Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pháp

Huy hiệu

Tên khác Les Bleus
(Đội quân màu xanh lam)
Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Pháp
Liên đoàn châu lục UEFA (châu Âu)
Huấn luyện viên Cờ của Pháp Didier Deschamps
(từ 7.2012)
Trợ lý Cờ của Pháp Guy Stéphan
Đội trưởng Hugo Lloris
Thi đấu nhiều nhất Lilian Thuram (142)
Ghi bàn nhiều nhất Thierry Henry (51)
Sân nhà Stade de France
Mã FIFA FRA
Xếp hạng FIFA 18 (2.2014)
Cao nhất 1 (5.2001-5.2002)
Thấp nhất 27 (9.2010)
Hạng Elo 12 (12.12.2013)
Elo cao nhất 1 ()
Elo thấp nhất 44 ()
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Bỉ 3 - 3 Pháp 
(Brussels, Bỉ; 1.5.1904)
Trận thắng đậm nhất
 Pháp 10 - 0 Azerbaijan 
(Auxerre, Pháp; 6.9.1995)
Trận thua đậm nhất
 Đan Mạch 17 - 1 Pháp 
(Luân Đôn, Anh; 22.10.1908)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 14 (lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhất Vô địch (1998)
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Số lần tham dự 8 (lần đầu vào năm 1960)
Kết quả tốt nhất Vô địch (1984, 2000)
Huy chương Olympic
Bóng đá nam
Vàng Los Angeles 1984 Đồng đội
Bạc Paris 1900 Đồng đội

Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp là đội bóng đá đại diện cho nước Pháp tham dự các giải thi đấu quốc tế và là một trong những đội tuyển hàng đầu thế giới với 1 lần vô địch thế giới vào năm 1998 và 2 lần vô địch châu Âu các năm 19842000. Ngoài ra, đội tuyển Pháp đã 1 lần vô địch Olympic năm 1984 tại Los Angeles và hai FIFA Confederations Cup vào các năm 2001 và 2003. Đội được Liên đoàn bóng đá Pháp (FFF) quản lý.

Pháp là một trong bốn đội châu Âu tham dự kỳ World Cup đầu tiên tổ chức năm 1930 và là một trong 8 đội bóng từng bước lên ngôi vị cao nhất của bóng đá thế giới với chức vô địch năm 1998. Trong phòng truyền thống của đội còn có hai chức Vô địch châu Âu, vào các năm 1984, và 2000. Cùng với chức vô địch Cúp Confederations 2001, đội cùng với tuyển Argentina, giành được cả ba chức vô địch bóng đá nam quan trọng nhất trong hệ thống thi đấu của FIFA: gồm World Cup, Cúp Confederations, và Huy chương vàng Thế vận hội.

Trong hơn một thế kỷ qua, đội tuyển Pháp đã vượt qua những thất thường trong giai đoạn đầu tiên của mình để ổn định và thành công. Họ đã sản sinh ra ba thế hệ vàng lớn vào những năm 1950, 1980 và 1990, kết quả là họ đã thu được rất nhiều danh hiệu lớn. Năm 1958, dưới tầm ảnh hưởng của một vài cầu thủ, đặc biệt là Raymond Kopa, Pháp đã kết thúc ở vị trí thứ ba tại World Cup. Năm 1984, đội tuyển Pháp do Michel Platini làm đội trưởng đã giành chiến thắng tại Euro 1984. Họ lại thực hiện điều này thêm một lần nữa vào năm 2000, lần này dưới dẫn dắt của đội trưởng Didier Deschamps và danh thủ kiệt xuất Zinedine Zidane. Pháp đã trở thành một trong tám đội tuyển quốc gia đã giành chiến thắng trong World Cup vào năm 1998 khi họ làm chủ nhà. Pháp đã đánh bại Brazil 3-0 trong trận chung kết. Năm 2006, họ lại lọt vào trận chung kết World Cup, và bị đánh bại 5-3 trên chấm phạt đền bởi Italy. Pháp đã trở thành đội đứng đầu bảng xếp hạng FIFA lần đầu tiên trong lịch sử của nó vào năm 2001.

Sau thất bại của đội tại World Cup 2010, một cuộc tái thiết chính diễn ra trong liên đoàn, kết quả là Chủ tịch FFF Jean-Pierre Escalettes phải từ chức và Laurent Blanc được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng. Pháp hiện đang xếp hạng 18 trong xếp hạng của FIFA, và trong tháng 9 năm 2010, được xếp hạng 27, thứ hạng thấp nhất của đội bóng trong lịch sử.

Pháp thường chọn sân Stade de France ở ngoại ô Paris làm sân nhà từ năm 1998. Đối thủ truyền kiếp của Pháp là các nước láng giềng Italy, nhưng họ cũng có nhiều cạnh tranh trong quá khứ với Bỉ và Anh vào thời kì đầu và với Đức vào những năm 1980.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời của đội tuyển bóng đá Pháp gắn liền với sự ra đời của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) vào năm 1904. Tính từ thời điểm đó, các trận đấu quốc tế được tổ chức dưới sự điều hành của FIFA. Trước thời điểm năm 1904, một số trận đấu tập hợp các cầu thủ Pháp xuất sắc nhất cũng được tổ chức, đa phần dưới phiên hiệu của Liên hiệp các hiệp hội thể thao Pháp (Union des sociétés françaises de sports athlétiques - USFSA). Năm trận đấu quốc tế giữa tuyển USFSA với các đội tuyển Bỉ và Anh nghiệp dư đã được tổ chức từ năm 1900 cho đến năm 1904, với một chiến thắng 6-2 trước tuyển Bỉ và 4 thất bại trước đội bóng Anh quốc. Đại diện cho Pháp tại Thế vận hội mùa hè 1900, là tuyển USFSA gồm các cầu thủ thuộc câu lạc bộ Club français. Đội giành huy chương bạc.

Đội tuyển bóng đá Pháp thi đấu trận đấu chính thức đầu tiên vào ngày mùng 1 tháng 5 năm 1904 và thủ hòa ba đều với đội tuyển Bỉ[1]. Ba cầu thủ ghi bàn đầu tiên trong lịch sử đội tuyển Pháp là Louis Mesnier, Marius Royet et Gaston Cyprès. Năm 1905, đội thi đấu trận đầu tiên trên sân nhà trước tuyển Thụy Sĩ, và giành chiến thắng đầu tiên. Những năm tiếp sau đó đội có những thành tích ít vẻ vang hơn đặc biệt với hai trận đại bại trước tuyển Đan Mạch cách nhau có 3 ngày (0-9 rồi 1-17) tại Thế vận hội Luân Đôn. Chính thức không được FIFA công nhận từ ngày mùng 7 tháng 6 năm 1908, USFSA vẫn còn được phép tổ chức đội tuyển chuẩn bị cho Thế vận hội mùa hè 1908. Hội cử hai đội Pháp A và B sang London. Luật khi đó cho phép mỗi quốc gia cử hai đội đại diện, nhưng chỉ có Pháp dùng tới quyền này. 44 cầu thủ Pháp tới London trong tình trạng mệt mỏi sau chuyến đi dài bằng tàu hỏa và tàu thủy và tới đúng sáng ngày thi đấu mới tới nơi. Kết quả là hai trận thảm hại (được tính là trận đấu thứ 11 và 12 trong lịch sử đội tuyển Pháp). Kể từ trận gặp Bỉ ngày 9 tháng 5 năm 1908, Ủy ban liên hiệp hội Pháp (Comité français interfédéral - CFI) quản lý đội tuyển và là tổ chức duy nhất được FIFA công nhận. Những năm tiếp theo CFI không thống nhất được với USFSA, tổ chức vốn là một trong những thành viên sáng lập của Ủy ban Olympic Quốc tế (Comité international olympique - CIO), để cử một đội tuyển Pháp đi dự Thế vận hội năm 1912. Pháp đành tuyên bố bỏ cuộc.

Nhưng USFSA cũng buộc phải tái tổ chức những năm sau đó, trở thành một thành viên bán trực thuộc CFI từ năm 1913. Thế chiến thứ nhất bùng nổ làm gián đoạn các hoạt động thi đấu thể thao, trong số các tuyển thủ Pháp ra chiến tuyến, có tổng cộng 17 người hy sinh ngoài mặt trận[2].

Hòa bình lập lại, CFI trở thành Liên đoàn bóng đá Pháp ("Fédération Française de Football") từ năm 1919. USFSA cũng sáp nhập vào liên đoàn kể từ năm 1921. Từ đây chấm dứt tranh cãi liệu đội đại diện cho nước Pháp có phải là Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp hay chỉ là một đội tuyển các cầu thủ thuộc quyền quản lý của liên đoàn này hay liên đoàn kia.

Để chuẩn bị cho Thế vận hội mùa hè 1924 được tổ chức tại Paris. Sau một chuỗi trận toàn thua, đội đã quyết định thuê một huấn luyện viên người Anh, ông Charles Griffiths, về huấn luyện đội.[3] Griffiths ngay lập tức bị chỉ trích kịch liệt vì gọi lên đội tuyển nhiều cầu thủ đang đầu quân cho các câu lạc bộ ở tỉnh[4]. Trong khi việc đó là hoàn toàn có lý, khi cùng năm đó, hai đội bóng bước lên hai ngôi vị cao nhất bóng đá Pháp là hai đội bóng không của thủ đô: Olympique de MarseilleFC Cette.

Bước vào Thế vận hội mùa hè 1924, sau lễ bốc thăm, Pháp không phải đấu vào một mà được vào thẳng vòng 16 đội. Tuyển Pháp tại vòng đấu này hạ Đội tuyển bóng đá quốc gia Latvia với tỉ số 7-0, trước khi thúc thủ trước đội sau đó giành huy chương vàng là Uruguay với tỉ số 1-5.[5].

Bốn năm sau đó, tại Thế vận hội mùa hè 1928, đội cũng không vượt qua vòng đấu đầu tiên khi để thua Ý với tỉ số 3-4.

Thập niên 1930[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Pháp là một trong 13 đội bóng tham dự giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên được tổ chức năm 1930 tại Uruguay (tiền đạo Lucien Laurent là cầu thủ đầu tiên ghi bàn tại một kỳ World Cup trong trận gặp Mexico). Đội không vượt qua vòng bảng: với thành tích thắng Mexico 4-1 nhưng để thua hai trận kế tiếp cùng với tỉ số 0-1 trước ArgentinaChile.

Năm sau đó, đội có hai chiến thắng ấn tượng, đầu tiên là đánh bại tuyển Đức với tỉ số 1-0, sau đó là quật ngã Anh với tỉ số đậm 5-2 vào ngày 14 tháng 5 năm 1931.

Đến World Cup 1934, giải thi đấu theo thể thức loại trực tiếp, theo bốc thăm ở vòng 1, Pháp sẽ gặp tuyển Áo, một trong những ứng cứ viên của giải[6]. Trận đấu diễn ra vào ngày 27 tháng 5 năm 1934, Pháp chỉ chịu thua với tỉ số 2-3 sau hai hiệp phụ. Khi đội về tới Paris, gần 4.000 người đã tụ tập đón đội[7] · [8].

Cầu thủ da màu đầu tiên, Raoul Diagne, lần đầu tiên khoác áo đội vào năm 1931. Cầu thủ gốc Bắc Phi đầu tiên thi đấu cho tuyển Pháp là tiền vệ tổ chức người Maroc Larbi Ben Barek. Raoul Diagne và Larbi Ben Barek thi đấu cùng nhau trong trận đấu nổi tiếng gặp tuyển Ý ngày 4 tháng 12 năm 1938. Đội tuyển Pháp " black, blanc, beur " - " đen, trắng, Ả Rập " ra đời vào ngày hôm đó.

Thế hệ vàng thập niên 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm 1950 chứng kiến ​​Pháp trình làng thế hệ vàng đầu tiên của mình bao gồm các cầu thủ như Just Fontaine, Raymond Kopa, Jean Vincent, Robert Jonquet, Maryan Wisnieski, Thadée Cisowski, và Armand Penverne. Tại World Cup 1958, Pháp vào đến vòng bán kết và thua Brazil. Trong trận đấu tranh hạng ba, Pháp đánh bại Tây Đức 6-2 với 4 bàn thắng của Fontaine, người đã giành danh hiệu vua phá lưới giải đấu với số bàn thắng lên tới con số 13, một kỷ lục của World Cup vẫn đứng vững đến hiện nay. Pháp làm chủ nhà Giải vô địch bóng đá châu Âu năm 1960 và lại đến vòng bán kết. Trong vòng này, Pháp phải đối mặt với Nam Tư và bị thua ngược 5-4 dù đã dẫn trước 4-2 đến phút 75. Trong trận đấu tranh hạng ba, Pháp bị Tiệp Khắc đánh bại 2-0.

Khủng hoảng những năm 1960 - 70[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm 1960 và 70 chứng kiến sự thoái trào đáng kể của bóng đá Pháp khiến họ bị loại khỏi nhiều giải đấu quốc tế. Ngày 25 tháng 4 năm 1964, Henri Guérin đã chính thức trở thành huấn luyện viên. Dưới thời Guérin, Pháp vượt qua vòng loại World Cup 1962 và Euro 1964. Họ lọt vào vòng chung kết World Cup 1966 nhưng phải về nước ngay sau vòng bảng của giải đấu. Guérin bị sa thải sau World Cup này. Ông được thay thế bởi José Arribas và Jean Snella. Thời đại của bộ đôi huấn luyện viên này chỉ kéo dài trong bốn trận đấu và họ được thay thế bởi cựu cầu thủ quốc tế Just Fontaine, người chỉ huấn luyện cho đội hai trận. Louis Dugauguez kế tục và đã đưa Pháp lọt vào vòng chung kết World Cup 1970. Sau khi Dugauguez bị sa thải, Georges Boulogne lên nắm quyền và cũng bị sa thải sau thất bại tại vòng loại World Cup 1974 và được thay thế bằng huấn luyện viên người Rumani Stefan Kovacs, người nước ngoài đầu tiên và duy nhất huấn luyện đội tuyển quốc gia thời điểm đó. Kovács cũng gây thất vọng khi không thể đưa Pháp đến World Cup 1974 và Euro 1976. Sau hai năm huấn luyện, ông bị sa thải và được thay thế bằng Michel Hidalgo.

Thế hệ vàng thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới thời Hidalgo, Pháp phát triển mạnh mẽ, chủ yếu là do sự tỏa sáng của tiền vệ Michel Platini, người cùng với Jean Tigana, Alain Giresse, và Luis Fernández hình thành nên "Hình vuông ma thuật", làm ám ảnh nhiều hàng phòng thủ đối phương, bắt đầu từ World Cup 1982, nơi mà Pháp lọt đến vòng bán kết và chỉ thua cay đắng trên chấm phạt đền trước đối thủ Tây Đức. Trận bán kết giữa Pháp và Đức năm 1982 được coi là một trong những trận đấu lớn nhất trong lịch sử World Cup. Pháp lần đầu có được danh hiệu quốc tế hai năm sau đó, sau chiến thắng tại Euro 1984, khi họ tổ chức.. Dưới sự dẫn dắt của Platini, người đã ghi chín bàn thắng trong giải đấu, Pháp đánh bại Tây Ban Nha 2-0 trong trận chung kết với hai bàn thắng của Platini và Bruno Bellone. Sau chiến thắng Euro, Hidalgo rời đội và được thay thế bởi cựu tuyển thủ quốc tế Henri Michel. Pháp sau này hoàn thành hat-trick khi họ giành huy chương vàng tại Thế vận hội, một năm sau đó, đánh bại Uruguay 2-0 để giành Cúp Artemio Franchi, tiền thân của FIFA Confederations Cup. Trong thời gian một năm, Pháp đã sở hữu ba trong số bốn danh hiệu quốc tế lớn. Tại World Cup 1986, Pháp là một ứng cử viên rất nặng kí và một lần nữa, trong World Cup thứ hai liên tiếp, lại lọt đến vòng bán kết, nơi họ phải đối mặt với Tây Đức. Một lần nữa, họ lại để thua. Chiến thắng 4-2 trước Bỉ đã giúp Pháp có được vị trí thứ ba.

Thế hệ vàng thập niên 1990 - 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1988, Liên đoàn bóng đá Pháp mở Học viện bóng đá quốc gia Clairefontaine. Năm tháng sau khi Clairefontaine mở của, huấn luyện viên Henri Michel bị sa thải sau khi không đưa được đội đến FIFA World Cup 1990. Người thay thế là huyền thoại Platini đã đưa Pháp đến Euro 1992 sau khi toàn thắng ở vòng loại. Mặc dù đã có chuỗi 19 trận bất bại trước đó, Pháp bị loại bỏ ở vòng bảng sau khi thúc thủ trước Đan Mạch 1-2 trong trận đấu cuối cùng. Một tuần sau khi kết thúc giải đấu, Platini từ chức và được thay thế bằng người trợ lý Gérard Houllier của mình. Dưới thời Houllier, đội Pháp và những cổ động viên của họ đã trải qua một thảm kịch đau lòng sau khi họ gần như đã đủ điểm cho World Cup 1994, và chỉ cần giành 1 điểm trong 2 trận đấu trên sân nhà trước Israel và Bulgaria là hoàn thành mục tiêu. Tuy nhiên, trong trận đấu với Israel, Pháp đã thua 2-3, trong trận Bulgaria, bị thua ngược 1-2. Houllier đã phải ra đi. Aimé Jacquet trợ lý của ông đã được bổ nhiệm với sứ mệnh dẫn dắt đội bóng tại World Cup 1998, nơi Pháp làm chủ nhà.

Để thay đổi một đội tuyển Pháp rệu rã, Jacquet thẳng tay loại bỏ nhiều cựu binh để nhường chỗ cho các tuyển thủ trẻ, tiêu biểu là Zidane. Đội đã lọt tới trận bán kết của UEFA Euro 1996, nơi họ bị thua 6-5 trên chấm phạt đền trước Cộng hòa Séc. Trong giải đấu lớn tiếp theo tại World Cup 1998, Jacquet đã dẫn dắt Pháp đến vinh quang khi đánh bại Brazil 3-0 trong trận chung kết tại Stade de France. Jacquet rút lui sau chiến thắng tại World Cup và đã được kế tục thành công bởi trợ lý Roger Lemerre, người đã đưa Pháp giành được chức vô địch châu Âu tại Euro 2000. Được dẫn dắt danh thủ Zidane, Pháp đánh bại Italia 2-1 trong trận chung kết với bàn thắng vàng của Trezeguet trong hiệp phụ. Đây là lần đầu tiên có một đội tuyển quốc gia có được cả hai chức vô địch World Cup và Euro cùng lúc kể từ khi Tây Đức làm như vậy vào năm 1974, và đây cũng là lần đầu tiên một đội đương kim vô địch thế giới giành được chức vô địch châu Âu. Pháp đã nhảy vào vị trí số một trong xếp hạng của FIFA.

Sau khi giành được Confederation Cup vào năm 2001, Pháp đã thâu tóm đầy đủ 3 danh hiệu quan trọng nhất của bóng đá thế giới. Thế hệ vàng của Pháp, ngoài sự xuất sắc của Zidane còn phải kể đến các danh thủ như Thierry Henry, Trezeguet, Vieira, Deschamps, Petit, Thuram, Lizarazu, Blanc, Djorkaeff, Pires, Barthez và một số tuyển thủ khác như: Wiltord, Leboeuf, Makelele... Mặc dù hầu hết các cầu thủ trong đội tuyển Pháp lúc đó đều là các siêu sao hàng đầu thế giới ở vị trí của mình nhưng nhiều người chỉ trích rằng Pháp quá phụ thuộc vào tài năng tổ chức trận đấu của Zidane và khi vắng cầu thủ này, những ngôi sao khác trong đội tuyển Pháp không thể chơi kết dính và bùng nổ nữa. Minh chứng rõ nét cho điều này là tại World Cup 2002 khi Zidane bất ngờ dính chấn thương trong trận đấu tập với Hàn Quốc trước khi giải đấu khai mạc. Pháp nhanh chóng thể hiện lối chơi rời rạc khi thiếu vắng nhạc trưởng của mình và bị loại cay đắng. Họ trở thành đội đương kim vô địch có thành tích kém cỏi nhất trong các kì World Cup. Lemerre bị sa thải và Santini lên nắm đội.

Sau khi giành thêm Confederation Cup vào năm 2003, Pháp lại nổi lên như là ứng cử viên hàng đầu cho chức vô địch tại Euro 2004. Tuy nhiên, một lần nữa, sự dựa dẫn quá nhiều vào Zidane khiến Pháp phải trả giá. Sau khi cứu cho Pháp khỏi thất bại trước Anh trong trận đấu đầu tiên bằng hai bàn thắng ghi liền trong 3 phút cuối trận, Zidane chẳng thể làm gì khi bị vô hiệu hóa trước lối chơi kỉ luật của các cầu thủ Hi Lạp tại vòng tứ kết. Pháp thua 0-1 và trở thành cựu vương của châu Âu. Sau giải đấu, Zidane tuyên bố từ giã đội tuyển.

Santini từ chức huấn luyện viên và Raymond Domenech đã được chọn để thay thế ông. Pháp chật vật ở nửa đầu vòng loại World Cup 2006. Điều này khiến Domenech đã phải thuyết phục một số một số lão tướng trở lại đội tuyển để giúp đội vượt qua vòng loại. Nghe theo lời thuyết phục này, ba cựu binh sáng giá là Zidane, Thuram và Makelele trở lại đội tuyển và giúp Pháp cán đích tại vòng loại World Cup 2006. Trong World Cup 2006, Pháp đã bất khả chiến bại ở vòng bảng tiến thẳng đến trận đấu cuối cùng sau khi đánh bại Tây Ban Nha, Brazil, và Bồ Đào Nha. Pháp đã gặp lại Italy trong trận chung kết và thua 5-3 trên chấm phạt đền.

Khủng hoảng thế hệ thời kì "hậu Zidane"[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chung kết World Cup 2006 là trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp của Zidane. Sau một thập niên tạo ảnh hưởng lớn lên lối chơi của đội tuyển Pháp, việc Zidane giã từ sự nghiệp đã tạo ra một sự hẫng hụt đối với đội "Áo Lam". Dù Domenech cố gắng xây dựng một đội bóng không lệ thuộc vào một cá nhân nào nhưng đây tỏ ra là một công việc quá sức. Domenech vẫn phải tin dùng vào các cựu binh như Thuram hay Makelele để ổn định lối chơi của đội và không tin dùng nhiều cầu thủ trẻ tài năng. Mặc dù Pháp đã lọt được cả vào vòng chung kết của Euro 2008 và World Cup 2010 nhưng đó đều là những chiến dịch rất khó nhọc, đặc biệt là vòng loại World Cup 2010 khi Pháp phải nhờ đến "bàn tay bẩn" của Henry trong hiệp phụ trận đấu tranh vé vớt với Ailen để được góp mặt tại World Cup. Trong cả hai giải đấu lớn trên, Pháp đều thi đấu tệ hại, thiếu gắn kết và đều bị loại ngay từ vòng bảng.

Đặc biệt, tại World Cup 2010, những mâu thuẫn nội bộ trong đội tuyển đã lên đến đỉnh điểm khi toàn bộ đội bóng đã bỏ một buổi tập và công khai một bức thư ngỏ để phản đối quyết định của huấn luyện viên Domenech đuổi tiền đạo Anelka về nước sau trận đấu gặp Mexico do tiền đạo này đã chửi ông Domenech. Vụ việc này đã khiến cho toàn bộ đội hình của đội tuyển Pháp dự World Cup đều bị treo giò ít nhất một trận sau đó. Triều đại của Domenech kết thúc.

Nỗ lực tái thiết của Blanc[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù việc bổ nhiệm Laurent Blanc vào vị trí huấn luyện viên trưởng chỉ diễn ra sau World Cup nhưng trên thực tế, ngay từ trước khi World Cup diễn ra, nhiều tờ tạp chí của Pháp đã tiết lộ thông tin này.

Trong trận đấu đầu tiên dưới triều đại của Blanc (gặp Nauy trong một trận giao hữu), toàn bộ 23 cầu thủ dự World Cup của Pháp đều bị treo giò. Blanc buộc phải xây dựng một bộ khung đội tuyển với nhiều gương mặt trẻ và mới thay thế một đội tuyển rệu rã. Pháp khởi đầu kỉ nguyên Blanc bằng thất bại 1-2 trước Nauy.

Trong trận đấu chính thức đầu tiên tại vòng loại Euro 2012, vẫn còn 5 tuyển thủ của Pháp bị treo giò gồm Anelka, Ribery, Evra, Abidal, Toulalan, Pháp thúc thủ trên sân nhà trước đội bóng trung bình Belarus 0-1.

Tuy nhiên, khi bị dồn vào thế chân tường, các cầu thủ Pháp đã thể hiện tinh thần thi đấu cao bằng chiến thắng 2-0 ngay trên sân của Bosnia. Kể từ đó, Pháp đã có chuỗi 4 trận thắng liên tiếp tại vòng loại, để vươn lên dẫn đầu bảng D. Pháp cũng giành chiến thắng 2-1 trên sân Wembley trước Anh và 1-0 trên sân nhà trước Brazil. Nỗ lực tái thiết của Blanc dù gặp nhiều khó khăn lúc đầu nhưng đã có những bước tiến vững chắc. Pháp kết thúc vòng loại với vị trí nhất bảng D và giành tấm vé vào dự vòng chung kết Euro 2012.

Tại Euro 2012, đội tuyển Pháp thi đấu khá xuất sắc khi cầm hòa Anh với tỉ số 1-1 với bàn thắng gỡ hòa của Samir Nasri, thắng Ukraina với tỉ số 2-0 bằng hai bàn thắng của Jérémy MenezYohan Cabaye, nhưng chỉ chịu thua Thụy Điển với tỉ số 0-2 ở lượt cuối bảng D, và sau đó thua Tây Ban Nha với tỉ số 0-2 ở tứ kết. Sau Euro 2012, huấn luyện viên Laurent Blanc đã từ chức.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch: 1998
Á quân: 2006
Vô địch: 1984; 2000
Vô địch: 2001; 2003

Thành tích quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H [9] B Bt Bb
Cờ của Uruguay 1930 Vòng 1 3 1 0 2 4 3
Cờ của Ý 1934 Vòng 1 1 0 0 1 2 3
Cờ của Pháp 1938 Tứ kết 2 1 0 1 4 4
Cờ của Brasil 1950 Không vượt qua vòng loại
Cờ của Thụy Sĩ 1954 Vòng 1 2 1 0 1 3 3
Cờ của Thụy Điển 1958 Hạng ba 6 4 0 2 23 15
Cờ của Chile 1962 Không vượt qua vòng loại
Cờ của Anh 1966 Vòng 1 3 0 1 2 2 5
Cờ của México 1970 Không vượt qua vòng loại
Cờ của Tây Đức 1974
Cờ của Argentina 1978 Vòng 1 3 1 0 2 5 5
Cờ của Tây Ban Nha 1982 Hạng tư 7 3 2 2 16 12
Cờ của México 1986 Hạng ba 7 4 2 1 12 6
Cờ của Ý 1990
Không vượt qua vòng loại
Cờ của Hoa Kỳ 1994
Cờ của Pháp 1998 Vô địch 7 6 1 0 15 2
Cờ của Hàn Quốc Cờ của Nhật Bản 2002 Vòng 1 3 0 1 2 0 3
Cờ của Đức 2006 Á quân 7 4 3 0 9 3
Cờ của Cộng hòa Nam Phi 2010 Vòng 1 3 0 1 2 1 4
Tổng cộng 13/19
1 lần: Vô địch
54 25 11 18 96 68

FIFA Confederations Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H [9] B Bt Bb
Cờ của Ả Rập Saudi 1992 Không giành quyền tham dự
Cờ của Ả Rập Saudi 1995
Cờ của Ả Rập Saudi 1997
Cờ của México 1999 Bỏ cuộc
Cờ của Hàn Quốc Cờ của Nhật Bản 2001 Vô địch 5 4 0 1 12 2
Cờ của Pháp 2003 Vô địch 5 5 0 0 12 3
Cờ của Đức 2005 Không giành quyền tham dự
Cờ của Cộng hòa Nam Phi 2009
Tổng cộng 2/8
2 lần: Vô địch
10 9 0 1 24 5

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H [9] B Bt Bb
Cờ của Pháp 1960 Hạng tư 2 0 0 2 4 7
Cờ của Tây Ban Nha 1964 Không vượt qua vòng loại
Cờ của Ý 1968
Cờ của Bỉ 1972
Cờ của Nam Tư 1976
Cờ của Ý 1980
Cờ của Pháp 1984 Vô địch 5 5 0 0 14 4
Cờ của Tây Đức 1988 Không vượt qua vòng loại
Cờ của Thụy Điển 1992 Vòng 1 3 0 2 1 2 3
Cờ của Anh 1996 Bán kết 5 2 3 0 5 2
Cờ của Bỉ Flag of the Netherlands 2000 Vô địch 6 5 0 1 13 7
Cờ của Bồ Đào Nha 2004 Tứ kết 4 2 1 1 7 5
Cờ của Thụy Sĩ Cờ của Áo 2008 Vòng 1 3 0 1 2 1 6
Cờ của Ba Lan Cờ của Ukraina 2012 Tứ kết 4 1 1 2 3 5
Cờ của Pháp 2016 Chủ nhà
Tổng cộng 9/15
2 lần: Vô địch
32 15 8 9 49 39

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo[sửa | sửa mã nguồn]

 
Ghi nhiều bàn thắng nhất[10]
DT Bong da Phap.png
Cầu thủ
Số bàn
Thierry Henry (1997-2010) 51[11]
Michel Platini (1976-1987) 41
David Trezeguet (1998-2008) 34
Zinedine Zidane (1994-2006) 31
Just Fontaine (1953-1960) 30
Jean-Pierre Papin (1986-1995) 30
Youri Djorkaeff (1993-2002) 28
Sylvain Wiltord (1999-2006) 26
Jean Vincent (1953-1961) 22
Jean Nicolas (1933-1938) 22
 
Khoác áo nhiều nhất[10]
DT Bong da Phap.png
Cầu thủ
Số trận
Lilian Thuram (1994-2008) 142
Thierry Henry (1997-2010) 123
Marcel Desailly (1993-2004) 116'
Zinedine Zidane (1994-2006) 108
Patrick Vieira (1997-nay) 107
Didier Deschamps (1989-2000) 103
Laurent Blanc (1989-2000) 97
Bixente Lizarazu (1992-2004) 97
Sylvain Wiltord (1999-2006) 92
Fabien Barthez (1994-2006) 87

   Cầu thủ còn đang thi đấu cho đội tuyển

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

TT Huấn luyện viên Thời gian huấn luyện Số trận Thắng Hòa Thua Danh hiệu
1 Hội đồng của FFF trước 1955
2 Albert Batteux 1955-1962
3 Henri Guérin 1962-1966
4 José ArribasJean Snella 1966
5 Just Fontaine 1967
6 Louis Dugauguez 1967-1968
7 Georges Boulogne 1969-1973
8 Stefan Kovacs 1973-1975
9 Michel Hidalgo 1976-1984 Vô địch Euro 1984
10 Henri Michel 1984-1988
11 Michel Platini 1988-1992
12 Gérard Houllier 1992-1993
13 Aimé Jacquet 1993-1998 Vô địch World Cup 1998
14 Roger Lemerre 1998-2002 Vô địch Euro 2000
Vô địch Confederations Cup 2001
15 Jacques Santini 2002-2004 Vô địch Confederations Cup 2003
16 Raymond Domenech 2004-2010 Hạng nhì World Cup 2006
17 Laurent Blanc 2010-2012
18 Didier Deschamps 2012-
Tổng cộng

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các cầu thủ được triệu tập cho các trận đấu tại vòng loại Euro 2012 với AlbaniaRomania ngày 2 và 6 tháng 9 năm 2011.[12]

Số lần ra sân và bàn thắng tính đến ngày 10 tháng 8, 2011.

Số Vị trí Cầu thủ Ngày sinh Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
TM Cédric Carrasso 30 tháng 12, 1981 (32 tuổi) 1 0 Cờ của Pháp Bordeaux
TM Hugo Lloris 26 tháng 12, 1986 (27 tuổi) 24 0 Cờ của Anh Tottenham Hotspur
TM Steve Mandanda 28 tháng 3, 1985 (29 tuổi) 14 0 Cờ của Pháp Marseille
HV Éric Abidal 11 tháng 9, 1979 (34 tuổi) 56 0 Cờ của Tây Ban Nha Barcelona
HV Patrice Evra 15 tháng 5, 1981 (32 tuổi) 35 0 Cờ của Anh Manchester United
HV Younes Kaboul 4 tháng 1, 1986 (28 tuổi) 3 1 Cờ của Anh Tottenham Hotspur
HV Laurent Koscielny 10 tháng 9, 1985 (28 tuổi) 0 0 Cờ của Anh Arsenal
HV Adil Rami 27 tháng 12, 1985 (28 tuổi) 11 0 Cờ của Tây Ban Nha Valencia
HV Anthony Réveillère 10 tháng 11, 1979 (34 tuổi) 12 0 Cờ của Pháp Lyon
HV Bacary Sagna 14 tháng 2, 1983 (31 tuổi) 31 0 Cờ của Anh Arsenal
TV Yohan Cabaye 14 tháng 1, 1986 (28 tuổi) 5 0 Cờ của Anh Newcastle United
TV Alou Diarra 15 tháng 7, 1981 (32 tuổi) 34 0 Cờ của Pháp Marseille
TV Yann M'Vila 29 tháng 6, 1990 (23 tuổi) 11 0 Cờ của Pháp Rennes
TV Florent Malouda 13 tháng 6, 1980 (33 tuổi) 69 6 Cờ của Anh Chelsea
TV Marvin Martin 10 tháng 1, 1988 (26 tuổi) 3 2 Cờ của Pháp Sochaux
TV Blaise Matuidi 9 tháng 4, 1987 (27 tuổi) 4 0 Cờ của Pháp Paris Saint-Germain
TV Samir Nasri 27 tháng 6, 1987 (26 tuổi) 23 2 Cờ của Anh Manchester City
TV Franck Ribéry 7 tháng 4, 1983 (31 tuổi) 52 7 Cờ của Đức Bayern Munich
TV Mathieu Valbuena 28 tháng 9, 1984 (29 tuổi) 8 2 Cờ của Pháp Marseille
Karim Benzema 19 tháng 12, 1987 (26 tuổi) 38 12 Cờ của Tây Ban Nha Real Madrid
Kévin Gameiro 9 tháng 5, 1987 (26 tuổi) 6 1 Cờ của Pháp Paris Saint-Germain
Guillaume Hoarau 5 tháng 3, 1984 (30 tuổi) 5 0 Cờ của Pháp Paris Saint-Germain
Jérémy Menez 7 tháng 5, 1987 (26 tuổi) 6 0 Cờ của Pháp Paris Saint-Germain
Loïc Rémy 2 tháng 1, 1987 (27 tuổi) 12 2 Cờ của Pháp Marseille

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 1 tháng 7, 2010.[13]
Laurent Blanc, huấn luyện viên trưởng đội tuyển Pháp từ 2010-2012
Vị trí Tên Quốc tịch
Huấn luyện viên trưởng Laurent Blanc Cờ của Pháp Pháp
Trợ lí huấn luyện viên Jean-Louis Gasset Cờ của Pháp Pháp
Trợ lí huấn luyện viên Alain Boghossian Cờ của Pháp Pháp
Huấn luyện viên thủ môn Franck Raviot Cờ của Pháp Pháp
Huấn luyện viên thể lực Philippe Lambert Cờ của Pháp Pháp
Bác sĩ Fabrice Bryand Cờ của Pháp Pháp
Giám đốc quản lý Marino Faccioli Cờ của Pháp Pháp

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Serge Laget, " Le match par lequel tout commença " trong France Football, n°2907, 25 tháng 12 năm 2001, trang 10.
  2. ^ http://www.iffhs.de/?ff4b05ffcd85bcca952bda55205fdcdc3bfcdc0aec7cdeeda003
  3. ^ Thierry Terret, Les paris des Jeux olympiques de 1924, Atlantica, 2008, trang 448.
  4. ^ Thierry Terret, Les paris des Jeux olympiques de 1924, op.cit., trang 449.
  5. ^ Thierry Terret, Les paris des Jeux olympiques de 1924, op.cit., trang 453.
  6. ^ Jean-Jacques Vierne, " L'heure des professionnels a enfin sonné " trong France Football, n°2907, 25 tháng 12 - 2001, trang 18.
  7. ^ " Autriche-France: 3-2 a.p. " in France Football, n°2907, 25 tháng 12 - 2001, trang 23.
  8. ^ Coll., La grande histoire de la Coupe du monde, Éditions L'Équipe, 2009, trang 13.
  9. ^ a ă â Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
  10. ^ a ă Tính đến 02 tháng 06 năm 2009
  11. ^ Với 2 bàn trong trận đấu gặp Litva ở vòng loại Euro 2008 ngày 17 tháng 10 năm 2007, Henry trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho đội tuyển Pháp, vượt qua kỉ lục của Platini tồn tại trong 20 năm
  12. ^ “Albanie-France et Roumanie-France du dimanche 28 août 2011 au mardi 06 septembre 2011”. Liên đoàn bóng đá Pháp (bằng Tiếng Pháp). 25 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011. 
  13. ^ “Le staff des Bleus”. Liên đoàn bóng đá Pháp (bằng Tiếng Pháp). 5 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jean-Michel Cazal, Pierre Cazal, Michel Oreggia: L’intégrale de l’équipe de France de football, 1904-1998, Paris, First éd., 1998. (ISBN 2-87691-437-9)
  • Denis Chaumier, Les Bleus: tous les joueurs de l’équipe de France de 1904 à nos jours, Paris, Larousse, 2004. (ISBN 2-03-505420-6)
  • Gérard Ernault, Les Bleus en Argentine, Paris, Calmann-Lévy, 1978. (ISBN 2-7021-0248-4)
  • Gilles Gauthey, L’équipe de France, Paris, 1962
  • Dominique Grimault, Les Bleus: le livre officiel de l’équipe de France, Paris, Solar, 1998. (ISBN 2-263-02819-6)
  • Fabrice Jouhaud, Le livre d’or du football, 2005, Paris, Solar, 2005. (ISBN 2-263-03855-8)
  • Éric Maitrot et Karim Nedjari, L’histoire secrète des Bleus: de la gloire à la désillusion, 1993-2002, Paris, Flammarion, 2002. (ISBN 2-08-068337-3)
  • Marianne Mako, Ces hommes en bleu: 30 vies en confidence, Paris, France loisirs, 1999. (ISBN 2-7441-2429-X)
  • Alain Mercier et Cyril Pocréaux, L’aventure des bleus: les 50 plus belles histoires de l’équipe de France de football, Boulogne, Timée-éd., 2004. (ISBN 2-915586-01-2)
  • Stéphane Meunier et Philippe Tournon, Les yeux dans les Bleus. 2, Dans les coulisses des Bleus 2002, Paris, Canal + éd., 2002. (ISBN 2-226-13289-9)
  • Stéphane Meunier, Les yeux dans les Bleus, Paris, le Grand livre du mois, 1998. (ISBN 2-226-10646-4)
  • Gérard Rancinan et Grégoire Soussan, Ils ont fait les Bleus: Trezeguet, Henry, Djorkaeff, Dugarry, Zidane, Vieira, Petit, Thuram, Lebœuf, Desailly, Lizarazu, Candela, Barthez, Boulogne, Horizon illimité, 2002. (ISBN 2-84787-025-3)
  • Jean-Philippe Réthacker, L’équipe de France de football, Paris, O.D.I.L., 1976
  • Jean-Philippe Réthacker, Génération champions: équipe de France de football, Évreux ; Lausanne, Éd. Atlas, 2000-2002, 6 volumes.
  • Thierry Roland, Champions d’Europe, Paris, Hachette, 1984. (ISBN 2-85108-368-6)
  • Jacques Thibert, Les Coqs du football, Paris, Calmann-Lévy, 1972.
  • Stéphane Verger, Poèmes Bleus (hommage à nos champions du monde 1998), Paris, Le Manuscrit, 2005. (ISBN 2-7481-6170-X)
  • Stéphane Verger, Nos Bleus en 3 tomes (Les 810 joueurs de l’équipe de France), Paris, Le Manuscrit, 2006.
  • Marcel Desailly, Capitaine, Paris, Stock, 2002. (ISBN 2-234-05478-8)
  • Aimé Jacquet, Ma vie pour une étoile, Paris, Robert Laffont/Plon, 1999. (ISBN 2-7441-2904-6)
  • Lilian Thuram et James Burnet, 8 juillet 1998, Paris, A. Carrière, 2004. (ISBN 2-84337-241-0)
  • Christian Vella, Roger Lemerre: les Bleus au cœur, Paris, Kiron-le Félin, 2002. (ISBN 2-86645-449-9)
  • Pierre-Louis Basse, Séville 82 France-Allemagne: le match du siècle, Paris, éd. Privé, 2005. (ISBN 978-2-7103-3072-1)
  • Rodolphe Baudeau, Vianney Delourme, Cyril Toulet, Le bêtisier des bleus, 1904-2004, Paris, Hors Collection, 2004. (ISBN 2-258-06498-8)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]