Đội tuyển bóng đá quốc gia Albania
| Albania | |||
| Tên khác | Kuq e zinjtë (Đỏ và đen) | ||
| Hiệp hội | Hiệp hội bóng đá Albania | ||
| Liên đoàn châu lục | UEFA (châu Âu) | ||
| Huấn luyện viên | (từ 2009) |
||
| Đội trưởng | Altin Lala | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Altin Lala Foto Strakosha (73) |
||
| Vua phá lưới | Alban Bushi (14) | ||
| Sân nhà | Qemal Stafa | ||
| Mã FIFA | ALB | ||
| Xếp hạng FIFA | 43 (5.2013) | ||
| Cao nhất | 43 (5.2013) | ||
| Thấp nhất | 124 (8.1997) | ||
| Hạng Elo | 87 (11.4.2011) | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên Albania (Tirana, Albania; 7.10.1946) |
|||
| Trận thắng đậm nhất Albania (Tirana, Albania; 12.8.2009) |
|||
| Trận thua đậm nhất Hungary (Budapest, Hungary; 24.9.1950) |
|||
|
|
|||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Albania là đội tuyển cấp quốc gia của Albania do Hiệp hội bóng đá Albania quản lí. Mặc dù đội tuyển Albania không phải là một đội bóng mạnh ở châu Âu, người dân Albania luôn có niềm đam mê với bóng đá và đội tuyển thường cố gắng thể hiện một hình ảnh tốt trước các đối thủ mạnh hơn.
Được thành lập vào 6 tháng 6 năm 1930, đến 16 năm sau đội tuyển Albania mới có trận đấu quốc tế đầu tiên, gặp Nam Tư năm 1946. Năm 1932 Albania đã gia nhập FIFA (trong phiên họp từ 12 tháng 6 đến 16 tháng 6) và năm 1954 là một trong những thành viên sáng lập UEFA. Albania từng được mời tham dự World Cup 1934, tuy nhiên do những khó khăn về tổ chức nên đã không tham dự.
Ở cấp độ bóng đá trẻ, Albania có các đội tuyển dưới 21 tuổi (U21), dưới 19 tuổi (U19) và dưới 17 tuổi (U17). Đội tuyển thành công nhất là lứa tuổi 21. Tại vòng chung kết giải vô địch châu Âu U21 năm 1984, Albania đã lọt vào đến tận tứ kết và chỉ chịu thua Ý 0–2 sau 2 lượt đấu. Đó là đội bóng duy nhất của Albania ở mọi cấp độ lọt vào vòng chung kết một giải đấu lớn. Hiện giờ Albania chưa có đội tuyển bóng đá nữ nhưng đang cố gắng thành lập.
Hầu hết các trận đấu của đội tuyển bóng đá Albania diễn ra trên sân vận động Qemal Stafa. Sân vận động đa năng này được xây từ thập niên 1930 và ngày nay phục vụ chủ yếu cho các trận bóng. Sân vận động với sức chứa 25 000 khán giả với 15 000 ghế ngồi. Albania còn sử dụng sân vận động Loro-Boriçi tại Shkodra, nơi họ có vài trận đấu thành công đáng nhớ như trận thắng Nga 3-1 tại vòng loại Euro 2004. Có tin rằng Hiệp hội bóng đá Albania đang có kế hoạch xây dựng một sân vận động tại thủ đô Tirana với sức chứa khoảng 40 000.
Huấn luyện viên hiện tại của đội tuyển là Josip Kuže người Croatia từ 2009. Ông đi vào lịch sử bóng đá Albania khi dẫn dắt đội tuyển có chiến thắng đậm nhất trước Síp, 6-1 trong một trận giao hữu.
Mục lục |
Thành tích tại các giải đấu [sửa]
Giải vô địch thế giới [sửa]
| Năm | Thành tích |
|---|---|
| 1930 đến 1962 | Không tham dự |
| 1966 | Không vượt qua vòng loại |
| 1970 | FIFA không cho tham dự |
| 1974 | Không vượt qua vòng loại |
| 1978 | Không tham dự |
| 1982 đến 2010 | Không vượt qua vòng loại |
Giải vô địch châu Âu [sửa]
| Năm | Thành tích |
|---|---|
| 1960 | Không tham dự |
| 1964 đến 1972 | Không vượt qua vòng loại |
| 1976 | Không tham dự |
| 1980 đến 2012 | Không vượt qua vòng loại |
Liên kết ngoài [sửa]
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Albania trên trang chủ của FIFA
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||