Đội tuyển bóng đá quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thổ Nhĩ Kỳ

Huy hiệu

Tên khác Ay-Yıldızlılar
Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ
Liên đoàn châu lục UEFA (châu Âu)
Huấn luyện viên Flag of the Netherlands Guus Hiddink, (2010-)
Đội trưởng Emre Belözoğlu
Thi đấu nhiều nhất Rüştü Reçber (119)
Ghi bàn nhiều nhất Hakan Şükür (51)
Sân nhà Sân vận động Olympic Ataturk
Mã FIFA TUR
Xếp hạng FIFA 32 (8.2014)
Cao nhất 5 (6.2004)
Thấp nhất 67 (10.1993)
Hạng Elo 28 (15.8.2014)
Elo cao nhất 9 (11.2002)
Elo thấp nhất 82 (11.1985)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
Thổ Nhĩ Kỳ  2 - 2  România
(Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ; 26.10.1923)
Trận thắng đậm nhất
Thổ Nhĩ Kỳ  7 - 0  Syria
(Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ; 20.11.1949)
Thổ Nhĩ Kỳ  7 - 0  Hàn Quốc
(Genève, Thụy Sĩ; 20.6.1954)
Thổ Nhĩ Kỳ  7 - 0  San Marino
(Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ; 10.11.1996)
Trận thua đậm nhất
Ba Lan  8 - 0  Thổ Nhĩ Kỳ
(Chorzow, Ba Lan; 24.4.1968)
Thổ Nhĩ Kỳ  0 - 8  Anh
(Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ; 14.11.1984)
Anh  8 - 0  Thổ Nhĩ Kỳ
(Luân Đôn, Anh; 14.10.1987)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 2 (lần đầu vào năm 1954)
Kết quả tốt nhất Hạng ba (2002)
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Số lần tham dự 3 (lần đầu vào năm 1996)
Kết quả tốt nhất Bán kết (2008)
Cúp Liên đoàn các châu lục
Số lần tham dự 1 (lần đầu vào năm 2003)
Kết quả tốt nhất Hạng ba (2003)


Đội tuyển bóng đá quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ là đội tuyển cấp quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ do Liên đoàn bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ quản lý.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

World Cup 1950 và 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ Nhĩ Kỳ giành quyền tham dự World Cup 1950 nhờ đánh bại Syria 7-0 nhưng họ phải rút lui vì lý do tài chính.

Sau đó Thổ Nhĩ Kỳ giành quyền tham dự World Cup 1954 sau trận đấu play-off với Tây Ban Nha. Thổ Nhĩ Kỳ ban đầu đã thua 4-1 trước Tây Ban Nha, nhưng 1 chiến thắng 1-0 sau đó đề xướng cuộc đấu lại. Trong trường hợp này nếu họ hòa 2-2, số phận họ được quyết định bằng tung đồng xu. Thổ Nhĩ Kỳ được đặt vào 1 bảng đấu có Tây Đức và Hungary. Tuy nhiên người Thổ không bao giờ đấu với Hungary vì trong khuôn khổ vòng thi đấu, và 1 thất bại 4-1 trước người Đức đã được người Thổ tiếp nối bằng trận thắng 7-0 trước Hàn Quốc. Thổ Nhĩ Kỳ thua Tây Đức trong trận play-off với tỷ số 7-2.

Thập kỷ 60 đến 90[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có sự ra mắt của 1 giải đấu quốc gia, và được trưng ra bởi những CLB Thổ Nhĩ Kỳ trong giải châu Âu, thập kỷ 60 vẫn là 1 giai đoạn khô khan đối với đội tuyển quốc gia. Thập kỷ 70 chứng kiến Thổ Nhĩ Kỳ vẫn giữ lại được quyền thi đấu vòng loại World Cup và Giải Vô địch châu Âu, nhưng đội bóng có quá ít điều kiện đủ tiêu chuẩn tham dự Euro 1972 và 1976.

Thập kỷ 80 chứng kiến 2 thất bại cùng tỷ số 8-0 của Thổ Nhĩ Kỳ trước đội tuyển Anh. Vòng loại World Cup 1990 vẫn chưa tạo ra được 1 điểm mốc chuyển đổi cho bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ, với việc Thổ Nhĩ Kỳ chỉ bỏ lỡ cơ hội tham dự ở trận đấu cuối cùng.

Euro 1996 và 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ Nhĩ Kỳ giành được quyền tham dự Euro 1996, bằng việc đánh bại cả Thụy Sĩ lẫn Thụy Điển với tỷ số 2-1, nhưng sau đó họ thua tất cả các trận đấu mà không ghi nổi bàn thắng nào. Tuy nhiên, họ cũng đã về nước với 1 giải nhỏ: Cầu thủ chơi Fair-play nhất, thuộc về Alpay Ozalan.

Thổ Nhĩ Kỳ giành quyền tham dự Euro 2000 bằng việc đánh bại Ireland trong trận play-off. Thổ Nhĩ Kỳ đã để thua Ý trong trận đấu đầu tiên với tỷ số 2-1, họ đã hòa trận thứ 2 với Thụy Điển với tỷ số 0-0, và đánh bại đội đồng chủ nhà Bỉ với tỷ số 2-0, làm nên lịch sử khi lần đầu tiên trong các kỳ Euro đội chủ nhà bị loại ngay từ vòng bảng, đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào vòng 8 đội mạnh nhất, nơi mà họ đã để thua Bồ Đào Nha với tỷ số 2-0 trong trận tứ kết.

World Cup 2002[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ mở màn World Cup 2002 với trận thua Brasil 2-1. Thổ Nhĩ Kỳ hoàn tất vòng bảng với trận thắng Trung Quốc 3-0, sau khi hòa Costa Rica 1-1.

Sau đó Thổ Nhĩ Kỳ đụng độ đội đồng chủ nhà Nhật Bản ở vòng trong, và đánh bại họ với tỷ số 1-0. Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục cuộc hành trình của họ bằng việc đánh bại Senegal 1-0 bằng bàn thắng vàng để giành quyền vào bán kết đối đầu với Brasil và thua 1-0 đưa họ đến trận tranh hạng ba, và họ đã đoạt được chiếc huy chương đồng sau khi đánh bại đồng chủ nhà Hàn Quốc với tỷ số 3-2. Hakan Şükür đã ghi được bàn thắng đầu tiên trong trận đấu đó cho Thổ Nhĩ Kỳ ở giây thứ 10.8, mặc dù đội tuyển Hàn Quốc là những người phát bóng trước. Đó vẫn là bàn thắng được ghi nhanh nhất trong lịch sử các kỳ World Cup.

Confederations Cup 2003 và Euro 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2003, các cầu thủ Thổ Nhĩ Kỳ đã đoạt hạng ba tại Confederations Cup nơi mà họ hòa Brazil 2-2. Sau cùng Thổ Nhĩ Kỳ đã để thua Pháp 3-2 trong trận bán kết, và sau đó chiến thắng Colombia với tỷ số 2-1 để đoạt hạng ba.

Đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ đã bất ngờ thất bại trong việc giành quyền tham dự Euro 2004 vì để thua hiện tượng Latvia trong trận đấu play-off sau khi kết thúc vòng loại với ngôi nhì bảng.

World Cup 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ lại một lần nữa bỏ lỡ một cách eo hẹp cơ hội vào vòng chung kết sau trận play-off với Thụy Sĩ, sau khi kết thúc vòng loại với ngôi nhì bảng. Đã có những xung đột ác liệt giữa 2 đội sau trận đấu.

Euro 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ Nhĩ Kỳ lại giành quyền tham dự 1 giải đấu thế giới sau 6 năm với ngôi vị nhì bảng có được sau Hy Lạp tại bảng C ở vòng loại. Họ được đặt vào bảng A cùng với Thụy Sĩ, Bồ Đào NhaCH Czech. Trong trận đấu đầu tiên gặp Bồ Đào Nha và Pepe đã ghi bàn đưa Bồ Đào Nha lên dẫn trước. Họ nhân đôi cách biệt trong những phút đá bù giờ do công của Raul Meireles do đó Thổ Nhĩ Kỳ phải trải qua trận thua 2-0.

Thổ Nhĩ Kỳ đánh bại Thụy Sĩ 2-1 trong trận đấu thứ 2 khi cuộc đọ sức diễn ra dưới trời mưa với các bàn thắng do công Semih Senturk (do pha đánh đầu từ cú đá phạt góc cánh phải) và Arda Turan (từ cú sút chéo góc ngoài hàng thủ và vòng cấm địa Thụy Sĩ). Điều này đã loại bỏ hoàn toàn cơ may đi tiếp của đội đồng chủ nhà Thụy Sĩ cho vòng sau. Đây là lần thứ 2 trong lịch sử đội chủ nhà Euro không giành được quyền đi tiếp vào vòng trong. Đội chủ nhà trước đó bị loại cách đây 8 năm là Bỉ cũng vì thua Thổ Nhĩ Kỳ.

Thổ Nhĩ Kỳ đã làm một cuộc lội ngược dòng ngoạn mục khi thắng CH Czech 3-2, ghi tên mình vào danh sách đội bóng đi tiếp tại bảng A. Sau khi bị dẫn trước 2-0 do các bàn thắng của Jan Koller ở phút 34 và Jaroslav Plasil ở phút 62, mọi thứ coi như đã gần tuyệt vọng với người Thổ, mặc dù Arda Turan đã ghi bàn thắng ở phút 75. Kinh ngạc nhất là 3 phút cuối trước 90, người Thổ đã gỡ hòa khi trái bóng tuột khỏi tay phải thủ thành Petr CechNihat Kahveci đệm bóng nhẹ nhàng vào lưới. Khi trận đấu vòng bảng được nghĩ rằng sẽ dẫn đến loạt đá luân lưu lần đầu tiên trong lịch sử Euro, thì Nihat đã vượt qua hậu vệ Czech để nhận đường chuyền từ Hamit Altintop và dùng chân phải đưa bóng lên góc cao khung thành, chính thức loại Czech ra khỏi cuộc chơi và đưa Thổ Nhĩ Kỳ vào tứ kết gặp Croatia.

Người Thổ đã bị Croatia ghi bàn dẫn trước 1-0 do công tiền đạo Ivan Klasnic ở phút 29 của hiệp phụ. Semih Senturk đã nhận bóng trong khu vực cấm địa của Croatia và tung cú sút cuối cùng của trận đấu gỡ hòa cho Thổ Nhĩ Kỳ, đưa trận đấu đến loạt đá luân lưu. Với 3 cú sút hỏng và 1 cú sút vào, Croatia đã chính thức bị loại, và Thổ Nhĩ Kỳ đã vào vòng bán kết đối mặt với đội tuyển Đức.

Họ vào bán kết với chỉ 14 cầu thủ có thể thi đấu được do chấn thương và thẻ phạt. Thổ Nhĩ Kỳ đã cố gắng hết mình trong trận bán kết, tuy nhiên chung cuộc chịu thua Đức 2-3 với bàn thắng của Philipp Lahm ghi được ở phút cuối của trận đấu, chịu dừng bước ở bán kết.

Thành tích tại các giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1930 - Không tham dự
  • 1934 - Bỏ cuộc
  • 1938 - Không tham dự
  • 1950 - Vượt qua vòng loại nhưng bỏ cuộc
  • 1954 - Vòng 1
  • 1958 - Bỏ cuộc
  • 1962 đến 1998 - Không vượt qua vòng loại
  • 2002 - Hạng ba
  • 2006 đến 2014 - Không vượt qua vòng loại

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến nay, đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ đã 3 lần tham dự vòng chung kết các Giải vô địch bóng đá châu Âu, trong đó thành tích cao nhất là vào bán kết (2008).

Năm Thành tích Số trận Thắng Hòa* Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
1960 đến 1992 Không vượt qua
vòng loại
- - - - - -
Cờ của Anh 1996 Vòng 1 3 0 0 3 0 5
Cờ của Bỉ Flag of the Netherlands 2000 Tứ kết 4 1 1 2 3 4
2004 Không vượt qua
vòng loại
- - - - - -
Cờ của Áo Cờ của Thụy Sĩ 2008 Bán kết 5 2 1 2 8 9
2012 Không vượt qua
vòng loại
- - - - - -
Tổng cộng 1 lần bán kết 12 3 2 7 11 15
*Tính cả các trận hòa ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu.

Cúp Confederations FIFA[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là đội hình được triệu tập cho các trận đấu tại vòng loại Euro 2012 với KazakhstanÁo ngày 2 và 6 tháng 9, 2011.

Số lần ra sân và bàn thắng tính đến ngày 10 tháng 8, 2011.

Số Vị trí Cầu thủ Ngày sinh Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
1 TM Volkan Demirel 27 tháng 10, 1981 (32 tuổi) 50 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe
12 TM Sinan Bolat 3 tháng 9, 1988 (26 tuổi) 1 0 Cờ của Bỉ Standard Liège
TM Tolga Zengin 10 tháng 10, 1983 (30 tuổi) 2 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Trabzonspor
2 HV Servet Çetin 17 tháng 3, 1981 (33 tuổi) 57 3 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
3 HV Hakan Balta 23 tháng 3, 1983 (31 tuổi) 29 1 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
4 HV Serdar Kesimal 24 tháng 1, 1989 (25 tuổi) 5 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe
6 HV Gökhan Zan 7 tháng 9, 1981 (32 tuổi) 34 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
7 HV Gökhan Gönül 4 tháng 1, 1985 (29 tuổi) 25 1 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe
13 HV İsmail Köybaşı 10 tháng 7, 1989 (25 tuổi) 8 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş
HV Egemen Korkmaz 3 tháng 11, 1982 (31 tuổi) 0 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Beşiktaş
16 HV Çağlar Birinci 25 tháng 11, 1985 (28 tuổi) 4 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
5 TV Emre Belözoğlu Đội trưởng 7 tháng 9, 1980 (33 tuổi) 77 8 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe
TV Selçuk Şahin 31 tháng 1, 1981 (33 tuổi) 20 2 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe
8 TV Selçuk İnan 10 tháng 2, 1985 (29 tuổi) 14 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
10 TV Mehmet Ekici 25 tháng 3, 1990 (24 tuổi) 5 0 Cờ của Đức Werder Bremen
14 TV Arda Turan 30 tháng 1, 1987 (27 tuổi) 45 11 Cờ của Tây Ban Nha Atlético Madrid
15 TV Mehmet Topal 3 tháng 3, 1986 (28 tuổi) 20 0 Cờ của Tây Ban Nha Valencia
19 TV Gökhan Töre 20 tháng 1, 1992 (22 tuổi) 1 0 Cờ của Đức Hamburger SV
22 TV Sabri Sarıoğlu 26 tháng 7, 1984 (30 tuổi) 39 1 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
Tunay Torun 21 tháng 4, 1990 (24 tuổi) 2 0 Cờ của Đức Hertha BSC
Umut Bulut 15 tháng 4, 1983 (31 tuổi) 3 0 Cờ của Pháp Toulouse
17 Burak Yılmaz 15 tháng 7, 1985 (29 tuổi) 9 1 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Trabzonspor
18 Kâzım Kâzım 26 tháng 8, 1986 (28 tuổi) 31 2 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
21 Cenk Tosun 7 tháng 6, 1991 (23 tuổi) 0 0 Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ Gaziantepspor

Các cựu cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 10 tháng 8 năm 2011, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Thổ Nhĩ Kỳ nhiều lần nhất là:

# Họ tên Năm thi đấu Số trận Số bàn thắng
1 Rüştü Reçber 1994–2009 119 0
2 Hakan Şükür 1992–2008 112 51
3 Bülent Korkmaz 1990–2005 102 2
4 Tugay Kerimoğlu 1990–2007 94 2
5 Alpay Özalan 1995–2005 90 4
6 Tuncay Şanlı 2003– 79 22
7 Emre Belözoğlu 2000– 77 8
8 Ogün Temizkanoglu 1990–2002 76 5
9 Abdullah Ercan 1992–2003 71 0
10 Oğuz Çetin 1988–1998 70 3

Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

# Họ tên Năm thi đấu Số bàn thắng Số trận
1 Hakan Şükür 1992–2008
51
112
2 Hami Mandıralı 1987–1999
32
40
3 Tuncay Şanlı 2003–
22
79
4 Lefter Küçükandonyadis 1948–1961
21
46
5 Metin Oktay 1956–1965
19
36
= Cemil Turan 1969–1979
19
44
= Nihat Kahveci 2000–
19
68
8 Zeki Rıza Sporel 1923–1932
15
16
9 Arda Turan 2006–
11
45
10 Ertuğrul Sağlam 1993–1997
11
26
= Arif Erdem 1994–2003
11
60

Các huấn luyện viên đội tuyển gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]