bại Pháp 2–0 ở bán kết, nhưng thuaArgentina của Diego Maradona ở trận chung kết với tỷ số 2–3.[38][39] Tại Euro 1988, niềm hi vọng của đội Tây Đức khi vô địch trên sân nhà bị tan vỡ khi họ để thua Hà Lan 2–1 ở bán kết.[40]

giải vô địch bóng đá thế giới 1990, Tây Đức lần thứ ba vô địch World Cup, và cũng lập lên kỷ lục với ba lần liên tiếp họ vào chung kết.[41] Với Lothar Matthäus là đội trưởng, họ đánh bại Nam Tư (4–1), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (5–1), Hà Lan (2–1), Tiệp Khắc (1–0), và Anh (1–1, 4–3 sút luân lưu) trên con đường vào trận chung kết gặp Argentina.[42][43] Tây Đức thắng 1–0, với bàn thắng duy nhất ở phút 85 lập bởi Andreas Brehme nhờ quả phạt đền.[41] Beckenbauer, người giành chức vô địch World Cup 1974 với tư cách là đội trưởng, do đó trở thành cầu thủ đầu tiên vô địch World Cup với vai trò là đội trưởng và huấn luyện viên.[37]

Tham dự Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích Huy chương Olympic
Thế vận hội
Đồng Seoul 1988 Tây Đức

Trước năm 1984, bóng đá tại các kỳ Thế vận hội được coi là sự kiện nghiệp dư, có nghĩa rằng chỉ có những cầu thủ nghiệp dư mới được phép tham gia. Vì điều này nên Tây Đức chưa từng đạt được thành công lớn tương tự như ở giải vô địch bóng đá thế giới, mà họ mới chỉ đạt được huy chương đồng tại Thế vận hội Mùa hè 1988. Từ đó chưa một đội Đức nào giành quyền vào chơi môn bóng đá tại Thế vận hội, ngay cả khi nguyên tắc cấm các cầu thủ chuyên nghiệp được phép tham dự bị dỡ bỏ hoặc cho phép có ba vận động viên có tuổi trên 23. Tây Đức cũng từng lọt vào vòng 2 ở cả Thế vận hội Mùa hè 1972Thế vận hội Mùa hè 1984. Mặt khác, đội Đông Đức có kết quả tốt hơn, khi họ giành được một huy chương vàng, một huy chương bạc và hai huy chương đồng (tính cả thời điểm đội Đông Đức và Tây Đức thống nhất làm một).

Những năm Berti Vogts (1990–1998)[sửa | sửa mã nguồn]

Berti Vogts

Tháng 2 năm 1990, vài tháng sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, hai đội Đông Đức và Tây Đức được sáp nhập lại và đội Đức tham gia vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1992. Sau khi Tây Đức giành vô địch World Cup 1990, trợ lý huấn luyện viên Berti Vogts lên thay thế người về hưu Beckenbauer. Các thành viên của hiệp hội Đông Đức Deutscher Fußball-Verband chấp nhận trở về gia nhập DFB trong tháng 11, trong khi mùa giải 1990–91 vẫn tiếp tục diễn ra với sự tái cấu trúc giải đấu được tiến hành trong năm 1991–92. Trận bóng đầu tiên của đội Đức thống nhất là với đội tuyển Thụy Sĩ diễn ra ngày 19 tháng 12.

Tại Euro 1992, Germany vào tới chung kết nhưng để thua 0–2 trước Đan Mạch.[44]World Cup 1994, họ bị loại ở tứ kết trong trận thua 1–2 trước Bulgaria.[45][46]

Đội Đức sau khi đất nước thống nhất giành được danh hiệu lớn đầu tiên khi họ vô địch Euro 1996, trở thành đội bóng Châu Âu đầu tiên vô địch lần thứ ba.[47] Họ thắng đội chủ nhà Anh ở bán kết,[48] và thắng đội Séc 2–1 nhờ luật bàn thắng vàng trong thời gian hiệp phụ ở trận chung kết.[49]

Tuy nhiên tại World Cup 1998, Đức bị loại ở tứ kết trong trận thua 0–3 trước Croatia, tất cả bàn thắng đều được ghi sau khi hậu vệ Christian Wörns nhận thẻ đỏ trực tiếp.[50] Vogts từ chức sau trận đấu và Erich Ribbeck thay thế vị trí của ông.[51]

2000–2006: Thời kỳ Oliver Kahn/Michael Ballack[sửa | sửa mã nguồn]

Euro 2000, trong vòng đấu bảng tại trận đầu tiên Đức hòa Romania, sau đó thua 1–0 trước Anh và cuối cùng xếp cuối bảng sau trận thua 3–0 trước Bồ Đào Nha (đội đã vào vòng sau trước đó và chỉ sử dụng đội hình phụ).[52] Kết thúc trận đấu, Ribbeck từ chức và Rudi Völler thay thế vào chiếc ghế nóng.[53]

Tham dự World Cup 2002, những kỳ vọng của người hâm mộ đối với đội Đức là thấp do các kết quả thi đấu nghèo nàn của đội bóng tại vòng đấu loại và lần đầu tiên họ không giành được tấm vé trực tiếp mà phải thi đấu với Ukraina. Đội Đức xếp thứ nhất sau vòng bảng, và lần lượt thắng 1–0 ba lần liên tiếp trước các đội Paraguay ở vòng loại trực tiếp,[54] đội Hoa Kỳ ở tứ kết,[55] và đồng chủ nhà Hàn Quốc, trong đó Michael Ballack ghi hai bàn, mặc dù thế ông nhận thẻ vàng thứ hai trong trận gặp Hàn Quốc và bị treo giò ở trận chung kết.[56] Tại chung kết họ gặp Brazil, cũng là trận đầu tiên mà hai đội gặp nhau trong World Cup. Đức bị thua 0–2 với hai bàn thắng đều do Ronaldo thực hiện.[57] Cuối giải đấu, thủ môn và đội trưởng Oliver Kahn giành Quả bóng Vàng,[58] và là lần đầu tiên trong lịch sử World Cup một thủ môn đạt được danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải.[59]

Cổ động xem trận Đức gặp Argentina trong World Cup 2006 tại sân Donau ở Regensburg.

Đức một lần nữa bị loại ở vòng bảng tại Euro 2004, với hai trận đầu bị cầm hòa và họ để thua trận thứ ba trước Cộng hòa Séc (đội xếp thứ hai sau vòng bảng).[60] Völler từ chức sau đó, và Jürgen Klinsmann được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.[61][62]

Nhiệm vụ chính của Klinsmann là dẫn dắt đội tuyển quốc gia có một lối chơi tốt ở World Cup 2006 trên đất Đức. Klinsman quyết định sẽ thôi không cho Kahn giữ băng đội trưởng và tuyên bố rằng Kahn và thủ môn dự bị trong một thời gian Jens Lehmann sẽ cạnh tranh trực tiếp cho vị trí thủ môn chính thức. Quyết định này làm Kahn nổi giận và cuối cùng Lehmann đã giành được chiến thắng.[63] Hi vọng cho đội nhà cũng không có nhiều, với sự không có mặt của hậu vệ Christian Wörns (sau khi Wörns phê phán Klinsmann đã coi ông như người dự bị trong đội tuyển), một lựa chọn gây nhiều tranh cãi ở Đức. Đội Italia thắng Đức 4–1 trong tháng 3 ở trận giao hữu, và Klinsmann bị phê phán dữ dội khi đội tuyển chỉ xếp hạng 22 thế giới khi bước vào FIFA World Cup 2006.[64]

Là chủ nhà, Đức giành chiến thắng cả ba trận vòng bảng và đứng đầu bảng. Họ thắng Thụy Điển 2–0 ở vòng 16.[65] Đức gặp Argentina ở tứ kết. Trận đấu có tỉ số hòa 1–1 trong 90 phút, và Đức giành chiến thắng 4–2 ở loạt sút luân lưu.[66] Tại bán kết, một lần nữa họ gặp Italia, trận đấu không có tỉ số trong 90 phút chính thức và cho đến gần cuối thời gian hiệp phụ thứ hai đội Đức bị thủng lưới hai bàn.[67] Ở trận tranh giải ba, Đức thắng Bồ Đào Nha với tỉ số 3–1.[68] Miroslav Klose nhận Chiếc giày Vàng nhờ danh hiệu vua phá lưới của giải.[69]

Jürgen Klinsmann[sửa | sửa mã nguồn]

Jürgen Klinsmann trở thành người thay thế Rudi Völler chỉ vì Liên đoàn bóng đá Đức không tìm được người "dám" ngồi vào chiếc ghế huấn luyện viên trưởng đội tuyển Đức đầy mạo hiểm. Trước đó, Klinsmann - cựu tiền đạo nổi tiếng của đội tuyển Đức đã từng vô địch thế giới (1990) và châu Âu (1996) - chưa từng dẫn dắt bất kỳ đội bóng nào. Lên nắm quyền, Klinsmann đã mời các đồng đội cũ tham gia vào ban huấn luyện, gọi nhiều cầu thủ trẻ vào đội tuyển và thay đổi lối chơi của đổi tuyển theo hướng tấn công. Nhiều quyết định của ông gây ra tranh cãi như tước băng đội trưởng của Oliver Kahn rồi trao cho Michael Ballack, sa thải huấn luyện viên thủ môn Sepp Maier, chọn Jens Lehmann là người trấn giữ khung thành thay cho Oliver Kahn, thuê các huấn luyện viên thể lực người Hoa Kỳ và chỉ trở về Đức từ Hoa Kỳ khi dẫn dắt đội tuyển thi đấu. Các kết quả giao hữu trước World Cup 2006 không tốt càng làm ông bị chỉ trích và yêu cầu từ chức. Tuy nhiên, kết quả (xếp thứ 3) và lối chơi tấn công đầy cống hiến của đội tuyển Đức tại vòng chung kết World Cup 2006 ngay trên sân nhà đã làm sống dậy "tinh thần yêu nước mới" của nước Đức. Sau vòng chung kết, một phong trào đề nghị Jürgen Klinsmann ở lại vị trí huấn luyện viên trưởng đã được phát động nhưng ông đã tuyên bố từ chức...

FIFA World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Đức tranh vé vào Euro 2008 với sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới là Joachim Löw từ khi Klinsmann nghỉ hưu.[70] Tại giải đấu, họ thắng hai trong ba trận ở vòng bảng và tiến vào vòng loại trực tiếp.[71] Ở tứ kết, Đức thắng 3–2 trước Bồ Đào Nha,[72] và thắng Thổ Nhĩ Kỳ với cùng tỉ số ở bán kết.[73] Họ để thua 0–1 trước Tây Ban Nha ở chung kết và giành ngôi á quân.[74]

Tại World Cup 2010, Đức đứng đầu vòng bảng và tiến vào vòng đấu loại trực tiếp. Trong vòng 16, Đức thắng Anh 4–1.[75] Trận đấu có nhiều tranh cãi khi bàn thắng hợp lệ của Frank Lampard đã không được công nhận do trọng tài đã không nhìn thấy bóng băng qua vạch cầu môn.[76][77][78] Trong trận tứ kết, Đức thắng Argentina 4–0,[79] cũng như Miroslav Klose phá kỷ lục của Gerd Müller với 14 bàn thắng tại World Cup.[80] Đức gặp Tây Ban Nha ở bán kết và thua với tỉ số 1–0.[81] Họ đánh bại Uruguay 3–2 và giành vị trí thứ ba của giải đấu.[82] Tuyển thủ Thomas Müller giành danh hiệu Chiếc giày Vàngcầu thủ trẻ xuất sắc nhất.[83][84]

FIFA World Cup 2014 – Chức vô địch lần thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Đức tại vòng loại Euro 2012.

Tại Euro 2012, Đức nằm ở bảng B cùng với Portugal, Hà Lan, và Đan Mạch. Đức đã thắng cả ba trận ở vòng bảng. Đức thắng tiếp Hy Lạp ở tứ kết và lập kỷ lục 15 trận thắng liên tiếp ở mọi trận bóng quốc tế.[85] Ở bán kết, Đức thua Ý 1–2.

Các cầu thủ Đức nâng chiếc cúp vô địch.

Đội Đức giành vị trí nhất bảng trong vòng đấu tranh vé tham dự World Cup 2014. Kết quả bốc thăm chia bảng FIFA World Cup 2014 đưa Đức nằm ở bảng G,[86] cùng với Bồ Đào Nha, Ghana, và Hoa Kỳ. Trận ra quân họ gặp Bồ Đào Nha mà được người hâm mộ đặt cho biệt danh là "trận bóng của đội có mọi tài năng chống lại đội của Siêu sao (Cristiano Ronaldo)", với kết quả Bồ Đào Nha để thua 4–0 với cú hat-trick của Thomas Müller.[87][88] Trong trận gặp Ghana, Đức dẫn trước với pha ghi bàn của Götze ở hiệp hai, nhưng sau đó họ bị thủng lưới hai bàn liên tiếp, rồi ở phút thứ 71 Klose ghi bàn thắng giúp Đức giành trận hòa 2–2 với Ghana. Với bàn thắng này, Klose san bằng kỷ lục ghi 15 bàn thắng ở World Cup của cựu tiền đạo Brazil Ronaldo. Ở trận cuối vòng bảng họ thắng Hoa Kỳ với tỉ số 1–0, và bước vào vòng 16 gặp đội Algeria.

Ở vòng loại 16 đội gặp Algeria, trận đấu không có bàn thắng trong 90 phút thi đấu chính thức và hai đội phải bước vào hiệp phụ. Ở phút thứ 92 của hiệp phụ thứ nhất, André Schürrle ghi bàn từ đường truyền của Thomas Müller, và Mesut Özil ghi bàn thứ hai ở phút thứ 120. Mặc dù Algeria ghi được một bàn gỡ danh dự nhưng không đủ giúp họ đi tiếp vào tứ kết và kết thúc trận đấu Đức giành chiến thắng 2–1 và bước vào tứ kết, gặp đội tuyển Pháp.

Ở trận tứ kết gặp đội Pháp, Mats Hummels ghi bàn duy nhất ở phút thứ 13 giúp Đức giành chiến thắng 1–0 và lập kỷ lục bốn lần liên tiếp vào bán kết.[89]

Chiến thắng (7–1) ở bán kết trước Brazil là một thời điểm lịch sử đối với cả hai đội và World Cup. Đức trở thành đội đầu tiên trong lịch sử ghi được 5 bàn trong vòng 18 phút ở hiệp một. Họ ghi được bốn bàn chỉ trong vòng 400 giây và tỷ số là 5–0 cho đến hết hiệp một với các bàn thắng của Thomas Müller, Miroslav Klose, Sami Khedira và hai bàn của Toni Kroos. Miroslav Klose cũng ghi bàn thứ 16 của anh trong lịch sử World Cup ở phút thứ 23 và trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của giải vô địch bóng đá thế giới, phá vỡ kỷ lục của Ronaldo.

Toàn đội Đức chụp ảnh cùng chiếc cúp vô địch tại trận chung kết.

Trong hiệp hai, cầu thủ vào thay André Schürrle ghi thêm hai bàn và Đức dẫn trước 7–0, tỷ số lớn nhất đối với đội Brazil trong một trận đấu. Đội Brazil ở những phút cuối có được bàn thắng danh dự của cầu thủ Oscar. Đây là trận thua tồi tệ nhất của Brazil trong lịch sử World Cup từ trước tới nay,[90] trong khi đó Đức cũng lập lên nhiều kỷ lục ở World Cup với chiến thắng này, bao gồm kỷ lục của Klose, đội đầu tiên vào bán kết bốn lần liên tiếp, đội đầu tiên ghi 7 bàn thắng ở trận đấu thuộc vòng loại trực tiếp của World Cup, 5 bàn thắng liên tiếp nhanh nhất trong lịch sử World Cup (bốn bàn được ghi chỉ trong 400 giây), đội bóng đầu tiên ghi 5 bàn trong hiệp một của bán kết cũng như trở thành chủ đề nóng nhất được cập nhật trên trang Twitter sau khi các phương tiện truyền thông đồng loạt đưa tin Đức ghi bàn thắng thứ tư.

Trận chung kết diễn ra tại sân Maracana in Rio de Janeiro ngày 13 tháng 7, và được giới truyền thông đưa tin là trận đấu giữa cầu thủ hay nhất (Lionel Messi) với đội bóng hay nhất (Đức).[91][92] Bàn thắng của Mario Götze ở phút thứ 113 của hiệp phụ đưa Đức giành chiến thắng trước Argentina với tỉ số 1–0, trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên vô địch FIFA World Cup trên đất Nam Mỹ.[93][94]

Joachim Löw[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi trở thành huấn luyện viên trưởng đội tuyển Đức ngày 12 tháng 7 năm 2006, Joachim Löw là trợ lý của Jürgen Klinsmann. Vòng chung kết Euro 2008 Joachim Löw dẫn dắt đội tuyển Đức khá thành công, lọt vào tới trận chung kết và chỉ chịu thất thủ 0-1 trước Tây Ban Nha.

Tiếp đó ông chỉ huy "Những cỗ xe tăng" vượt qua vòng loại World Cup 2010 khu vực Châu Âu một cách đầy ấn tượng. Vòng chung kết World Cup 2010 vừa qua Đức được xem là một trong những ứng viên hàng đầu cho chức vô địch. Thế nhưng do để thua nhà vô địch Tây Ban Nha ở bán kết, nên Đức chỉ xếp thứ ba sau khi thắng Uruguay 3-2 ở trận tranh hạng ba. Dù sao thì chiếc cúp vô địch vẫn đang chờ đợi đội bóng với đội hình trẻ nhất của đội tuyển Đức trong vòng 76 năm trở lại đây, bởi vì trận thắng ngoạn mục 4-1 trước Anh và 4-0 trước Argentina tại World Cup 2010 đã chứng minh được điều đó.

Tại World Cup 2014, Joachim Löw đã đưa đội tuyển Đức vào trận chung kết. Trên đường tới trận này đội tuyển Đức đã loại các đội mạnh như Pháp, và nhất là đội chủ nhà Brazil với trận thắng 7-1 ở bán kết và đánh bại đội tuyển Argentina với tỉ số 1-0 ở chung kết để lần thứ 4 lên ngôi vô địch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một đội bóng châu Âu vô địch World Cup trên đất châu Mỹ.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Olympic Stadium (Berlin)

Đức không có sân vận động quốc gia duy nhất, do vậy đội tuyển bóng đá quốc gia của họ thường chơi trên các sân vận động khác nhau trong toàn nước Đức. Họ đã chơi các trận đấu trên sân nhà ở 39 thành phố khác nhau, bao gồm các trận khi đội Đức chơi ở sân Vienna, Áo trong giai đoạn giữa 1938 và 1942.

Đội tuyển quốc gia Đức thường hay chơi tại (cho tới nay đã 42 lần) ở sân vận động ở thành phố Berlin, và cũng là nơi mà lần đầu tiên đá trên sân nhà gặp đội tuyển Anh năm 1908. Những thành phố khác bao gồm: Hamburg (34 trận), Stuttgart (29), Hanover (24) và Dortmund. Những thành phố nổi bật khác bao gồm Munich, cũng là nơi tổ chức nhiều sự kiện thể thao lớn cũng như của bóng đá Đức, bao gồm trận chung kết FIFA World Cup 1974 nơi đội tuyển Đức lên ngôi vô địch trước đội tuyển Hà Lan.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

The 2006 World Cup saw a widespread public display of the German national flag.

Adidas AG là nhà cung cấp trang phục lâu năm cho đội tuyển quốc gia, nhà tài trợ này bắt đầu cung cấp cho đội tuyển từ năm 1954 và hợp đồng còn kéo dài đến 2018. Trong những năm 70, đội Đức mặc trang phục của hãng Erima (một thương hiệu Đức, từng là chi nhánh của Adidas).[95][96]

Trang phục của đội tuyển luôn có áo màu trắng và quần đùi màu đen. Những màu này giống với màu của cờ thế kỷ 19 của Vương quốc Phổ. Từ 1988, các nhà thiết kế áo thi đấu đã kết hợp thêm các chi tiết của cờ Đức (với một ngoại lệ tại World Cup 2002, khi trang phục của đội tuyển có thuần túy màu đen và trắng). Màu sắc của trang phục phụ có một vài sự thay đổi theo thời gian. Tại World Cup 2014, trang phục chính của đội tuyển với áo và quần đều màu trắng so với trang phục truyền thống, lý do này là màu sắc của bộ quần áo không phù hợp với các quy định của FIFA trong giải đấu.[97] Về mặt lịch sử, trang phục phụ với áo màu xanh và quần trắng thường được sử dụng hơn so với các bộ khác, với màu xanh giống với màu của logo DFB – mặc dù đôi khi người ta hiểu nhầm rằng màu xanh giống với màu áo của đội tuyển Ireland, đội đầu tiên gặp tuyển Đức trong trận đấu giao hữu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tuy nhiên, đội đầu tiên đá với đội tuyển sau chiến tranh thế giới lần hai là đội Thụy Sĩ.[98] Các màu khác như đỏ, xám và đen cũng thường được sử dụng.

Màu sắc thay đổi từ đen sang đỏ bắt đầu từ năm 2005 khi Jürgen Klinsmann đã kiến nghị thay đổi màu áo,[99] nhưng đội Đức vẫn sử dụng trang phục màu trắng truyền thống khi đội tuyển chơi trên sân nhà tại World Cup 2006. Năm 2010, trang phục thay đổi sang quần màu trắng và áo màu đen xám, mặc dù vậy đội tuyển vẫn mặc trang phục chính với quần đen và áo trắng lúc thi đấu. Trang phục phụ của đội tuyển thay đổi sang áo có dải màu đỏ và đen với chữ màu trắng, quần màu đen.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch (4): 1954; 1974; 1990; 2014
Á quân (4): 1966; 1982; 1986; 2002
Hạng ba (4): 1934; 1970; 2006; 2010
Hạng tư (1): 1958
Vô địch (3): 1972; 1980; 1996
Á quân (3): 1976; 1992; 2008
Bán kết (1): 1988; 2012

Thành tích quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[100] B Bt Bb
Uruguay1930 Không tham dự
Ý 1934 Hạng 3 4 3 0 1 11 8
Pháp 1938 Vòng 1 2 0 1 1 3 5
Brasil1950 FIFA cấm tham dự
Thụy Sĩ 1954 Vô địch 5 4 0 1 18 12
Thụy Điển 1958 Hạng 4 6 2 2 2 12 14
Chile 1962 Tứ kết 4 2 1 1 4 2
Anh 1966 Á quân 6 4 1 1 15 6
México 1970 Hạng 3 6 5 0 1 17 10
Flag of Germany.svg 1974 Vô địch 7 6 0 1 13 4
Argentina 1978 Vòng 2 6 1 4 1 10 5
Tây Ban Nha 1982 Á quân 7 4 1 2 17 14
México 1986 Á quân 7 4 1 2 13 7
Ý 1990 Vô địch 7 5 1 1 19 8
Hoa Kỳ 1994 Tứ kết 5 3 1 1 9 7
Pháp 1998 Tứ kết 5 3 1 1 8 6
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Á quân 7 5 1 1 14 3
Đức 2006 Hạng 3 7 6 0 1 18 8
Cộng hòa Nam Phi 2010 Hạng 3 7 5 0 2 16 5
Brasil 2014 Vô địch 7 6 1 0 18 4
Tổng cộng 18/20
4 lần: Vô địch
108 66 20* 20 224 121

FIFA Confederations Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[100] B Bt Bb
Ả Rập Saudi 1992 Không giành quyền tham dự
Ả Rập Saudi 1995
Ả Rập Saudi 1997 Không tham dự
México 1999 Vòng 1 3 1 0 2 2 6
Hàn Quốc Nhật Bản 2001 Không giành quyền tham dự
Pháp 2003 Không tham dự
Đức 2005 Hạng ba 5 3 1 1 15 11
Cộng hòa Nam Phi 2009 Không giành quyền tham dự
Tổng cộng 2/8
1 lần: Hạng ba
8 4 1 3 17 17

Giải vô địch bóng đá châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[100] B Bt Bb
1960 Không tham dự
1964
1968 Không vượt qua vòng loại
Bỉ 1972 Vô địch 2 2 0 0 5 1
Nam Tư 1976 Á quân 2 1 0 1 6 4
Ý 1980 Vô địch 4 3 1 0 6 3
Pháp 1984 Vòng 1 3 1 1 1 2 2
Đức 1988 Bán kết 4 2 1 1 6 3
Thụy Điển 1992 Á quân 5 2 1 2 7 8
Anh 1996 Vô địch 6 4 2 0 10 3
Bỉ Hà Lan 2000 Vòng 1 3 0 1 2 1 5
Bồ Đào Nha 2004 Vòng 1 3 0 2 1 2 3
Áo Thụy Sĩ 2008 Á quân 6 4 0 2 10 7
Ba Lan Ukraina 2012 Bán kết 5 4 0 1 10 6
Tổng cộng 11/14
3 lần: Vô địch
43 23 10 10 65 45

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo[sửa | sửa mã nguồn]

 
Ghi nhiều bàn thắng nhất
Germany shirt logo.png
Cầu thủ
Số bàn
Miroslav Klose (2001-2014) 71
Gerd Müller (1966-1974) 68
Jürgen Klinsmann (1987-1998) 47
Rudi Völler (1982-1994) 47
Karl-Heinz Rummenigge (1976-1986) 45
Lukas Podolski (2004-nay) 44
Uwe Seeler (1954-1970) 43
Michael Ballack (1999-2010) 42
Oliver Bierhoff (1996-2002) 37
Fritz Walter (1940-1958) 33
Tính đến 28 tháng 6 năm 2012
 
Khoác áo nhiều nhất
Germany shirt logo.png
Cầu thủ
Số trận
Lothar Matthäus (1980-2000) 150
Miroslav Klose (2001-2014) 123
Jürgen Klinsmann (1987-1998) 108
Jürgen Kohler (1986-1998) 105
Franz Beckenbauer (1965-1977) 103
Thomas Häßler (1988-2000) 101
Lukas Podolski (2004-nay) 101
Michael Ballack (1999-2010) 98
Berti Vogts (1967-1978) 96
Sepp Maier (1966-1979) 95
Karl-Heinz Rummenigge (1976-1986) 95
Tính đến 28 tháng 6 năm 2012
  Cầu thủ còn đang thi đấu

Các kỷ lục khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tính tại các vòng chung kết World Cup và Euro

Đội trưởng và huấn luyện viên trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Germany shirt logo.png
Danh sách các đội trưởng và huấn luyện viên trưởng đội tuyển Đức

Đội trưởng



Huấn luyện viên trưởng

Ghi chú

* Đội trưởng danh dự.

Thống kê huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thời gian Số trận Thắng Hòa1 Thua Tỉ lệ thắng % Danh hiệu
DFB committee 1908–1926 58 16 12 30 27.6
Otto Nerz 1926–1936 70 42 10 18 60 Third place at the 1934 World Cup
Sepp Herberger2 1936–1942
1950–1964
167 94 27 46 56.3 Winner of the 1954 World Cup, Fourth place at the 1958 World Cup
Helmut Schön 1964–1978 139 87 31 21 62.6 Runner-up of the 1966 World Cup, Third place at the 1970 World Cup, Winner of Euro 1972, Winner of the 1974 World Cup, Runner-up of Euro 1976
Jupp Derwall 1978–1984 67 44 12 11 65.7 Winner of Euro 1980, Runner-up of the 1982 World Cup
Franz Beckenbauer 1984–1990 66 34 20 12 51.5 Runner-up of the 1986 World Cup, Winner of the 1990 World Cup
Berti Vogts 1990–1998 102 66 24 12 64.7 Runner-up of Euro 1992, Winner of Euro 1996
Erich Ribbeck 1998–2000 24 10 6 8 41.7
Rudi Völler 2000–2004 53 29 11 13 54.7 Runner-up of the 2002 World Cup
Jürgen Klinsmann 2004–2006 34 20 8 6 58.8 Third place at the 2005 Confederations Cup, Third place at the 2006 World Cup
Joachim Löw3 2006– 83 57 13 13 68.7 Runner-up of Euro 2008, Third place at the 2010 World Cup,Winner of the 2014World Cup
Total3 863 499 174 190 57.8
Notes
  1. Includes matches won or lost on penalty shootouts.
  2. Record includes periods of pre-division Đức (1936–1942 – 70 matches: 42 wins, 13 draws, 15 losses) and West Đức (1950–1964 – 97 matches: 52 wins, 14 draws, 31 losses; no national team matches and no national coaches between 1942 and 1950).[101]
  3. Record as of 27 July 2014.[102]

Áo đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Áo chính thức[103]

World Cup
1954
World Cup
1970
World Cup
1974
World Cup
1978
Euro 1980 và World Cup 1982
Euro
1984
World Cup
1986
Euro 1988 và World Cup 1990
Euro
1992
World Cup
1994
Euro
1996
World Cup
1998
Euro
2000
World Cup
2002
Euro
2004
World Cup
2006
Euro
2008
World Cup
2010
Euro
2012
World Cup
2014

Đội ngũ kĩ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Joachim Löw và trợ lí Hans-Dieter Flick năm 2006
Position Name
Huấn luyện viên trưởng (huấn luyện viên) Đức Joachim Löw
Trợ lý huấn luyện viên Đức Hans-Dieter Flick
huấn luyện viên thủ môn Đức Andreas Köpke
Fitness coach Hoa Kỳ Shad Forsythe
Fitness coach Đức Yann-Benjamin Kugel
Fitness coach Hoa Kỳ Masaya Sakihana
huấn luyện viên thể lực Đức Tiến sĩ Hans-Dieter Hermann
Quản lý tài chính Đức Oliver Bierhoff
Athletic supervisor Đức Matthias Sammer
Trinh sát Thụy Sĩ Urs Siegenthaler
Trinh sát viên Đức Christofer Clemens
Đội ngũ bác sĩ Đức Giáo sư Tiến sĩ Tim Meyer
Đội ngũ bác sĩ Đức Tiến sĩ Hans-Wilhelm Müller-Wohlfahrt
Đội ngũ bác sĩ Đức Tiến sĩ Josef Schmitt
vật lý trị liệu Đức Wolfgang Bunz
vật lý trị liệu Đức Klaus Eder
vật lý trị liệu Đức Christian Huhn
vật lý trị liệu Đức Christian Müller

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình đội tuyển Đức triệu tập cho các trận đấu World Cup 2014[104].

Số liệu thống kê tính đến 1 tháng 6 năm 2014.
0#0 Vị trí Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
1 TM Manuel Neuer 27 tháng 3, 1986 (28 tuổi) 45 0 Đức Bayern Munich
12 TM Ron-Robert Zieler 12 tháng 2, 1989 (25 tuổi) 3 0 Đức Hannover 96
22 TM Roman Weidenfeller 6 tháng 8, 1980 (34 tuổi) 2 0 Đức Borussia Dortmund
2 HV Kevin Großkreutz 19 tháng 7, 1988 (26 tuổi) 4 0 Đức Borussia Dortmund
4 HV Benedikt Höwedes 29 tháng 2, 1988 (26 tuổi) 20 1 Đức Schalke 04
5 HV Mats Hummels 16 tháng 12, 1988 (25 tuổi) 29 2 Đức Borussia Dortmund
15 HV Erik Durm 12 tháng 5, 1992 (22 tuổi) 1 0 Đức Borussia Dortmund
16 HV Philipp Lahm 11 tháng 11, 1983 (31 tuổi) 105 5 Đức Bayern Munich
17 HV Per Mertesacker 29 tháng 9, 1984 (30 tuổi) 97 4 Anh Arsenal
20 HV Jérôme Boateng 3 tháng 9, 1988 (26 tuổi) 38 0 Đức Bayern Munich
3 TV Matthias Ginter 19 tháng 1, 1994 (20 tuổi) 2 0 Đức SC Freiburg
6 TV Sami Khedira 4 tháng 4, 1987 (27 tuổi) 45 4 Tây Ban Nha Real Madrid
7 TV Bastian Schweinsteiger 1 tháng 8, 1984 (30 tuổi) 101 23 Đức Bayern Munich
8 TV Mesut Özil 15 tháng 10, 1988 (26 tuổi) 54 17 Anh Arsenal
9 TV André Schürrle 6 tháng 11, 1990 (24 tuổi) 32 12 Anh Chelsea
10 TV Lukas Podolski 4 tháng 6, 1985 (29 tuổi) 113 46 Anh Arsenal
13 TV Thomas Müller 13 tháng 9, 1989 (25 tuổi) 48 17 Đức Bayern Munich
14 TV Julian Draxler 20 tháng 9, 1993 (21 tuổi) 11 1 Đức Schalke 04
18 TV Toni Kroos 4 tháng 1, 1990 (24 tuổi) 43 5 Tây Ban Nha Real Madrid
19 TV Mario Götze 3 tháng 6, 1992 (22 tuổi) 28 7 Đức Bayern Munich
21 TV Marco Reus 31 tháng 5, 1989 (25 tuổi) 20 7 Đức Borussia Dortmund
23 TV Christoph Kramer 19 tháng 2, 1991 (23 tuổi) 2 0 Đức Borussia Mönchengladbach
11 Miroslav Klose 9 tháng 6, 1978 (36 tuổi) 131 68 Ý Lazio

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ở Đức, đội tuyển quốc gia thường được gọi là Die Nationalmannschaft (đội tuyển quốc gia), DFB-Elf (mười một DFB), DFB-Auswahl (DFB selection) hoặc Nationalelf (mười một cầu thủ quốc gia). Trong khi ở các kênh truyền thông quốc tế, họ thường được gọi là (Die) Mannschaft (nghĩa là đội tuyển). Biệt danh Die Adler (Những chú Đại bàng) hoặc Deutsche Adler (Đại bàng Đức) hay Những cỗ xe tăng Đức cũng được sử dụng.
  2. ^ a ă “Germany: FIFA/Coca-Cola World Ranking”. FIFA. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014. 
  3. ^ a ă â “All matches of The National Team in 1908”. DFB. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008. 
  4. ^ “All matches of The National Team in 1912”. DFB. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008. 
  5. ^ “All matches of The National Team in 1909”. DFB. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008. 
  6. ^ Trận đấu này không được coi là trận đấu quốc tế bởi Hiệp hội bóng đá Anh, và không được xếp vào kỷ lục của đội tuyển Anh
  7. ^ a ă â “Germany”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ “Germany's strength in numbers”. UEFA. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2012. 
  9. ^ “Statistics – Most-capped players”. DFB. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  10. ^ “Statistics – Top scorers”. DFB. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  11. ^ “Olympic Football Tournament Montreal 1976”. FIFA. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  12. ^ Silver, Nate (13 tháng 7 năm 2014). “Germany May Be the Best National Soccer Team Ever”. FiveThirtyEight. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  13. ^ Trong thời kỳ này họ được gọi là "die 11 besten Spieler von Deutschland" hay "die Bundesauswahl" (Liên đoàn XI). Tên gọi "Đội tuyển quốc gia" hoặc "Quốc gia XI" không được dùng cho đến tận sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất
  14. ^ “Professor Otto Nerz”. DFB (bằng German). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2012. 
  15. ^ Muras, Udo (16 tháng 5 năm 2007). “Nur Hitler konnte sie stoppen” (bằng German). Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  16. ^ “All matches of The National Team in 1937”. DFB. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2009. 
  17. ^ “(West) Germany – International Results”. RSSSF. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2009. 
  18. ^ Nick Amies (1 tháng 4 năm 2010). “World Cup Final, 1954: Hungary vs. West Germany”. The Making of a World Cup Legend. Deutsche Welle. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  19. ^ “The Miracle of Bern”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  20. ^ Nick Amies (1 tháng 4 năm 2010). “World Cup Final, 1966: England vs. West Germany”. The Making of a World Cup Legend. Deutsche Welle. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  21. ^ “England’s claim to the firmament”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  22. ^ Nick Amies (1 tháng 4 năm 2010). “World Cup Semi-Final, 1970: Italy vs. West Germany”. The Making of a World Cup Legend. Deutsche Welle. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  23. ^ “A test of endurance and will”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  24. ^ “Müller the menace in German masterclass”. UEFA. 3 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  25. ^ “West Germany make their mark”. UEFA. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  26. ^ “1974 FIFA World Cup Germany – Dutch take plaudits but Germany take the prize”. FIFA. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  27. ^ “East edge battle of brothers”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  28. ^ Nick Amies (1 tháng 4 năm 2010). “World Cup Final, 1974: West Germany vs. The Netherlands”. The Making of a World Cup Legend. Deutsche Welle. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  29. ^ “Oranje crushed in Munich”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  30. ^ “Panenka's panache seals Czech triumph”. UEFA. 3 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  31. ^ “Hrubesch turns West Germany's unlikely hero”. UEFA. 4 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  32. ^ “Les Fennecs spring a surprise”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  33. ^ Nick Amies (1 tháng 4 năm 2010). “World Cup Semi-Final, 1982: West Germany vs. France”. The Making of a World Cup Legend. Deutsche Welle. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012. 
  34. ^ “Battling Germans knock out brave Bleus”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  35. ^ “Italians triumph in heavyweight rumble”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  36. ^ “BBC Sport – World Cup 2014: Miroslav Klose breaks finals goals record”. Bbc.com. 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  37. ^ a ă “Franz Beckenbauer”. FIFA. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  38. ^ “1986 FIFA World Cup Mexico – Maradona lights up the world – with a helping hand”. FIFA. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  39. ^ “1986 FIFA World Cup Mexico – Matches”. FIFA. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  40. ^ “Van Basten sparks Netherlands joy”. UEFA. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  41. ^ a ă “1990 FIFA World Cup Italy – Germany hit winning note as Italian chorus fades”. FIFA. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  42. ^ “Gazza weeps as Germans prevail”. FIFA. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  43. ^ “1990 FIFA World Cup Italy – Matches”. FIFA. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012. 
  44. ^ “Gatecrashing Denmark down Germany”. UEFA. 5 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  45. ^ “Bulgaria Ends Germany's Reign”. New York Times. 11 tháng 7 năm 1994. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  46. ^ Mifflin, Lawrie (11 tháng 7 năm 1994). “WORLD CUP '94; Bulgaria, a Small Foot in Soccer, Steps Closer to Glass Slipper”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  47. ^ Thomsen, Ian (1 tháng 7 năm 1996). “Germany Wins Euro 96 With a 'Golden Goal'”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2012. 
  48. ^ “Hosts denied by Germany in epic semi-final”. UEFA. 6 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  49. ^ “Bierhoff hero of Germany's EURO '96 win”. UEFA. 6 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  50. ^ Longman, Jere (5 tháng 7 năm 1998). “WORLD CUP '98; Croatia Stuns Germany With the Aid Of a Red Card”. New York Times. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  51. ^ Hughes, Rob (9 tháng 9 năm 1998). “Another Day, Another Coach Gone:Now It's Vogts”. New York Times. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2012. 
  52. ^ “Holders Germany suffer heavy defeat”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 20 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  53. ^ “Ribbeck quits as Germans head home”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 21 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  54. ^ “Germany edge out Paraguay”. BBC Sport (BBC). 15 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  55. ^ “Germany beat valiant USA”. BBC Sport (BBC). 22 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  56. ^ “Germany shatter Korea”. BBC Sport (BBC). 25 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  57. ^ “Brazil crowned world champions”. BBC Sport (BBC). 30 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  58. ^ “Kahn wins Golden Ball award”. BBC Sport (BBC). 2 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  59. ^ “Kahn named top keeper”. BBC Sport (BBC). 30 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  60. ^ “Germany 1–2 Czech Rep”. BBC Sport (BBC). 23 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2012. 
  61. ^ “Voeller quits Germany role”. BBC Sport. 24 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012. 
  62. ^ “Klinsmann takes German post”. London: guardian.co.uk. 26 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012. 
  63. ^ [1]
  64. ^ [2]
  65. ^ “Germany 2–0 Sweden”. BBC Sport (BBC). 24 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  66. ^ “Lehmann had penalty taker notes”. BBC Sport (British Broadcasting Corporation). 1 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  67. ^ “Germany 0–2 Italy (aet)”. BBC Sport (BBC). 4 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  68. ^ “Germany 3–1 Portugal”. BBC Sport (BBC). 8 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  69. ^ “Klose finishes as leading scorer”. BBC Sport. 9 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012. 
  70. ^ “Klinsmann quits as Germany coach”. BBC Sport. 12 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012. 
  71. ^ Chowdhury, Saj (16 tháng 6 năm 2008). “Austria 0–1 Germany & Poland 0–1 Croatia”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  72. ^ McKenzie, Andrew (19 tháng 6 năm 2008). “Portugal 2–3 Germany”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  73. ^ McNulty, Phil (25 tháng 6 năm 2008). “Germany 3–2 Turkey”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2012. 
  74. ^ McNulty, Phil (29 tháng 6 năm 2008). “Germany 0–1 Spain”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2012. 
  75. ^ McCarra, Kevin (27 tháng 6 năm 2010). “World Cup 2010: Germany tear down England's defence”. London: guardian.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  76. ^ “FAW boss Jonathan Ford rejects technology idea”. BBC News. 28 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  77. ^ Garside, Kevin (27 tháng 6 năm 2010). “England v Germany: Frank Lampard's disallowed goal highlights stupidity of Fifa”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  78. ^ “England v Germany: Frank Lampard denied goal by Uruguayan linesman – in pictures”. The Daily Telegraph (London). 27 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  79. ^ Fifield, Dominic (3 tháng 7 năm 2010). “World Cup 2010: Germany dump Diego Maradona and Argentina out”. London: guardian.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  80. ^ “FIFA World Cup Record – Players”. FIFA. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2012. 
  81. ^ McCarra, Kevin (7 tháng 7 năm 2010). “World Cup 2010: Spain overcome Germany after Carles Puyol winner”. London: guardian.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  82. ^ Duxbury, Nick (10 tháng 7 năm 2010). “World Cup 2010: Germany defeated Uruguay 3–2 to take third place. in third-place thriller”. London: guardian.co.uk. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2012. 
  83. ^ “Golden Boot”. FIFA. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012. 
  84. ^ “Muller named Hyundai Best Young Player”. FIFA. 9 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. 
  85. ^ “Germany overpower Greece in Gdansk”. UEFA. 22 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012. 
  86. ^ “2014 Fifa World Cup – Group G”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2014. 
  87. ^ Ronay, Barney (16 tháng 6 năm 2014). “Portugal’s Cristiano Ronaldo outshone by Germany’s Thomas Müller”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014. 
  88. ^ James, David (14 tháng 6 năm 2014). “Why Germany’s team ethic could be too much for even Cristiano Ronaldo”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014. 
  89. ^ “France 0–1 Germany – watch again – BBC Sport”. Bbc.com. 1 tháng 1 năm 1970. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  90. ^ “Brazil 1–7 Germany: Match replay (UK only) – BBC Sport”. Bbc.com. 9 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  91. ^ “Why Mueller is the World Cup superstar Messi only dreams of being”. eurosport.yahoo.com. 12 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014. 
  92. ^ Futterman, Matthew (11 tháng 7 năm 2014). “The World Cup Final: The Best Team vs. the Best Player”. Wall Street Journal. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014. 
  93. ^ Raish, Dave. “Götze volley gives Germany their fourth World Cup title”. Deutsche Welle. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  94. ^ “Germans End Long Wait: 24 Years and a Bit Extra”. New York Times. 13 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2014. 
  95. ^ “Deutsche Fußball-Nationalmannschaft 1978–1980”. sportmuseum.de. Deutsches Sport & Olympia Museum. 4 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2012. 
  96. ^ “DFB-Trikot 2012”. hansanews.de. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2012. 
  97. ^ “2014 FIFA World Cup Regulations”. uefa.com. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  98. ^ “Why does Germany wear green? The Ireland myth and”. A Football Report. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014. 
  99. ^ Jürgen Zelustek, Thomas Niklaus / sid (1 tháng 2 năm 2006). “Traditionstrikot vor dem Aus – Klinsmann steht auf Rot” (bằng German). Spiegel Online. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2011. 
  100. ^ a ă â Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
  101. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên All_Matches_from_1908
  102. ^ “Nationaltrainer” (bằng tiếng Đức). DFB. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012. 
  103. ^ “Germany Football Shirts – Old Football Kits”. oldfootballshirts.com. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  104. ^ “Das Team”. DFB. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]