Hugo Sánchez
| Hugo Sánchez | ||
| Thông tin cá nhân | ||
|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Hugo Sánchez Márquez | |
| Ngày sinh | 11 tháng 7, 1958 | |
| Nơi sinh | ||
| Chiều cao | 1,75m | |
| Vị trí | Quản lý đội bóng (trước đây là Tiền đạo) |
|
| CLB trẻ | ||
| 1976 | ||
| CLB chuyên nghiệp1 | ||
| Năm | CLB | Số trận (bàn thắng)* |
| 1976-1981 1979-1980 1981-1985 1985-1992 1992-1993 1993-1994 1994-1995 1995-1996 1996 1996-1998 |
UNAM Pumas → San Diego Sockers (loan) Atlético Madrid Real Madrid América Rayo Vallecano Atlante Linz Dallas Burn Atlético Celaya Tổng cộng |
200 (99) 32 (29) 111 (54) 283 (253) 29 (2) 29 (16) 32 (13) 18 (3) 23 (6) 12 (2) 769 (477) |
| Đội tuyển quốc gia | ||
| 1977-1998 | 60 (29) | |
| Sự nghiệp HLV | ||
| 2000-2005 2006 2006-nay |
||
|
1 Chỉ tính số trận và số bàn thắng |
||
Hugo Sánchez Márquez (sinh 11 tháng 7 năm 1958), biệt hiệu Pentapichichi và Hugol, là huấn luyện viên và cựu cầu thủ bóng đá người Mexico, chơi ở vị trí tiền đạo. Ông đã chơi cho 4 câu lạc bộ bóng đá Châu Âu, trong đó có Real Madrid. Là một thành viên của đội tuyển Mexico, ông đã tham gia World Cup 3 lần.
Sánchez đã chơi 12 mùa giải ở giải vô địch bóng đá Tây Ban Nha Primera División và là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng thứ hai trong lịch sử giải đấu [1]. Ông đạt 5 lần danh hiệu Vua phá lưới ở La Liga. Sánchez khoác áo đội tuyển Mexico trong 17 năm và tham gia vào các 3 kì World Cup 1978, 1986 và 1994. Ông cũng từng đoạt danh hiệu Chiếc giày vàng châu Âu.
Sau khi dẫn dắt UNAM Pumas giành 2 chức vô địch quốc gia, cùng với một thời gian ngắn huấn luyện Necaxa (cả hai câu lạc bộ thi đấu tại Giải vô địch bóng đá Mexico), Sánchez được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển Mexico, với mục tiêu lọt vào vòng chung kết World Cup 2010.
Năm 1999, IFFHS xếp Sánchez là cầu thủ xuất sắc thứ 26 của thế kỷ 20, và là cầu thủ xuất sắc nhất của khu vực Bắc Mỹ, Trung Mỹ và vùng Caribbe.[2]
Khởi nghiệp [sửa]
Sánchez sinh ra ở Mexico City. Thời thanh thiếu niên, Sánchez chơi cho Đội bóng đá quốc gia Mexico trong Pan-American Games vào năm 1975 và Olympics mùa hè 1976. Anh đã có mặt ở trên 80 giải đấu quốc tế. Anh bắt đầu cuộc đời cầu thủ chuyên nghiệp với Câu lạc bộ UNAM, năm 1981 anh được bán cho CLB Atletico Madrid rồi chuyển sang Real Madrid.
Chú thích [sửa]
- ^ Sanchez ghi được tổng cộng 234 bàn thắng, chỉ xếp sau Zarra ghi được 251 bàn.
- ^ Stokkermans, Karel. “IFFHS' Century Elections”. RSSSF. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.