Giải vô địch bóng đá thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải vô địch bóng đá thế giới
Fifa world cup org.jpg
Chiếc cúp vô địch World Cup hiện nay. Được sử dụng từ World Cup 1974.
Năm bắt đầu 1930
Khu vực Quốc tế (FIFA)
Số đội tham dự 32 (Vòng chung kết)
209 (Đủ điều kiện để nhập vào vòng loại)
Đương kim vô địch  Đức (4 lần)
Đội tuyển thành công nhất  Brasil (5 lần)
Trang chủ World Cup
Soccerball current event.svg Giải vô địch bóng đá thế giới 2014

Giải vô địch bóng đá thế giới (tiếng Anh: FIFA World Cup) là giải đấu bóng đá quốc tế do Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) tổ chức bốn năm một lần cho tất cả các đội tuyển bóng đá quốc gia của những nước thành viên FIFA. Giải lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1930, và chỉ bị gián đoạn hai lần vào các năm 1942 và 1946 do chiến tranh thế giới thứ hai.

Thể thức thi đấu hiện tại cho phép 32 đội bóng xuất sắc nhất tham dự vòng chung kết được tổ chức 4 năm một lần (kể từ năm 1998). Vòng loại, được tổ chức trong khoảng thời gian 3 năm trước đó nhằm xác định các đội giành quyền vào chơi vòng chung kết cùng nước chủ nhà. World Cup là sự kiện thể thao thu hút sự quan tâm đông đảo nhất trên toàn thế giới, FIFA cho hay đã có 906,6 triệu người theo dõi ít nhất 1 phút trận chung kết World Cup 2010 giữa Tây Ban NhaHà Lan qua truyền hình. Con số này tăng lên gần 1 tỷ người nếu tính cả số người xem trực tuyến và xem tại các khu vực công cộng. Chi tiết hơn, có 530,9 triệu người ngồi theo dõi trận chung kết tại gia và có 619,7 triệu người xem ít nhất 20 phút hiệp phụ của trận đấu này.

Qua 20 lần (tính đến năm 2014) được tổ chức, đã có 8 quốc gia đứng lên bục đăng quang. Brasil là đội duy nhất tham dự đủ 20 vòng chung kết và hiện đang giữ kỷ lục 5 lần vô địch giải.Tiếp đó là Tuyển ÝĐức với 4 lần giành ngôi cao nhất. Argentina và đội vô địch giải đầu tiên Uruguay, cùng có 2 danh hiệu. Các nhà vô địch khác là Anh, Pháp, Tây Ban Nha, mỗi đội một danh hiệu.

Đương kim vô địch thế giới là đội tuyển Đức sau khi giành chiến thắng trước Argentina với tỉ số 1–0 trong hiệp phụ ở trận chung kết World Cup 2014.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng tập hợp những đội bóng mạnh nhất của các quốc gia trong một trận cầu tranh chức vô địch thế giới bắt nguồn từ thập niên 1920, do một nhóm các nhà quản lý bóng đá Pháp, đứng đầu là Jules Rimet, đề xướng.

Nghị quyết việc tiến hành đều đặn Giải vô địch bóng đá thế giới được Đại hội FIFA họp tại Amsterdam thông qua năm 1928. Trong thời kỳ này bóng đá nhà nghề đã có một quy mô rộng lớn song những cuộc đấu ở Thế vận hội thì chỉ cho phép các cầu thủ nghiệp dư tham gia nên không đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của giới bóng đá.

Tên gọi chính thức của Giải vô địch bóng đá thế giới đã có vài lần thay đổi. Thoạt đầu nó được gọi là "Cúp thế giới" (World Cup, Coupe du monde) sau đó là "Cup Jules Rimet" (tên của cựu chủ tịch FIFA), rồi đến "Giải vô địch bóng đá thế giới - Cup Jules Rimet" và sau cùng là "Giải vô địch bóng đá thế giới".

Giải đấu đầu tiên chính thức được tổ chức tại Uruguay vào năm 1930, với sự tham dự của 13 đội tuyển. Và chiếc cúp vàng thứ nhất mang tên "Jules Rimet" đã lọt vào tay chính đội chủ nhà.

FIFA World Cup diễn ra đều đặn 4 năm một lần, trừ hai kỳ bị huỷ bỏ vào các năm 19421946 vì ảnh hưởng của Thế chiến thứ hai.

Trong thập niên 1950, giải vô địch bóng đá thế giới nhanh chóng tái khẳng định vị trí và tiếp tục duy trì thế độc tôn là sự kiện thể thao lớn nhất trong thời hiện đại, được tổ chức luân phiên ở các nước khu vực Châu ÂuChâu Mỹ. Thế nhưng mãi đến kỳ World Cup gần đây người ta mới thấy một bước đột phá khi Hàn QuốcNhật Bản được chọn đăng cai World Cup 2002. Đến năm 2010, lần đầu tiên FIFA đã đưa giải đấu đến với Châu Phi, và quốc gia được vinh dự đăng cai là Nam Phi.

Cúp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1970 trở về trước, đội vô địch thế giới được trao "cúp vàng" mà trong các văn kiện chính thức của FIFA gọi là "vật phẩm nghệ thuật". Đó là bức tượng nhỏ hình "Nữ thần chiến thắng Nike" (theo thần thoại Hy Lạp) mà trong giới bóng đá thường gọi là tượng "Nữ thần vàng". Theo đơn đặt hàng của FIFA, chiếc tượng này được hoàn thành năm 1928 do một người thợ kim hoàn ở Paris tên là Abel Lafleur đúc bằng vàng thật, nặng 1,8 kg (với chiếc đế bằng đá hoa cương nặng chừng 4 kg), trị giá 10.000 USD.

Trước Giải vô địch bóng đá thế giới năm 1970, FIFA giữ "Cup vàng" theo điều lệ quy định để rồi trao cho liên đoàn bóng đá quốc gia thuộc nước có đội bóng đoạt chức vô địch thế giới rồi trả lại cho FIFA trước khi tiến hành vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới lần sau.

Năm 1970, sau ba lần vô địch, như trong điều lệ quy định, đội Brasil đã được trao tặng vĩnh viễn "Nữ thần vàng". Sau đó FIFA đặt làm chiếc cup mới lấy tên là Cup thế giới FIFA. Chiếc cup này là Cup luân lưu, không đội bóng nào có thể đoạt vĩnh viễn cả. Những đội bóng chiến thắng sẽ được trao tặng chiếc cup mẫu thu nhỏ để làm kỷ niệm cùng với việc được giữ chiếc cup chính thức trong thời gian giữa hai giải vô địch bóng đá thế giới. Chiếc cup mới được đúc bằng vàng thật do nghệ sỹ người Ý Silvio Gazzaniga sáng tác, chiều cao 36,5 cm, nặng 6,175 kg, trị giá 20.000 USD. Cup này do người thợ kim hoàn Stabilimento Artistico Bertoni ở thành phố Milano đúc. Chiếc cúp mang hình hai thanh niên với bốn cánh tay giơ cao đỡ lấy quả Địa Cầu.[2] Phần kim loại của chiếc cup hiện nay là 4,9 kg "vàng nguyên khối 18 carat" và có hai lớp đá malachit.[3]

Các kỷ lục và thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Hai cầu thủ có số lần tham dự các vòng chung kết World Cup nhiều nhất là tuyển thủ Mexico Antonio Carbajal và cựu đội trưởng đội tuyển CHLB Đức Lothar Matthäus (cả hai cùng năm lần góp mặt).[4] Matthäus cũng là người chơi nhiều trận nhất với tổng cộng 25 lần được ra sân.[5] Huyền thoại Pelé là người duy nhất ba lần vô địch World Cup với tư cách cầu thủ,[6]

Người ghi nhiều bàn thắng nhất tại các kỳ World Cup là tuyển thủ Đức Miroslav Klose, với 16 lần làm tung lưới đối phương trong bốn lần tham dự giải. Thứ hai là tuyển thủ Brasil Ronaldo. Đứng thứ ba với 14 lần lập công là tuyển thủ người Đức Gerd Müller[7]. Ở vị trí thứ tư là trung phong huyền thoại người Pháp Just Fontaine, người cũng đồng thời giữ kỷ lục về số bàn thắng ghi được tại một kỳ World Cup, với thành tích 13 bàn ghi được tại giải năm 1958.[8]

Klose cũng chính là cầu thủ nhận được huy chương World Cup nhiều nhất (1 vàng, 1 bạc, 2 đồng). Anh cũng là cầu thủ duy nhất có tất cả các loại huy chương và luôn có huy chương ở tất cả các kỳ World Cup tham gia.

Mário ZagalloFranz Beckenbauer là hai người đồng thời vô địch World Cup với tư cách cầu thủ rồi huấn luyện viên. Zagallo vô địch các giải năm 1958 và 1962 khi còn đang thi đấu rồi giải năm 1970 khi chuyển sang vai trò huấn luyện viên.[9] Beckenbauer vô địch giải năm 1974 khi đeo băng đội trưởng đội tuyển Tây Đức và giải năm 1990 với tư cách người chỉ đạo đội.[10] Còn huấn luyện viên tuyển Ý Vittorio Pozzo là người duy nhất từng hai lần giành ngôi vô địch trên ghế chỉ đạo.[11]

Tính đến hết World Cup 2014, Đức là đội từng thi đấu nhiều trận nhất tại giải 106 trận, theo sau là Brasil với 104 trận. Đức là đội ghi được nhiều bàn thắng nhất với 224 bàn, theo sau là Đội tuyển Brasil với 220 bàn [12] Hai đội gặp nhau lần đầu tiên trong lịch sử thi đấu tại giải của mình ở trận chung kết năm 2002.

World Cup gần như là sân chơi riêng cho các đội bóng Nam MỹChâu Âu khẳng định sự thống trị tuyệt đối bóng đá thế giới bởi vì cho đến nay thì chưa có đội bóng nào ngoài Châu Âu và Nam Mỹ được nâng cao chiếc cup vàng danh giá.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội vô địch, á quân, hạng 3 và hạng 4[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nước chủ nhà Chung kết Tranh hạng ba
Vô địch Tỷ số Á quân Hạng 3 Tỷ số Hạng 4
1930
Chi tiết
 Uruguay
Uruguay
4–2
Argentina

Hoa Kỳ
[note 1]
Nam Tư
1934
Chi tiết
 Ý
Ý
2–1
(h.p.)

Tiệp Khắc

Đức
3–2
Áo
1938
Chi tiết
 Pháp
Ý
4–2
Hungary

Brasil
4–2
Thụy Điển
1950
Chi tiết
 Brasil
Uruguay
[note 2]
Brasil

Thụy Điển
[note 2]
Tây Ban Nha
1954
Chi tiết
 Thụy Sĩ
Tây Đức
3–2
Hungary

Áo
3–1
Uruguay
1958
Chi tiết
 Thụy Điển
Brasil
5–2
Thụy Điển

Pháp
6–3
Tây Đức
1962
Chi tiết
 Chile
Brasil
3–1
Tiệp Khắc

Chile
1–0
Nam Tư
1966
Chi tiết
 Anh
Anh
4–2
(h.p.)

Tây Đức

Bồ Đào Nha
2–1
Liên Xô
1970
Chi tiết
 México
Brasil
4–1
Ý

Tây Đức
1–0
Uruguay
1974
Chi tiết
 Tây Đức
Tây Đức
2–1
Hà Lan

Ba Lan
1–0
Brasil
1978
Chi tiết
 Argentina
Argentina
3–1
(h.p.)

Hà Lan

Brasil
2–1
Ý
1982
Chi tiết
 Tây Ban Nha
Ý
3–1
Tây Đức

Ba Lan
3–2
Pháp
1986
Chi tiết
 México
Argentina
3–2
Tây Đức

Pháp
4–2
(h.p.)

Bỉ
1990
Chi tiết
 Ý
Tây Đức
1–0
Argentina

Ý
2–1
Anh
1994
Chi tiết
 Hoa Kỳ
Brasil
0–0
(3–2)
(pen.)

Ý

Thụy Điển
4–0
Bungary
1998
Chi tiết
 Pháp
Pháp
3–0
Brasil

Croatia
2–1
Hà Lan
2002
Chi tiết
 Hàn Quốc
&  Nhật Bản

Brasil
2–0
Đức

Thổ Nhĩ Kỳ
3–2
Hàn Quốc
2006
Chi tiết
 Đức
Ý
1–1
(5–3)
(pen.)

Pháp

Đức
3–1
Bồ Đào Nha
2010
Chi tiết
 Nam Phi
Tây Ban Nha
1–0
(h.p.)

Hà Lan

Đức
3–2
Uruguay
2014
Chi tiết
 Brasil
Đức
1–0
(h.p.)

Argentina

Hà Lan
3–0
Brasil
2018
Chi tiết
 Nga
2022
Chi tiết
 Qatar
Chú thích
  1. ^ Không có trận tranh giải ba chính thức tại World Cup 1930; Hai đội tuyển Hoa Kỳ và Nam Tư đều thua tại vòng bán kết. FIFA hiện nay công nhận Hoa Kỳ giành hạng ba và Nam Tư giành hạng tư căn cứ vào thành tích thi đấu trước đó tại giải của hai đội.[13]
  2. ^ a ă Không có trận chung kết chính thức tại World Cup 1950.[14] Đội vô địch được xác định qua một lượt đấu vòng tròn tính điểm giữa bốn đội lọt vào vòng cuối cùng (Uruguay, Brasil, Thụy Điển, và Tây Ban Nha). Tuy nhiên, trận đấu giữa Uruguay và Brasil tại lượt đấu cuối cùng mang tính quyết định đội nào giành ngôi vô địch. Vì vậy, trận đấu này thường xuyên được coi như trận chung kết của World Cup 1950.[15].

Các quốc gia vào chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia vô địch

Tổng cộng, đã có 76 quốc gia ít nhất một lần được tham dự một vòng chung kết World Cup.[16] Trong số này, 8 quốc gia đã từng đăng quang một kỳ World Cup, và giành quyền gắn một ngôi sao trên áo đấu của mình cho mỗi chức vô địch. (Tuy nhiên, Uruguay là ngoại lệ của luật bất thành văn này; Họ gắn 4 ngôi sao trên áo đấu, tượng trưng cho hai tấm huy chương môn bóng đá nam tại các kỳ Thế vận hội 1924 và 1928 cùng hai chức vô địch World Cup các năm 19301950). Với 5 chức vô địch, Brasil là đội bóng giàu thành tích nhất thế giới, đồng thời là đội bóng duy nhất cho đến nay chưa vắng mặt tại bất kỳ vòng chung kết nào.[17] Ý (19341938) cùng Brasil (19581962) là hai đội bóng từng bảo vệ thành công chức vô địch của mình. Brasil và Đức là hai đội từng chơi nhiều trận chung kết nhất, với 8 lần (Đức) và 7 lần (Brasil), ngoài ra Đức cũng giữ kỷ lục về số lần lọt vào tới vòng bán kết, với 13 lần.

Đội Vô địch Á quân Hạng ba Hạng tư
 Brasil 5 (1958, 1962, 1970, 1994, 2002) 2 (1950*, 1998) 2 (1938, 1978) 2 (1974, 2014*)
 Đức^ 4 (1954, 1974*, 1990, 2014) 4 (1966, 1982, 1986, 2002) 4 (1934, 1970, 2006*, 2010) 1 (1958)
 Ý 4 (1934*, 1938, 1982, 2006) 2 (1970, 1994) 1 (1990*) 1 (1978)
 Argentina 2 (1978*, 1986) 3 (1930, 1990, 2014)
 Uruguay 2 (1930*, 1950) 3 (1954, 1970, 2010)
 Pháp 1 (1998*) 1 (2006) 2 (1958, 1986) 1 (1982)
 Anh 1 (1966*) 1 (1990)
 Tây Ban Nha 1 (2010) 1 (1950)
 Hà Lan 3 (1974, 1978, 2010) 1 (2014) 1 (1998)
 Tiệp Khắc# 2 (1934, 1962)
 Hungary 2 (1938, 1954)
 Thụy Điển 1 (1958*) 2 (1950, 1994) 1 (1938)
 Ba Lan 2 (1974, 1982)
 Áo 1 (1954) 1 (1934)
 Bồ Đào Nha 1 (1966) 1 (2006)
 Hoa Kỳ 1 (1930)
 Chile 1 (1962*)
 Croatia 1 (1998)
 Thổ Nhĩ Kỳ 1 (2002)
 Nam Tư# 2 (1930, 1962)
 Liên Xô# 1 (1966)
 Bỉ 1 (1986)
 Bungary 1 (1994)
 Hàn Quốc 1 (2002*)
* = Nước chủ nhà
^ = Tính cả thành tích của Tây Đức từ năm 1954 cho đến năm 1990
# = Quốc gia đã chia tách thành các quốc gia độc lập nhỏ hơn

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện có 6 giải thưởng trao cho cá nhân hay toàn đội tuyển cho thành tích thi đấu của họ tại mỗi kỳ World Cup:[18]

  • Giải Quả bóng vàng cho cầu thủ xuất sắc nhất giải, do giới truyền thông bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 1982); Quả bóng bạcQuả bóng đồng cho hai cầu thủ xếp thứ hai và thứ ba về số phiếu trong cuộc bầu chọn này;[19]
  • Giải Chiếc giày vàng cho vua phá lưới của giải. Chiếc giày bạcChiếc giày đồng cho hai cầu thủ về nhì và về ba[20]
  • Giải thưởng Yashin cho thủ môn xuất sắc nhất giải, do Hội đồng Kỹ thuật của FIFA bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 1994);[21]
  • Giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất cho cầu thủ xuất sắc nhất dưới 21 tuổi tính đến thời điểm giải khởi tranh, do Hội đồng Kỹ thuật của FIFA bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 2006).[22]
  • Giải FIFA Fair Play Trophy cho đội có chỉ số fair play tốt nhất, theo thang điểm do Ủy ban Fair Play FIFA quyết định (được trao lần đầu vào năm 1978);[22]
  • Giải Đội tuyển lôi cuốn nhất cho đội giành được nhiều phiếu nhất do khán giả bình chọn (được trao lần đầu vào năm 1994);[22]

Đội hình tiêu biểu được công bố lần đầu vào năm 1998.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhật Quang (12 tháng 7 năm 2010). “Hà Lan - Tây Ban Nha 0-1: Iniesta đưa "vua" châu Âu lên đỉnh thế giới”. Thể Thao & Văn Hoá. Truy cập 28 tháng 3 năm 2013. 
  2. ^ FIFA World Cup Trophy, FIFA.com. Truy cập 19 tháng 11 năm 2007.
  3. ^ “Cúp vàng không bằng vàng ròng”. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2010. 
  4. ^ Yannis, Alex (10 tháng 11 năm 1999). “Matthaus Is the Latest MetroStars Savior”. New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  5. ^ “World Cup Hall of Fame: Lothar Matthaeus”. CNN. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  6. ^ Kirby, Gentry (5 tháng 7 năm 2006). “Pele, King of Futbol”. ESPN. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  7. ^ Chowdhury, Saj (27 tháng 6 năm 2006). “Ronaldo's riposte”. BBC. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  8. ^ “Goal machine was Just superb”. BBC. 4 tháng 4, 2002. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  9. ^ Hughes, Rob (11 tháng 3, 1998). “No Alternative to Victory for National Coach: 150 Million Brazilians Keep Heat on Zagalo”. International Herald Tribune. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2005. Truy cập 31 tháng 12 năm 2007. 
  10. ^ Brewin, John (21 tháng 12 năm 2007). “World Cup Legends – Franz Beckenbauer”. ESPN. Truy cập 31 tháng 12 năm 2007. 
  11. ^ “1938 France”. CBC. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2006. Truy cập 31 tháng 12 năm 2007. 
  12. ^ “Planet World Cup – All time table”. Planet World Cup. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2008. 
  13. ^ 1930 FIFA World Cup, FIFA.com. Cập nhật ngày 5 tháng 3 2009.
  14. ^ 1950 FIFA World Cup, FIFA.com. Cập nhật ngày 5 tháng 3 2009.
  15. ^ FIFA World Cup Finals since 1930 (PDF), FIFA.com. Cập nhật ngày 5 tháng 3 2009.
  16. ^ FIFA công nhận tuyển Nga thừa hưởng thành tích của Liên Xô, tuyển Serbia thành tích của Nam Tư/Serbia và Montenegro, còn Cộng hòa Séc cùng Slovakia đồng thời tiếp nhận thành tích của đội Tiệp Khắc.
  17. ^ “Brazil”. FIFA.com. 
  18. ^ “FIFA World Cup awards”. FIFA.com. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009. 
  19. ^ “Golden Ball for Zinedine Zidane”. Soccerway. 10 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007. 
  20. ^ “adidas Golden Shoe – FIFA World Cup Final”. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2009. 
  21. ^ “Kahn named top keeper”. BBC. 30 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007. 
  22. ^ a ă â “FIFA Awards”. RSSSF. 18 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]