Davor Šuker

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Davor Šuker
Davor Šuker 300x450px.jpg
Šuker năm 2008
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Davor Šuker
Chiều cao 1,83 m (6 ft 0 in)
Vị trí Tiền đạo
CLB trẻ
1984 Osijek
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1984–1989 Osijek 91 (40)
1989–1991 Dinamo Zagreb 60 (34)
1991–1996 Sevilla F.C. 153 (76)
1996–1999 Real Madrid 86 (38)
1999–2000 Arsenal 22 (8)
2000–2001 West Ham United 11 (2)
2001–2003 TSV 1860 München 25 (5)
Tổng 448 (203)
Đội tuyển quốc gia
1987 Yugoslavia U20 6 (6)
1991 Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Tư[1] 2 (1)
1992–2002 Đội tuyển bóng đá quốc gia Croatia[1] 69 (45)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Tổng cộng | caps(goals) = 091 0(40)
060 0(34)
153 0(76)
086 0(38)
039 0(11)
011 00(2)
025 00(5)
448 (206) | nationalyears = 1991
1990-2002 | nationalteam = Flag of SFR Yugoslavia.svg Nam Tư
Flag of Croatia.svg Croatia | nationalcaps(goals) = 002 00(1)
069 0(45) }} Davor Šuker, (sinh 1 tháng 1 năm 1968 tại Osijek, Croatia, quê gốc tại Livno, Bosna-Hercegovina) là cựu cầu thủ bóng đá người Croatia, được coi là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất thập niên 1990.

Đỉnh cao sự nghiệp của anh là World Cup 1998 tại Pháp, anh giành được danh hiệu Vua phá lưới với 6 bàn trong 7 trận, giúp đội tuyển Croatia giành hạng 3 chung cuộc ngay lần tham dự World Cup đầu tiên. Anh còn là chân sút xuất sắc nhất trong lịch sử đội tuyển quốc gia Croatia với 45 bàn thắng.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Šuker bắt đầu chơi bóng tại quê nhà Osijek với câu lạc bộ NK Osijek từ 1984 tới 1989. Sau đó anh chuyển đến Dinamo Zagreb, chơi 2 mùa bóng và ghi được 34 bàn trong 60 trận ở giải vô địch quốc gia Nam Tư. Thành tích ấn tượng này giúp anh được gọi vào đội tuyển Nam Tư và thu hút sự chú ý của các đội bóng nước ngoài. Năm 1991, anh chuyển tới Tây Ban Nha chơi cho câu lạc bộ Sevilla.

Tại Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Šuker đá trận đầu tiên tại Giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha cho Sevilla ngày 17 tháng 11 năm 1991, từ băng ghế dự bị ở phút cuối cùng trong trận hoà Espanyol 1-1. Trận tiếp theo gặp Real Sociedad, anh được ra sân ngay từ đầu và ghi bàn gỡ hoà 2-2. Mùa bóng đầu tiên tại Sevilla, Šuker ghi được 6 bàn trong 22 trận. Mùa bóng tiếp theo thành công hơn khi anh ghi 13 bàn trong 33 trận.

Mùa bóng 1993-94, anh trở thành một trong những cầu thủ xuất sắc nhất tại La Liga khi ghi tới 24 bàn thắng trong 34 trận với 5 cú đúp và 1 hat-trick, chỉ kém Romário của FC Barcelona. Sau đó, anh còn chơi thêm 2 mùa cho Sevilla, ghi được 33 bàn trong 64 trận ở giải vô địch quốc gia.

Anh chuyển tới chơi cho Real Madrid mùa bóng 1996-97, và tiếp tục là một tay săn bàn hàng đầu với 24 bàn trong 38 trận, là chân sút thứ ba mùa bóng đó, chỉ sau Ronaldo của Barcelona và Alfonso Pérez của Real Betis. Cũng trong mùa bóng này, anh cùng Real Madrid giành danh hiệu vô địch quốc gia. Giấc mơ có được các danh hiệu lớn của Šuker thành hiện thực khi anh cùng Real Madrid vô địch Champions League năm 1998, mặc dù chỉ ra sân vài phút trong trận chung kết trước Juventus. Mùa bóng 1998-99, vai trò của Šuker với câu lạc bộ giảm sút, mặc dù anh đã có một giải World Cup 1998 thành công. Anh chỉ ghi được 4 bàn trong 19 trận. Cuối mùa bóng, Šuker quyết định rời câu lạc bộ sau ba mùa bóng thi đấu cho Real.

Việc rời Real Madrid cũng kết thúc sự nghiệp thi đấu 8 mùa bóng tại Tây Ban Nha của Šuker. Tổng cộng anh có được 114 bàn thắng trong 239 trận đấu.

Tại Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa bóng 1999-2000, Šuker chuyển tới chơi tại giải Ngoại hạng Anh, kí hợp đồng với Arsenal. Trận đấu ra mắt của anh tại đây vào ngày 22 tháng 8 năm 1999 trong trận thua 1-2 trước Manchester United tại Highbury, vào sân thay người 15 phút trước khi hết trận. Trận đấu đầu tiên Šuker trong đội hình xuất phát là trận thắng Aston Villa 3-1 trên sân nhà, anh ghi 2 bàn đầu tiên tại giải Ngoại hạng Anh. Anh ghi tổng cộng 8 bàn (có 3 cú đúp) trong 22 trận đá tại giải vô địch trong màu áo Arsenal, trước khi chuyển sang West Ham United mùa bóng 2000-01. Với Arsenal, Šuker tham dự trận chung kết Cúp UEFA năm 2000 từ băng ghế dự bị. Arsenal thua trận chung kết trước đội bóng Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray trên chấm phạt đền, với Šuker đá hỏng lượt sút của mình.

Tại West Ham, anh chỉ ra sân 11 trận trong giải Ngoại hạng cả mùa bóng và ghi 2 bàn. Sự nghiệp của anh ở Anh kết thúc vào cuối mùa bóng đó khi anh quyết định chuyển sang Đức chơi cho 1860 Munich mùa bóng 2001-02. Tổng cộng ở giải Ngoại hạng Anh anh ghi 10 bàn trong 33 trận đấu.

Tới Đức và giải nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

Ở 1860 Munich, cho đến tận vòng 15 của giải đấu, Šuker mới có trận ra mắt Bundesliga đầu tiên, khi anh chơi đủ 90 phúc trong trận thắng Energie Cottbus 1-0 trên sân nhà. Bàn thắng đầu tiên của anh là sau kì nghỉ đông, trong trận thắng 1. FC Köln 3-0 cũng trên sân nhà. Anh ghi 1 bàn bằng đầu ở trận này. Trận đấu tốt nhất của anh ở mùa bóng này ở vòng cuối cùng, 1860 Munich thắng 4-2 trên sân Borussia Mönchengladbach. Anh ghi được cú đúp duy nhất tại Bundesliga trong trận này. Kết thúc mùa bóng đầu tiên, Šuker có một thành tích ít ỏi là 4 bàn trong 14 trận.

Mùa bóng cuối cùng 2002-03, anh cũng hiếm có dịp được chơi cho câu lạc bộ và ghi duy nhất 1 bàn trong 11 lần ra sân trong mùa bóng. Bàn cuối của anh vào ngày 2 tháng 11 năm 2002 khi 1860 Munich thắng Arminia Bielefeld 3-1 trên sân nhà và trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp của anh là thất bại 0-1 trước VfB Stuttgart ngày 16 tháng 3 năm 2003. Tổng cộng 2 mùa ở Bundesliga, anh chỉ ghi 5 bàn trong 23 trận đấu [2]. Trong hai mùa bóng này, anh còn tham dự 5 trận đấu tại Cúp bóng đá Đức và ghi 3 bàn.

Sự nghiệp đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ khi còn trẻ, Šuker đã ghi được 15 bàn thắng trong 25 lần khoác áo đội tuyển trẻ Nam Tư. Năm 1990, anh được gọi vào đội tuyển Nam Tư tham dự vòng chung kết World Cup 1990 tại Ý, tuy nhiên không có cơ hội ra sân.

Ngày 22 tháng 12 năm 1990, anh có trận ra mắt quốc tế trong màu áo đội tuyển mới thành lập Croatia trong trận đấu giao hữu gặp Romania. Tuy nhiên vào năm 1991, Šuker có được 2 trận khoác áo đội tuyển Nam Tư [3], do Croatia chưa được công nhận là thành viên của FIFAUEFA tại thời điểm đó, và ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình và là bàn thắng duy nhất cho Nam Tư.

Trong trận đấu thứ hai cho Croatia, trận giao hữu với Mexico năm 1992, anh ghi một cú đúp giúp Croatia thắng 3-0. Sau đó Šuker cùng Croatia tham dự giải đấu quốc tế quan trọng đầu tiên, Euro 1996, với một kỉ lục ở vòng loại là 12 bàn ghi được trong 10 trận đấu loại [4].

Tại vòng chung kết ở Anh, Šuker ghi 3 bàn trong 4 trận, trong đó có 2 bàn trong trận đại thắng đương kim vô địch Đan Mạch 3-0 ở vòng bảng. Sau đó, anh cũng góp phần đưa Croatia tham dự vòng chung kết World Cup đầu tiên khi ghi được 5 bàn trong 9 trận ở vòng loại World Cup 1998 tại Pháp.

Đây là giải đấu thành công nhất trong sự nghiệp của Šuker. Anh giành được danh hiệu Vua phá lưới của giải đấu, ghi 6 bàn trong 7 trận và đưa Croatia tới vị trí thứ ba một cách đầy bất ngờ đối với quốc gia tham dự World Cup lần đầu tiên kể từ khi độc lập. Anh đóng góp 1 bàn trong mỗi trận Croatia có bàn thắng, ghi các bàn thắng quyết định trong những trận thắng 1-0 trước Nhật Bản ở vòng bảng, Romania ở vòng 16 đội và chiến thắng cuối cùng 2-1 trước Hà Lan tại trận tranh vị trí thứ ba. Šuker cũng đưa đội tuyển tiến gần đến chung kết, khi ghi bàn mở tỉ số trong trận bán kết gặp Pháp trước khi Lilian Thuram ghi 2 bàn thắng [5] đảo ngược tình thế, giúp Pháp thắng 2-1 và vào chung kết.

Sau World Cup 1998, Šuker tiếp tục thi đấu cho Croatia ở vòng loại Euro 2000. Tuy anh đóng góp 4 bàn trong 7 trận vòng loại nhưng Croatia không vượt qua được vòng loại. Anh cũng có mặt trong đội hình Croatia tham dự World Cup 2002 tại Hàn Quốc, nhưng chỉ chơi có 63 phút trong trận mở màn gặp Mexico và thua 0-1. Ở vòng loại giải đấu này anh chỉ ghi được 1 bàn trong 6 trận. Sau World Cup 2002, anh kết thúc sự nghiệp quốc tế, trở thành thần tượng của nhiều trẻ em trên thế giới, đặc biệt tại quê nhà Croatia, nơi anh được coi là anh hùng dân tộc.

Šuker thi đấu tổng cộng 71 trận đấu quốc tế trong sự nghiệp, 2 trận cho Nam Tư và 69 trận cho Croatia, và ghi tổng cộng 46 bàn thắng. Kỉ lục ghi 45 bàn cho đội tuyển Croatia còn tồn tại lâu dài khi những cầu thủ đứng sau đều ghi chưa tới 30 bàn.

Sau khi giải nghệ cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi kết thúc sự nghiệp cầu thủ, Šuker mở một trường dạy bóng đá, lấy tên Học viện bóng đá Davor Šuker, trung tâm huấn luyện đặt tại thủ đô Zagreb của Croatia và ở một vài thành phố khác. Ngày 06 tháng 7 năm 2012, Davor Suker đắc cử chức chủ tịch LĐBĐ Croatia (HNS), thay thế Chủ tịch kỳ cựu Vlatko Markovic.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 2003, nhân dịp UEFA kỉ niệm 50 năm thành lập, Šuker được Liên đoàn bóng đá Croatia bầu chọn là cầu thủ tiêu biểu trong 50 năm của Croatia. Tháng 3 năm 2004, anh được Pelé đưa vào danh sách 125 cầu thủ còn sống xuất sắc nhất và là cầu thủ duy nhất của Croatia trong danh sách này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên National_team_statistics
  2. ^ Hồ sơ của Šuker tại trang soccerbase.com
  3. ^ Một cầu thủ theo luật FIFA không được khoác áo 2 đội tuyển quốc gia khác nhau
  4. ^ Kỉ lục này tồn tại suốt 3 kì Euro (12 năm) và chỉ đến vòng loại Euro 2008 mới bị phá bởi cầu thủ đội tuyển Bắc Ireland David Healy
  5. ^ Đây cũng là 2 bàn duy nhất của Thuram đóng góp cho đội tuyển Pháp trong sự nghiệp.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Flag of Bulgaria (bordered).svg Hristo Stoichkov
Flag of Russia.svg Oleg Salenko
Vua phá lưới World Cup
1998
Kế nhiệm:
Flag of Brazil.svg Ronaldo