Zinédine Zidane

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Zinedine Zidane
Zinedine Zidane 2008.jpg
Zidane năm 2008
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Zinedine Yazid Zidane[1][2]
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại Real Madrid (trợ lý huấn luyện viên
và giám đốc thể thao)
CLB trẻ
1982–1983 US Saint-Henri
1983–1986 SO Septèmes-les-Vallons
1986–1989 Cannes
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1989–1992 Cannes 61 (6)
1992–1996 Bordeaux 139 (28)
1996–2001 Juventus 151 (24)
2001–2006 Real Madrid 155 (37)
Tổng 506 (95)
Đội tuyển quốc gia
1988–1989 U-17 Pháp 4 (1)
1989–1990 U-18 Pháp 6 (0)
1990–1994 U-21 Pháp 20 (3)
1994–2006 Pháp 108 (31)
Đội quản lý
2013– Real Madrid (trợ lý)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Zinédine Yazid Zidane (còn có biệt hiệu là Zizou; sinh ngày 23 tháng 6 năm 1972 tại Marseille, Pháp), là một cựu danh thủ bóng đá người Pháp, từng đưa đội tuyển Pháp lên ngôi vô địch thế giới lần đầu tiên năm 1998 và ngôi vô địch châu Âu năm 2000. Ở cấp độ CLB, anh tỏa sáng trong màu áo của Juventus và Real Madrid, giúp 2 câu lạc bộ này giành nhiều danh hiệu ở châu Âu cũng như quốc gia. Với phong cách hào hoa, nhãn quan chiến thuật và kỹ thuật cá nhân điêu luyện, anh được đông đảo các cổ động viên và chuyên gia bóng đá coi như một trong những cầu thủ xuất sắc nhất của mọi thời đại[3][4]. Cùng với Ronaldo, Zidane là cầu thủ lập kỉ lục về số lần được bình chọn làm "Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới" của FIFA với 3 lần vào các năm 1998, 2000 và 2003. Anh cũng là chủ nhân của danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 1998. Năm 2001, Zidane chuyển đến Real Madrid với mức phí chuyển nhượng lập kỉ lục thế giới lên đến 76 triệu euro.

Vào tháng 7 năm 2006, Zidane chính thức giã từ sự nghiệp cầu thủ với danh hiệu "Quả bóng vàng" của Giải vô địch bóng đá thế giới 2006, sau khi cùng đội tuyển Pháp đoạt danh hiệu Á quân. Anh là một trong 4 cầu thủ ghi bàn trong 2 trận chung kết World Cup, cũng là một trong số 4 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong các trận chung kết World Cup với 3 bàn thắng. Ngoài ra Zidane còn để lại hình ảnh rất ấn tượng sau khi nhận thẻ đỏ trong trận chung kết vì húc đầu vào hậu vệ Marco Materazzi của đội tuyển Ý.

Zidane là cầu thủ duy nhất giành được toàn bộ các danh hiệu cao quý nhất danh cho tập thể (gồm World Cup, Euro, Champions League, giải Vô địch quốc gia) lẫn cá nhân (Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới, Quả bóng vàng châu Âu, Quả bóng vàng World Cup, Cầu thủ xuất sắc nhất Euro, Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu cấp câu lạc bộ, Cầu thủ xuất sắc nhất quốc gia (tại cả Pháp, Italia và Tây Ban Nha)).

Anh được lựa chọn trong danh sách 100 huyền thoại sống vĩ đại nhất của bóng đá thế giới (FIFA 100) vào năm 2004. Cũng trong năm này, anh được người hâm mộ ở châu Âu bầu chọn là "Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu" trong vòng 50 năm qua thông qua một cuộc bỏ phiếu trên Internet. Năm 2011, khi trang web chính thức của UEFA là Uefa.com tổ chức bầu chọn để trao giải cầu thủ xuất sắc nhất UEFA Champions League trong 20 năm trở lại đây, Zidane đã giành được giải này. Anh nhận được nhiều phiếu bầu nhất từ các nhà báo, các cầu thủ và người hâm mộ, xếp trên Lionel Messi.

Sau khi giã từ sân cỏ, Zidane trở lại câu lạc bộ Real Madrid để làm việc với vai trò là cố vấn cho chủ tịch câu lạc bộ. Anh từng là Giám đốc thể thao của câu lạc bộ này. Năm 2013, Zidane là trợ lí huấn luyện viên của Real Madrid vào góp phần đưa Real Madrid đến chức vô địch Champions League lần thứ 10 trong lịch sử. Năm 2014, Zidane được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của đội trẻ Real Madrid.

Khởi đầu sự nghiệp tại Cannes[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà của Zidane tại Aguemone (Algérie)

Zidane được sinh ra ở thành phố cảng Marseille của Pháp và là con trai trong một gia đình nhập cư gốc Algérie. Cha và mẹ của anh, Smail và Malika, đã di cư từ làng Aguemone thuộc vùng Kabylie của Algérie năm 1953 đến định cư ở Paris, trước khi chuyển đến Marseille một vài năm sau[5].

Huấn luyện viên Jean Varraud của đội bóng thành phố Cannes ngay lập tức bị cuốn hút khi thấy cậu bé 14 tuổi chơi bóng. Ông mời Zidane về AS Cannes. Sau 6 tuần thử việc, Zidane được kí hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên trong cuộc đời[6].

Điều đáng tiếc là Zidane không được thi đấu cho đội bóng quê hương, đồng thời cũng là đội bóng anh ưa thích nhất: Marseille. Kể cả sau khi thành danh rồi, anh vẫn khao khát được một lần được mặc chiếc áo trắng của Marseille[7].

Zidane luôn là thần tượng tại Pháp

Zidane ra mắt ở giải hạng Nhất Pháp vào ngày 20 tháng 5 năm 1989 khi AS Cannes tiếp FC Nantes của Didier DeschampsMarcel Desailly trên sân khách. Lúc đó, Zidane chưa đầy 17 tuổi. Đến ngày 8 tháng 2 năm 1991, anh ghi được bàn thắng đầu tiên và đội bóng "chịu hậu quả" cũng chính là Nantes. Phần thưởng cho bàn thắng đầu tiên là một chiếc ô tô do đích thân chủ tịch đã hứa tặng. Mùa bóng năm đó không thể thành công hơn với đội bóng thành phố biển. Họ được lên chơi ở cúp UEFA.

Tuy nhiên ngay năm sau, Cannes sớm bị loại khỏi cúp UEFA và bị xuống hạng.

Bước đệm ở Bordeaux[sửa | sửa mã nguồn]

Zidane chuyển đến FC Girondins de Bordeaux vào mùa hè năm 1992 khi vừa tròn 20 tuổi. Anh đã ghi 10 bàn thắng trong mùa bóng đầu tiên và 6 bàn trong 3 mỗi mùa bóng kế tiếp và trở thành linh hồn của đội bóng.

Ở đây, với sự kết hợp của bộ tam hoàn hảo gồm Zidane, Bixente LizarazuChristophe Dugarry ở ba tuyến, Bordeaux đã đoạt được cup Intertoto để bước vào đấu trường châu Âu bằng "cửa hậu".

Tại giải đấu này, Bordeaux đã gây bất ngờ lớn khi hạ gục A.C. Milan 3-0 sau khi thúc thủ 0-2 ở trận lượt đi nhờ sự toả sáng của Zidane và Dugarry.

Trong trận tứ kết với Real Betis, Zidane sút tung lưới đội bóng TBN này bằng một cú nã đại bác kinh điển từ khoảng cách 40 m. Ở trận bán kết với Slavia Praha, anh trình diện làng bóng đá thế giới cú lừa bóng điệu nghệ theo kiểu xoay người 180 độ (roulettes) và nhiều cầu thủ sau đó đã bắt chước.

Ở trận chung kết lượt đi với Bayern München, Zidane bị treo giò. Đội bóng rượu vang không Zidane đã để thua 0-2 và sau đó để mất chiếc cup UEFA năm 1996 vào tay đối thủ.

Ngay năm 1995, đội ĐKVĐ Premiership Blackburn đã có ý định kí hợp đồng với Zidane. Chính Huấn luyện viên Kenny Dalglish công khai bày tỏ mong muốn có được Zidane và Dugarry trong đội hình. Tuy nhiên, khi đề nghị mua cầu thủ được đệ trình đến ông chủ của Blackburn là Jack Walker thì ông này đã tuyên bố: "Việc gì phải kí hợp đồng với Zidane khi đội ta đã có… Tim Sherwood?"[8]

Toả sáng tại Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Nhưng các câu lạc bộ của bóng đá châu Âu hiểu rõ giá trị của Zidane. Năm 1996, Zidane chuyển đến Ý cho đội bóng Đương kim vô địch UEFA Champions League Juventus FC với phí chuyển nhượng là 3 triệu bảng Anh. Anh đã cùng đội bóng giành Scudetto mùa 1996-97 và cúp Liên lục địa, nhưng lại thất bại trong trận CK C1 năm với tỉ số 1-3 trước Borussia Dortmund. Anh đã ghi được 7 bàn trong 32 trận để giúp Juventus giữ lại Scudetto mùa tiếp theo nhưng cũng lần thứ hai liên tiếp thúc thủ trong trận CK C1, lần này là trước Real Madrid.

Juventus thi đấu không thành công ở cúp C1 năm 2000 - 2001, còn Zidane thì phải lĩnh chiếc thẻ đỏ khi húc đầu vào Jochen Kientz của Hamburger SV. Chiếc thẻ đỏ này cộng với chiếc thẻ đỏ ở Serie A trước đỏ khiến Zidane mất khá nhiều điểm trong cuộc bầu chọn Quả bóng Vàng năm đó[9].

Chinh phục châu Âu với Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, Zidane đã gia nhập "dải thiên hà" Real Madrid với 76 triệu euro, khoản phí chuyển nhượng tốn kém nhất trong lịch sử bóng đá trong một hợp đồng bốn năm.

Anh đã ghi được bàn thắng quyết định đem về cho Real chiếc cúp C1 thứ 9 và là chiếc cúp C1 đầu tiên của anh trong chiến thắng 2-1 trước Bayer Leverkusen năm 2002. Mùa tiếp theo, Zidane giúp CLB giành chức vô địch La Liga và anh lần thứ ba được FIFA bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới.

Ở Real lúc đó là cả một dải thiên hà với các sao sáng như Luís Figo, Roberto Carlos, David Beckham, Ronaldo, Raúl González… nhưng nhiều tờ báo cho rằng Zidane là khoảng 50 sức mạnh của Real.

Zidane trong màu áo Real Madrid

Năm 2004, người hâm mộ bình chọn anh là "Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu" trong vòng 50 năm qua thông qua một cuộc bỏ phiếu trên Internet. Cũng nhân dịp kỉ niệm 100 năm FIFA, anh được bầu chọn trong danh sách 100 cầu thủ tiêu biểu mọi thời đại của làng túc cầu (FIFA 100).

Zidane lập được cú hat-trick đầu tiên ở tuổi 33 trong chiến thắng 4-2 trước Sevilla FC, nhưng mùa bóng cuối cùng của Zidane ở Real đã "trắng tay". Vào ngày 7 tháng 5 năm 2006, Zidane chơi trận cuối cùng cho Kền kền trắng và cũng ghi được bàn thắng cuối cùng ở cấp độ CLB trong trận hoà 3-3 với Villarreal CF. Toàn đội bóng và CĐV đều mặc áo có đề "Zidane 2001-2006" để cảm ơn anh[10].

Zidane tuyên bố sẽ chính thức giải nghệ sau World Cup 2006.

Linh hồn của đội tuyển Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Zidane có quốc tịch kép của cả PhápAlgérie, và do đó có đủ điều kiện để chơi cho đội tuyển quốc gia Algérie, nhưng Huấn luyện viên Abdelhamid Kermali bị nhiều người cáo buộc là đã từ chối gọi Zidane vì ông cảm thấy anh chơi bóng khá lề mề. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2005, Zidane đã bác bỏ thông tin này. Anh khẳng định mình không chơi cho đội tuyển Algierie vì anh đã chọn đội tuyển Pháp[11].

Ngày 17 tháng 8 năm 1994, anh lần đầu tiên được gọi vào đội tuyển quốc gia khi 22 tuổi trước đội tuyển CH Czech trên chính sân Parc Lescure của Bordeaux. Anh vào sân ở phút 63 khi Pháp đang bị dẫn 0-2. Nhưng có Zidane trên sân, mọi thứ đã thay đổi. Anh ghi một cú đúp vào lưới đối thủ giúp Pháp có một trận hoà 2-2.

Từ đó, Zidane trở thành một cầu thủ không thể thiếu trong chiến lược trẻ hoá đội tuyển Pháp hướng tới World Cup 1998 của Huấn luyện viên Aimé Jacquet. Bất chấp mọi lời chỉ trích, Jacquet đặt tất cả niềm tin vào Zidane và mạnh tay gạt bỏ những ngôi sao thành danh như Eric Cantona, Ginola

Euro 1996 là giải đấu quốc tế lớn đầu tiên của anh. Trong vai trò của tiền vệ kiến thiết, Zidane đã đưa đội tuyển Pháp lọt vào bán kết trước khi thúc thủ trước CH Czech trên chấm phạt đền. Tuy nhiên, đây là giải đấu mà anh và cả đội tuyển Pháp không để lại nhiều ấn tượng.

Đỉnh cao sự nghiệp của Zidane là chức vô địch thế giới năm 1998 với đội tuyển Pháp trên sân nhà. Tưởng chừng đó là một World Cup bỏ đi với anh khi ngay trong trận đấu bảng thứ 2, Zidane đã lĩnh thẻ đỏ trực tiếp khi đạp vào chân một hậu vệ của Ả rập Xê út. Thế nhưng, sau khi Pháp chật vật lọt qua vòng 2 bằng chiến thắng ở phút cuối cùng của hiệp phụ trước Paraguay, Zidane đã trở lại và toả sáng rực rỡ. Đỉnh điểm là hai cú đánh đầu thành bàn trong trận chung kết với Brasil giúp Pháp lần đầu đăng quang.

Zidane tiếp tục thăng tiến với đội tuyển Pháp bằng chức vô địch Euro 2000. Pháp trở thành đội đầu tiên giữ cả hai chức vô địch thế giới và châu Âu kể từ khi Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Đức vô địch vào năm 1974. Anh ghi một bàn thắng vào lưới Tây Ban Nha bằng cú sút phạt thần sầu, rồi bàn thắng vàng loại Bồ Đào Nha khỏi bán kết. Zidane được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất của Euro 2000.

Trước kì World Cup 2002 diễn ra, Pháp thống lĩnh mọi danh hiệu của làng túc cầu. Và ngay cả những người hoài nghi nhất cũng phải thừa nhận họ là ứng cử viên số 1, là vô đối. Nhưng trước khi WC diễn ra đúng một tuần, Zidane dính chấn thương đùi trong trận giao hữu với Hàn Quốc. Vì thế, Zidane phải ngồi ngoài 2 trận đấu đầu tiên. Vắng anh, Pháp như bị mất hết sức mạnh và nhuệ khí và chịu thua 0-1 trước "đàn em" Sénégal rồi hoà không bàn thắng với Uruguay trong một trận cầu mà Thierry Henry phải lĩnh thẻ đỏ.

Dù chưa lành vết thương nhưng Zidane phải nén đau ra chơi trận đấu quyết định với Đan Mạch nhưng anh cũng không thể giúp gì cho đội Pháp đã rệu rã. Pháp kết thúc World Cup 2002 trong sự hổ thẹn khi về nước mà không ghi nổi một bàn thắng.

Ngày 12 tháng 6 năm 2004, sau khi Pháp bị Hy Lạp loại khỏi Euro 2004, Zidane tuyên bố từ giã sự nghiệp bóng đá quốc tế. Tuy nhiên, khi thấy đội Pháp quá chật vật với vòng loại World Cup 2006, theo lời mời của Huấn luyện viên Raymond Domenech, Zidane trở lại đội tuyển và ngay lập tức được trao chiếc băng đội trưởng. Với Zidane trở lại, Pháp thi đấu khởi sắc hẳn lên và lọt vào VCK World Cup.

Ngày 27 tháng 5 năm 2006, Zidane đạt được cột mốc 100 lần khoác áo đội tuyển quốc gia trong chiến thắng 1-0 trước México, trở thành người Pháp thứ tư đạt được điều này sau Marcel Desailly, Didier DeschampsLilian Thuram.

Sau khi bị phải ngồi ngoài đúng vào dịp sinh nhật lần thứ 34 trong trận cuối cùng của vòng bảng do đã lĩnh đủ 2 thẻ vàng, Zidane đã kiến tạo Patrick Vieira ghi bàn và tự mình ghi bàn "kết liễu" Tây Ban Nha vào phút 91 trong trận đấu vòng 2. Pháp gặp lại Brasil ở tứ kết. Lão tướng 34 tuổi này đã làm lu mờ tất cả dàn sao của Brasil gồm cả Ronaldinho, Ronaldo, Robinho, Kaká... bằng một phong độ đỉnh cao. Từ đường sút phạt của anh, Thierry Henry đã ghi bàn thắng quyết định đem về chiến thắng 1-0. Zidane được bầu chọn là Man of the Match[12].

Sau khi ghi bàn quyết định giúp Pháp loại BĐN ở bán kết, Zidane lại một lần nữa lập công trong trận CK World Cup bằng cú sút phạt penalty hất bóng kì diệu kiểu panenka. Tuy nhiên, anh đã bị truất quyền thi đấu ở phút thứ 110 của hiệp phụ thứ 2 sau khi húc đầu vào Matterazzi. Thiếu anh, một lần nữa, Pháp thất thủ, nhưng lần này là trên chấm phạt đền oan nghiệt.

Tuy nhiên, sau đó, Zidane đã được trao giải thưởng "Quả bóng Vàng" World Cup[13].

Anh và các đồng đội được chào đón ở quê nhà như những người hùng. Chính Tổng thống Jacques Chirac ca ngợi Zidane là một "người đàn ông của nhiệt huyết"[14].

Tuy nhiên, anh vẫn phải chấp nhận hình phạt "lao động công ích" của FIFA trong một số hoạt động từ thiện sau đó, dù anh đã giã từ sự nghiệp thi đấu.

Những bàn thắng đáng nhớ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Zidane lập cú đúp ngay trong lần đầu ra mắt đội tuyển quốc gia trước CH Czech trong đó có một cú sút xa từ cự li khoảng 30m năm 1996.

Zidane đã ghi bàn thắng từ một cú vuốt bóng từ khoảng cách 40m (gần nửa sân) trong trận đấu với Betis tại cúp UEFA năm 1996[15].

Ngày 27 tháng 5 năm 1997, Zidane trở thành người ghi bàn thắng đầu tiên trên sân Stade de France trong trận đấu khánh thành sân với đội tuyển Tây Ban Nha.

Zidane lập cú đúp trong chung kết World Cup 1998 bằng hai cú đánh đầu. Anh cũng ghi bàn trong trận CK World Cup 2006. Zidane trở thành cầu thủ thứ tư trong lịch sử World Cup ghi bàn trong 2 trận CK World Cup, cùng với Pelé, Paul Breitner, và Vavá. Anh cũng cùng với Vavá, PeléGeoff Hurst là những cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất trong các trận CK World Cup với 3 bàn[16].

Zidane ghi "bàn thắng vàng" để loại BĐN ở BK Euro 2000.

Zidane đã tung một cú vô lê tuyệt đẹp từ khoảng cách 20 m làm tung lưới Bayer Leverkusen trong trận CK Champions League mùa 2001-2002. Đây được xem là một trong những siêu phẩm kinh điển nhất của làng túc cầu. Điều đáng nói là Zidane đã thực hiện cú sút bằng chân trái, không phải chân thuận của anh.

Zidane đã lập cú đúp vào lưới của đội tuyển Anh tại vòng CK Euro 2004, giúp Pháp lội ngược dòng thắng 2-1 chỉ trong chưa đầy vài phút bù giờ cuối cùng của trận đấu, trong đó có một cú sút phạt hàng rào mẫu mực ở phút 90 và một quả penalty thành công ở phút 93.

Những điểm đáng chú ý khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Zidane đã sút hỏng penalty 1 lần duy nhất trong màu áo đội tuyển Pháp. Đó là trận giao hữu với đội tuyển Trung Quốc vào ngày 7/6/2006 tại St Etienne.
  • Zidane chưa bao giờ được khoác áo CLB Marseille, quê hương anh dù anh rất khao khát điều này.
  • Zidane là cầu thủ duy nhất giành được giải thưởng "Cầu thủ xuất sắc nhất " trong cả World Cup (2006) và Euro (2000).
  • Zidane đạt giải thưởng " Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới " của FIFA với 3 lần (1998, 2000 và 2003) (Ronaldo cũng có 3 lần)
  • Zidane đã sưu tập đủ cả Quả bóng Vàng, Bạc và Đồng của tạp chí Francefootball.
  • Trong số rất nhiều các danh hiệu đạt được, Zidane chưa bao giờ giành được chiếc cúp Quốc gia.
  • Zidane là một cầu thủ rất hiền nhưng khá nóng tính. Tính cả cuộc đời cầu thủ 18 năm, anh phải nhận tất cả 14 thẻ đỏ:

3 thẻ đỏ trong màu áo Bordeaux: ngày 18-9-1993 trong trận OM-Bordeaux, ngày 22-8-1995 trong trận Bordeaux-Karlsruhe, ngày 27-10-1995 trong trận Martigues-Bordeaux.

6 thẻ đỏ với Juventus: ngày 2-9-1996 trong trận Perugia-Juventus, ngày 5-1-1997 trong trận Parma-Juventus, ngày 25-10-1998 trong trận Juventus-Inter Milan, ngày 17-10-1999 trong trận AS Roma-Juventus, ngày 26-9-2000 trong trận Juventus-Deportivo, ngày 24-10-2000 trong trận Juventus-Hamburg.

3 thẻ đỏ với Real Madrid: ngày 11-2-2004 trong trận FC Sévilla-Real Madrid, ngày 1-5-2004 trong trận Deportivo-Real Madrid, ngày 23-5-2005 trong trận Real-Madrid-Villarreal.

2 thẻ đỏ với đội tuyển Pháp: ngày 18-6-1998 trong trận France-Ả Rập Saudi, ngày 9-7-2006 trong trận France-Italia. Với 2 chiếc thẻ đỏ trong hai kì World Cup, Zidane là cầu thủ phải nhận nhiều thẻ đỏ nhất trong lịch sử Cup thế giới (cùng Rigobert Song của Camơrun).

Cộng thêm 4 chiếc thẻ vàng trong các kì World Cup, Zidane là cầu thủ lĩnh nhiều thẻ phạt nhất Cúp thế giới (6 thẻ, bằng với Cafu của Brazil).

Zidane là cầu thủ thứ tư bị đuổi trong trận chung kết World Cup (World Cup 2006).

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Zidane khẳng định mình không theo đạo Hồi. Anh đã gặp ý trung nhân của mình, một vũ công người Pháp gốc Tây Ban Nha tên là Véronique Fernandez, trong khi đang chơi cho Cannes trong mùa 1991-92. Hai người đã có 4 con trai: Enzo, Luca, Théo và Elyaz. Hiện Enzo Z, Luca Zidane và Theo Zidane Fernandez đang là thành viên của đội bóng thiếu niên Real Madrid Infantil B.

Zidane là một người kín đáo, hiền lành trong cuộc sống, rất tận tâm với gia đình.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

  • Pele: Zidane đã diễn trò ảo thuật trong trận đấu (sau khi Brazil thua Pháp 0-1 tại World cup 2006)
  • Franz Beckenbauer: Zidane là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử, một cầu thủ thật sự kì diệu.
  • huấn luyện viên Marcello Lippi: Zidane là tài năng kiệt xuất nhất thế giới trong 20 năm qua. Tôi rất vinh dự vì đã làm huấn luyện viên của anh ấy[17]
  • Michel Platini: Xét về mặt kĩ thuật, tôi cho rằng anh ấy là ông vua của những kĩ năng cơ bản trong bóng đá: kiểm soát bóng và chuyền bóng. Tôi không nghĩ có cầu thủ nào sánh kịp với anh ấy trong việc nhận bóng và điều chỉnh trái bóng
  • Cesare Maldini: Nếu được thì tôi sẵn sàng bỏ 5 cầu thủ để có được Zidane trong đội hình của tôi
  • Kevin Keegan: Bạn xem Zidane và tự nhủ: mình chưa bao giờ thấy một cầu thủ như vậy cả. Diego Maradona là một cầu thủ vĩ đại. Johan Cruyff là một cầu thủ vĩ đại. Họ khác nhau nhưng vẫn có nét tương đồng. Thứ làm cho Zidane nổi trội hơn là cách mà anh ấy chơi bóng, tự tạo ra không gian cho riêng mình. Và cả tầm nhìn của anh ấy nữa, nó khiến cho anh ấy trở nên vô cùng đặc biệt.
  • Cựu huấn luyện viên ĐT Brazil Carlos Alberto Parreira: Zidane là một con quái vật
  • David Beckham: Với tôi thì anh ấy là cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại.
  • Roberto Carlos: Đó là cầu thủ xuất sắc nhất mà tôi đã nhìn thấy. Ronaldo là "người ngoài hành tinh", nhưng Zizou lại có một cái gì ngoài cả phạm vi đó".
  • Rivaldo: Cách di chuyển tao nhã của anh trên sân và các kĩ năng của anh là vô đối.
  • Marcel Desailly: Kĩ năng chơi bóng của anh ấy là ngoài sức tưởng tượng.
  • Thierry Henry: Ở Pháp mọi người đều nhận thấy rằng Chúa trời đang tồn tại và rằng anh ấy đang trở lại đội tuyển Pháp. Chúa trời đã trở lại.
  • Romario: Messi là một cầu thủ giỏi nhưng tôi mới là người nằm trong top 3. Đó là tôi, Pele và Maradona. Tôi nghĩ nếu có thể điền thêm thì cái tên tôi chọn là Zinedine Zidane[18]
  • Xavi: Zidane là cầu thủ xuất sắc nhất của những năm 90 và đầu những năm 2000
  • Xabi Alonso: Những thứ mà anh ấy có thể làm được trong bóng đá là niềm mơ ước của hầu hết giới cầu thủ chúng tôi[19].
  • Zlatan Ibrahimovic: Zidane đến từ một hành tinh khác. Khi có Zidane trên sân, 10 cầu thủ còn lại bỗng dưng chơi tốt hẳn lên. Chỉ đơn giản thế thôi.[20]

Các đội đã thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Với đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Với câu lạc bộ Real Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Các danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Bắc đẩu Bội tinh (Légion d'honneur), 1998
  • Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất nước Pháp, 1994
  • Cầu thủ xuất sắc nhất World Cup 2006 (FIFA Golden Ball Award), 2006
  • Quả bóng Vàng châu Âu (Ballon d'or) 1998, Quả bóng Bạc 2000, Quả bóng Đồng 1997.
  • Onze vàng (Onze d'or), 1998, 2000, 2001
  • Onze bạc (Onze d'argent), 1997, 2002, 2003
  • Onze đồng (Onze de bronze), 1999
  • Cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử của châu Âu [do BBC trao tặng]
  • Cầu thủ xuất sắc nhất thế giới (Quả bóng Vàng FIFA) 1998, 2000, 2003
  • Quả bóng bạc FIFA, 2006
  • Quả bóng Đồng FIFA, 1997, 2002
  • Cầu thủ xuất sắc nhất giải VĐQG Pháp, 1996
  • Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất Serie A, 1998, 2001
  • Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất La Liga, 2005
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Euro 2000
  • Cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết Champions League, 2002
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Champions League, 2001-2002,
  • Cầu thủ xuất sắc nhất nước Pháp, 1998, 2002
  • Cầu thủ xuất sắc nhất của UEFA, 2002
  • Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong vòng 50 năm qua do UEFA trao tặng, thành viên của 100 huyền thoại sống vĩ đại nhất của bóng đá (FIFA100), 2004
  • Vận động viên tiêu biểu nhất của nước Pháp do L'Équipe trao tặng, 1998
  • Cầu thủ xuất sắc nhất của World Soccer, 1998
  • Cầu thủ của năm của RSS, 1998
  • Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu do tạp chí El Pais (TBN) trao tặng, 1998, 2001, 2002, 2003
  • Đứng đầu trong số các nhân vật được yêu thích nhất nước Pháp, 2000, 2007[43]
  • Cầu thủ thế kỉ của Pháp do L'Équipe bình chọn, 2000
  • Đại sứ thiện chí của LHQ, 2002
  • Kỉ niệm chương danh dự của UNFP 2007.
  • Cầu thủ xuất sắc nhất Champions League trong 20 năm trở lại đây, 2011.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Flag of Brazil.svg Ronaldo
Quả bóng vàng châu Âu
1998
Kế nhiệm:
Flag of Brazil.svg Rivaldo
Tiền nhiệm:
Flag of Brazil.svg Ronaldo
Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA
1998
Kế nhiệm:
Flag of Brazil.svg Rivaldo
Tiền nhiệm:
Flag of Brazil.svg Rivaldo
Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA
2000
Kế nhiệm:
Flag of Portugal.svg Luis Figo
Tiền nhiệm:
Flag of Brazil.svg Ronaldo
Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA
2003
Kế nhiệm:
Flag of Brazil.svg Ronaldinho