Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ
| Bỉ | |||
| Tên khác | Rode Duivels / Diables Rouges (Quỷ đỏ) | ||
| Hiệp hội | Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ | ||
| Liên đoàn châu lục | UEFA (châu Âu) | ||
| Huấn luyện viên | |||
| Đội trưởng | Timmy Simons | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Jan Ceulemans (96) | ||
| Vua phá lưới | Paul Van Himst, Bernard Voorhoof (30) |
||
| Mã FIFA | BEL | ||
| Xếp hạng FIFA | 15 (5.2013) | ||
| Cao nhất | 15 (5.2013) | ||
| Thấp nhất | 71 (6.2007) | ||
| Hạng Elo | 47 (11.4.2011) | ||
| Elo cao nhất | 4 (tháng 3, 1921) | ||
| Elo thấp nhất | 63 (27 tháng 7 năm 2009) | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên Bỉ (Brussels, Bỉ; 1 tháng 5 1904) |
|||
| Trận thắng đậm nhất Bỉ (Brussels, Bỉ; 4 tháng 6 1994) Bỉ (Brussels, Bỉ; 28 tháng 2 2001) |
|||
| Trận thua đậm nhất Anh (London, Anh; 17 tháng 4 1909) |
|||
|
|
|||
| Giải Thế giới | |||
| Số lần tham dự | 11 (lần đầu vào năm 1930) | ||
| Kết quả tốt nhất | Hạng tư, 1986 | ||
| Giải vô địch bóng đá châu Âu | |||
| Số lần tham dự | 4 (lần đầu vào năm 1972) | ||
| Kết quả tốt nhất | Hạng nhì, 1980 | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ là đội tuyển cấp quốc gia của Bỉ do Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ quản lý.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Bỉ có trận đấu chính thức đầu tiên vào ngày 1 tháng 5 năm 1904 là trận hoà 3-3 trước đội tuyển Pháp. Trước trận đấu này, đội tuyển chọn lọc của Bỉ có thi đấu vài trận, nhưng trong đội hình có một số cầu thủ Anh, do đó không được tính là trận đấu chính thức. Ví dụ Bỉ thắng Hà Lan 8-0 ngày 28 tháng 4 năm 1901 với sự có mặt của vài cầu thủ Anh. Sau trận đấu này, hai nước láng giềng Bỉ và Hà Lan có truyền thống một năm đấu 2 trận bắt đầu từ năm 1905, thường được tổ chức ở Antwerp và Rotterdam (sau chuyển sang Amsterdam). Vào thời điểm đó, đội tuyển Bỉ thường do một ban tuyển lựa quyết định gồm đại diện của 6 hoặc 7 câu lạc bộ lớn.
Biệt danh Những con quỷ đỏ của đội tuyển Bỉ do phóng viên Pierre Walckiers đặt cho sau trận thắng 3-2 trước Hà Lan (Rotterdam, 1906).
Hơn sáu thập kỉ sau, Bỉ trở thành một trong những đội bóng mạnh, tuy không vô địch các giải đấu lớn nhưng đối thủ không dễ vượt qua họ, kể cả ở sân nhà hay sân khách. Chìa khoá thành công của đội tuyển là việc sử dụng bẫy việt vị, một chiến thuật phòng ngự được phát triển trong thập niên 1960, ban đầu tại câu lạc bộ Anderlecht của huấn luyện viên người Pháp Pierre Sinibaldi.
Giai đoạn thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 là thời gian mạnh nhất trong lịch sử của Bỉ. Dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên dày dạn kinh nghiệm Guy Thys, người từng chỉ đạo hơn 100 trận đấu chính thức, Bỉ nổi tiếng là một đội tuyển tổ chức tốt, thể lực sung mãn, một đối thủ khó vượt qua. Đội tuyển có những cầu thủ trình độ cao như thủ môn Jean-Marie Pfaff, hậu vệ phải Eric Gerets, tiền vệ Jan Ceulemans, và tiền vệ kiến thiết Enzo Scifo. Tuy có một vài trận đấu không tốt với các đối thủ yếu hơn, nhưng họ thường đấu hay khi gặp các đối thủ mạnh. Cho đến tận gần đây, năm 2002, các đội bóng hàng đầu thế giới cũng ngại chạm trán với Những con quỷ đỏ, thậm chí cả nhà vô địch World Cup 2002, đội tuyển Brasil cũng phải chật vật mới thắng Bỉ 2-0 ở trận đấu loại trực tiếp trong giải này. Tuy nhiên kể từ đó, đội tuyển Bỉ dần xuống phong độ, chưa tìm lại được danh tiếng thuở trước.
Sau khi thất bại tại vòng loại World Cup 2006 (lần đầu tiên sau 24 năm), huấn luyện viên Aimé Anthuenis không được gia hạn hợp đồng, và René Vandereycken thay thế Anthuenis từ 1 tháng 1 năm 2006. Tuy vậy ông cũng không đưa được đội tuyển Bỉ vượt qua vòng loại Euro 2008, chỉ xếp thứ 5 ở bảng đấu loại.
Thành tích tại giải vô địch thế giới [sửa]
Sự xuất hiện của Bỉ tại giải vô địch thế giới (World Cup) phản ánh mức độ xuất hiện của tài năng ở trong nước tại từng thời điểm, giống như ở các đội tuyển Cộng hoà Séc, Hà Lan, hay Thụy Điển. Bỉ đã 6 lần liên tiếp vượt qua vòng loại World Cup - (từ 1982 đến 2002), thành tích chỉ kém Ý (12 lần), Argentina (9) và Tây Ban Nha (8). Các đội tuyển khác có số lần vào vòng chung kết liên tục nhiều hơn không được tính do trong số đó có những lần không phải tham gia vòng loại vì là chủ nhà hoặc đương kim vô địch.
Thi đấu một cách nỗ lực ở World Cup, đội tuyển Bỉ đã vượt qua vòng đấu bảng 5 trong 6 lần tham dự từ 1982 đến 2002, trong đó có 4 lần liên tiếp. Một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất của họ là trận thắng đương kim vô địch Argentina 1-0 tại trận khai mạc World Cup 1982 tại Nou Camp.
Bốn năm sau, họ có được thành tích tốt nhất ở World Cup trong lịch sử, khi xếp hạng 4 chung cuộc ở World Cup 1986 với những cầu thủ nổi bật như Jan Ceulemans, Eric Gerets và Jean-Marie Pfaff. Bỉ bất ngờ chiến thắng đội bóng được mến mộ Liên Xô với những hảo thủ như Igor Belanov, Rinat Dasayev... 4-3 sau hai hiệp phụ ở vòng 2, sau đó là Tây Ban Nha ở tứ kết. Tuy nhiên Bỉ chịu khuất phục trước đội vô địch giải Argentina 0-2 ở bán kết. Tại trận tranh giải ba, Bỉ thua Pháp 2-4 sau hai hiệp phụ. Đội trưởng tuyển Bỉ, tiền vệ Jan Ceulemans là cầu thủ Bỉ đầu tiên được lựa chọn vào đội hình tiêu biểu của một World Cup.
Mặc dù bị loại ngay từ vòng 2, màn trình diễn của Bỉ tại World Cup 1990 được đánh giá còn tốt hơn 4 năm trước. Ở trận đấu loại trực tiếp, Bỉ chiếm ưu thế trước Anh, chỉ thua ở những phút cuối của hiệp phụ bởi bàn thắng của David Platt. Enzo Scifo nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất và cầu thủ xuất sắc thứ nhì sau Lothar Matthäus.
Tại World Cup 1994 Bỉ thua đương kim vô địch Đức tại vòng 2. Trận đấu đáng nhớ bởi một quyết định gây tranh cãi của trọng tài Kurt Röthlisberger. Bỉ không được một quả phạt đền khi Josip Weber bị chèn ngã trong vòng cấm. Michel Preud'homme được bầu là thủ môn xuất sắc nhất giải và có tên trong đội hình tiêu biểu.
Ở World Cup 1998 Bỉ cùng đội vô địch Pháp là hai đội không thua một trận đấu nào. Ba trận hoà ở vòng bảng trước Hà Lan, Mexico và Hàn Quốc không đủ giúp họ vào vòng sau. Tại giải này Enzo Scifo và Franky Van Der Elst tham dự World Cup lần thứ 4, lập kỉ lục của Bỉ.
Bỉ khởi đầu World Cup 2002 không thật suôn sẻ, nhưng đội bóng tiến bộ qua từng trận đấu. Đội trưởng Marc Wilmots ghi bàn trong cả 3 trận đấu vòng bảng. Ở vòng 2 họ gặp phải nhà vô địch của giải Brasil. Giống như năm 1994, kết quả trận đấu bị ảnh hưởng bởi quyết định không chính xác của trọng tài. Ngay cả người Brasil cũng ngạc nhiên khi trọng tài Peter Prendergast không công nhận bàn thắng mở tỉ số của Marc Wilmots. Kết cục Bỉ thua 0-2. Huấn luyện viên Brasil Luiz Felipe Scolari thừa nhận sau giải rằng Những con quỷ đỏ là đối thủ khó khăn nhất của Brasil ở giải này. Bỉ giành được giải thưởng fair-play (cho đội bóng chơi đẹp). Marc Wilmots cân bằng kỉ lục tham dự 4 kì World Cup của Enzo Scifo và Franky Van Der Elst, tuy nhiên lần tham dự đầu tiên Wilmots không được ra sân. Wilmots cũng lập kỉ lục ghi bàn cho Bỉ tại các kì World Cup với 5 bàn thắng.
Thời gian gần đây phong độ đội tuyển không tốt và họ không vượt qua vòng loại ở 2 kỳ World Cup 2006 và 2010
| Năm | Thành tích | Thứ hạng* |
Số trận |
Thắng | Hòa** | Thua | Bàn thắng |
Bàn thua |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vòng 1 | 11 | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | 4 | |
| Vòng 1 | 15 | 1 | 0 | 0 | 1 | 2 | 5 | |
| Vòng 1 | 13 | 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 3 | |
| 1950 | Bỏ cuộc | - | - | - | - | - | - | - |
| Vòng 1 | 12 | 2 | 0 | 1 | 1 | 5 | 8 | |
| 1958 đến 1966 | Không vượt qua vòng loại |
- | - | - | - | - | - | - |
| Vòng 1 | 10 | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 5 | |
| 1974 đến 1978 | Không vượt qua vòng loại |
- | - | - | - | - | - | - |
| Vòng 2 | 10 | 5 | 2 | 1 | 2 | 3 | 5 | |
| Bán kết | 4 | 7 | 2 | 2 | 3 | 12 | 15 | |
| Vòng 2 | 11 | 4 | 2 | 0 | 2 | 6 | 4 | |
| Vòng 2 | 11 | 4 | 2 | 0 | 2 | 4 | 4 | |
| Vòng 1 | 19 | 3 | 0 | 3 | 0 | 3 | 3 | |
| Vòng 2 | 14 | 4 | 1 | 2 | 1 | 6 | 7 | |
| 2006 đến 2010 | Không vượt qua vòng loại |
- | - | - | - | - | - | - |
| Tổng cộng | 11/19 | 1 lần hạng 4 |
36 | 10 | 9 | 17 | 46 | 63 |
- *Thứ hạng không chính thức dựa trên vòng đấu mà đội bóng lọt vào và điểm số đạt được với các đội bóng cùng vào một vòng đấu.
- **Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu.
Thành tích tại giải vô địch châu Âu [sửa]
Thành tích của Bỉ tại Giải vô địch bóng đá châu Âu không tương xứng với World Cup. Thành tích tốt nhất của họ là ngôi á quân năm 1980 tại Ý sau khi thua sát nút 1-2 trước Tây Đức tại trận chung kết. Bỉ là chủ nhà (hoặc đồng chủ nhà) 2 lần, xếp thứ ba năm 1972 và gây thất vọng trong 2 năm 1984 và 2000 khi bị loại ngay từ vòng bảng.
- 1960 đến 1968 - Không vượt qua vòng loại
- 1972 - Hạng ba
- 1976 - Không vượt qua vòng loại
- 1980 - Hạng nhì
- 1984 - Vòng 1
- 1988 đến 1996 - Không vượt qua vòng loại
- 2000 - Vòng 1
- 2004 đến 2012 - Không vượt qua vòng loại
Thế vận hội [sửa]
Bỉ từng đoạt huy chương vàng môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1920, huy chương đồng Thế vận hội Mùa hè 1900. Ngày 16 tháng 6, 2007, Bỉ đã giành quyền tham dự Thế vận hội Mùa hè 2008 sau khi hòa 2-2 với đội tuyển Hà Lan.
Cầu thủ [sửa]
Các cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất [sửa]
Tính đến 13 tháng 8 năm 2009, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều lần nhất là:
| # | Họ tên | Năm thi đấu | Số trận | Số bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Jan Ceulemans | 1976 - 1991 | 96 | 23 |
| 2 | Eric Gerets | 1975 - 1991 | 86 | 2 |
| = | Franky Van Der Elst | 1984 - 1998 | 86 | 1 |
| 4 | Enzo Scifo | 1984 - 1998 | 84 | 18 |
| 5 | Paul Van Himst | 1960 - 1974 | 81 | 30 |
| 6 | Bart Goor | 1999 - 2008 | 78 | 13 |
| 7 | Georges Grün | 1984 - 1995 | 77 | 6 |
| 8 | Timmy Simons | 2001 - nay | 74 | 3 |
| 9 | Lorenzo Staelens | 1989 - 2000 | 70 | 8 |
| 10 | Marc Wilmots | 1990 - 2002 | 70 | 28 |
Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất [sửa]
Tính đến 11 tháng 2 năm 2009, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ là:
| # | Họ tên | Năm thi đấu | Số bàn thắng | Số trận |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Bernard Voorhoof | 1928 - 1940 | 30 | 61 |
| = | Paul Van Himst | 1960 - 1974 | 30 | 81 |
| 3 | Marc Wilmots | 1990 - 2002 | 28 | 70 |
| 4 | Joseph Mermans | 1945 - 1956 | 27 | 56 |
| 5 | Robert De Veen | 1906 - 1913 | 26 | 23 |
| = | Raymond Braine | 1925 - 1939 | 25 | 54 |
| 7 | Marc Degryse | 1984 - 1996 | 23 | 63 |
| = | Jan Ceulemans | 1976 - 1991 | 23 | 96 |
| = | Wesley Sonck | 2001 - nay | 23 | 49 |
| 10 | Henri Coppens | 1949 - 1959 | 21 | 47 |
Huấn luyện viên [sửa]
Trước năm 1910, một hội đồng của Hiệp hội bóng đá Bỉ đứng ra lựa chọn cầu thủ.
Liên kết ngoài [sửa]
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ trên trang chủ của FIFA
| Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ - Đội tuyển nam - Đội tuyển nữ Giải vô địch bóng đá Bỉ - Giải hạng nhì - Cúp bóng đá Bỉ - Cúp Liên đoàn - Siêu cúp |
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ. |