Giải vô địch bóng đá châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Năm bắt đầu 1960
Khu vực (UEFA)
Số đội tham dự 16 (Vòng chung kết)
53 (Vòng loại)
Đương kim vô địch  Tây Ban Nha
(lần thứ 3)
Đội tuyển thành công nhất  Đức
 Tây Ban Nha
(cùng 3 lần)
Trang chủ Trang chủ
Soccerball current event.svg Giải vô địch bóng đá châu Âu 2012

Giải vô địch bóng đá châu Âu (tên thường gọi: EURO) là giải bóng đá chính thức 4 năm một lần giữa các đội tuyển bóng đá châu Âu do Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tổ chức. Người đầu tiên nêu ý tưởng thành lập giải đấu này là Tổng thư ký Liên đoàn bóng đá Pháp (FFF) Henri Delauney. Giải đầu tiên diễn ra tại Pháp năm 1960 và nhà vô địch đầu tiên là Liên Xô. Tính đến nay, CHLB ĐứcTây Ban Nha là 2 quốc gia đoạt chức vô địch nhiều lần nhất, cùng 3 lần đăng quang.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu được tổng thư ký Liên đoàn bóng đá Pháp Henri Delaunay đề xuất từ năm 1927 nhưng mãi đến năm 1958 (3 năm sau khi Henri Delaunay qua đời) giải đấu mới được tổ chức. Chiếc cúp vô địch được đặt tên Henri Delaunay để tưởng nhớ đến công lao khai sinh giải đấu của ông.

Euro 1960 là giải vô địch bóng đá châu Âu đầu tiên được UEFA tổ chức tại Pháp. Đội vô địch là Liên Xô, sau khi đánh bại Nam Tư 2-1 trong trận chung kết tại Paris.[1] Giải đấu được tổ chức theo hình thức loại trực tiếp với 17 đội tham dự. Có nhiều sự vắng mặt đáng chú ý khi các đội mạnh như Tây Đức, Ý hay Anh từ chối tham dự giải. Các đội đá hai lượt đi và về theo thể thức sân nhà-sân khách cho tới vòng bán kết. Bốn đội mạnh nhất sẽ tham dự vòng chung kết được tổ chức ở một trong bốn nước giành quyền vào bán kết. Ở tứ kết, Tây Ban Nha từ chối đến Liên Xô và rút khỏi giải đấu, vì vậy lọt vào bán kết có ba đại diện Đông Âu: Liên Xô, Nam Tư và Tiệp Khắc, cùng đội chủ nhà Pháp. Ở bán kết, Liên Xô dễ dàng vượt qua Tiệp Khắc tại Marseille với tỉ số 3-0. Trận bán kết còn lại có tới chín bàn thắng và kết thúc với tỉ số 5-4 nghiêng về Nam Tư. Nam Tư đã hai lần bị đối phương dẫn trước với khoảng cách hai bàn, nhưng đã lật ngược tình thế thành công. Tiệp Khắc đánh bại Pháp 2-0 để giành vị trí thứ ba. Trong trận chung kết, Nam Tư ghi bàn trước, nhưng Liên Xô, có trong đội hình thủ môn huyền thoại Lev Yashin, gỡ hòa ở phút 49. Sau 90 phút, tỷ số là 1-1 và Viktor Ponedelnik ghi bàn khi hiệp phụ thứ hai còn bảy phút nữa là kết thúc, để mang chiếc cúp vô địch châu Âu đầu tiên về cho Liên Xô.

Euro 1964 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ hai do UEFA tổ chức theo chu kỳ 4 năm một lần. Vòng chung kết diễn ra tại Tây Ban Nha và chức vô địch sau đó đã thuộc về nước chủ nhà sau khi họ vượt qua đương kim vô địch Liên Xô 2-1 trong trận chung kết. Giải đấu lần này vẫn theo thể thức loại trực tiếp như giải lần đầu tiên với 29 đội bóng tham dự. Chỉ có Hy Lạp bỏ cuộc sau một trận hoà với Albania. Do số đội lẻ nên đương kim vô địch Liên Xô cùng hai đội ÁoLuxembourg qua bốc thăm không phải tham dự vòng loại đầu tiên. Các cặp đấu tiến hành đấu loại trực tiếp theo thể thức sân nhà - sân khách cho tới bán kết. Bốn đội cuối cùng sẽ thi đấu vòng chung kết được tổ chức tại một trong bốn nước có đội bóng tham dự. Ở giải này, Luxembourg trở thành khắc tinh của các đội bóng lớn khi hạ Hà Lan 3-2 sau hai lượt, và thủ hoà với Đan Mạch 3-3 và 2-2, trước khi thất bại 0-1 ở trận tái đấu. Đan Mạch gây bất ngờ nhất khi lọt vào tới vòng chung kết, cùng với Liên Xô, Tây Ban Nha và Hungary. Tại bán kết, Liên Xô đánh bại Đan Mạch 3-0 tại Barcelona và Tây Ban Nha hạ Hungary 2-1 sau hai hiệp phụ ở Madrid với bàn thắng quyết định của Amancio. Tây Ban Nha đã bỏ cuộc khỏi giải đấu trước năm 1960 khi từ chối thi đấu với Liên Xô, nhưng lần này nhà độc tài Franco đã cho phép đội nhà thi đấu với những người Xô viết. Trước hơn 79.000 khán giả tại sân Santiago Bernabéu ở Madrid, chủ nhà thắng 2-1 nhờ bàn thắng muộn của Marcelino.

Euro 1968 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ ba diễn ra tại Ý từ ngày mùng 5 cho đến ngày mùng 10, năm 1968. So với các giải đấu trước, vòng loại kỳ Euro lần này có thay đổi khi lần đầu tiên áp dụng thể thức các đội được chia bảng, đấu vòng tròn tính điểm. Đây cũng là kỳ Euro duy nhất có hai trận chung kết. Đội tuyển chủ nhà Ý phải đợi đến trận đấu lại mới vượt qua được Nam Tư để giành chức vô địch châu Âu đầu tiên trong lịch sử của mình. Đây cũng là lần thứ hai đội bóng vùng Balkan thất bại trong trận đấu cuối cùng của giải, sau chức á quân giành được vào năm 1960.

Euro 1972 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ tư diễn ra tại Bỉ từ ngày 14 cho đến ngày 18 tháng 06, năm 1972. Tại giải, đội tuyển Tây Đức giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Với việc giành thêm chức vô địch thế giới hai năm sau đó tại World Cup 1974, đội Tây Đức trở thành tuyển quốc gia đầu tiên đồng thời giữ hai danh hiệu Đương kim vô địch châu Âu và vô địch thế giới.

Euro 1976 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ năm diễn ra tại Nam Tư từ ngày 16 cho đến ngày 20 tháng 06, năm 1976. Tại giải, đội tuyển Tiệp Khắc giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Đây là giải đấu cuối cùng, vòng chung kết chỉ quy tụ bốn đội bóng và nước chủ nhà đăng cai vòng chung kết phải thi đấu vòng loại. Kể từ giải lần sau, vòng chung kết sẽ được mở rộng cho tám đội tham gia, bao gồm 7 đội vượt qua vòng loại và quốc gia được chọn đăng cai vòng chung kết. Một điều đáng lưu ý nữa ở giải là tất cả các trận đấu đều buộc phải thi đấu hiệp phụ để phân định thắng thua. Trận chung kết giữa Tiệp Khắc và Tây Đức là trận đấu đầu tiên trong lịch sử bóng đá quốc tế có áp dụng hình thức sút penalty sau hai hiệp phụ để phân thắng bại.

Euro 1980 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ sáu diễn ra tại Ý từ ngày 11 cho đến ngày 22 tháng 06, năm 1980. Tại giải, đội tuyển Tây Đức giành chức vô địch châu Âu thứ hai của mình, và trở thành đội đầu tiên hai lần vô địch giải.

Euro 1984 là Giải vô địch quốc gia châu Âu lần thứ 7 diễn ra từ ngày 12 đến 27/6 năm 1984 tại Pháp. Vào thời điểm này, chỉ có 8 đội tham dự VCK, bao gồm 7 đội phải vượt qua vòng loại và nước chủ nhà. Dưới sự dẫn dắt của Michel Platini, Pháp đã xuất sắc giành chức vô địch trên sân nhà và đây cũng là danh hiệu lớn đầu tiên của họ.

Euro 1988 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ tám diễn ra tại Tây Đức từ ngày mùng 10 cho đến ngày 25 tháng 06, năm 1988. Tại giải, đội tuyển Hà Lan dưới sự dẫn dắt của bộ ba người "Hà Lan bay" (Marco van Basten, Ruud GullitFrank Rijkaard) giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình.

Euro 1992 được tổ chức ở Thụy Điển từ ngày mùng 10 đến ngày 26 tháng 6 năm 1992. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 9, được tổ chức bởi UEFA. Đan Mạch, đội đến Thụy Điển để thay thế cho Nam Tư (đã vượt qua vòng loại nhưng không tham gia được do có nội chiến xảy ra), đã tạo ra bất ngờ lớn khi giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Một đội tuyển khác "chính thức" không thi đấu vòng loại mà vẫn có mặt tại vòng chung kết Euro 1992 là đội tuyển SNG (tên tắt của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập mới được tách ra từ Liên Xô). Năm 1991 Liên Xô tan vỡ và bị tách thành 15 nước độc lập, SNG được thành lập từ 12 nước trong 15 nước đó gồm Nga, Ukraina, Belarus, Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Kyrgyzstan, Armenia, Moldova and Tajikistan. Đội Liên Xô đã vượt qua vòng loại được thay thế bằng tuyển SNG. Tại Euro 1992 có một điều đáng chú ý nữa là lần đầu tiên tại một vòng chung kết một giải đấu bóng đá lớn, tên riêng của mỗi cầu thủ được in sau lưng áo đấu của mình.

Euro 1996 được tổ chức ở Anh từ ngày mùng 8 đến ngày 30 tháng 6 năm 1996. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 10, được tổ chức bởi UEFA. Đức trở thành đội đầu tiên ba lần đoạt chức vô địch châu Âu khi giành ngôi quán quân của giải. Đây là kỳ Euro đầu tiên có 16 đội tham dự vòng chung kết. UEFA đưa ra quyết định này khi ở trong thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, đối với các đội bóng châu Âu, vượt qua vòng loại World Cup còn dễ hơn vượt qua vòng loại của giải vô địch châu lục mình; 14 trên tổng số 24 đội tham dự World Cup 1982, 19861990 là các đội bóng thuộc Cựu lục địa, trong khi vòng chung kết Euro vẫn giữ nguyên thể thức 8 đội.

Euro 2000 là giải vô địch bóng đá châu Âu thứ 11 được đồng tổ chức bởi Bỉ và Hà Lan (lần đầu tiên trong lịch sử Euro) từ 10 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 2000. Giải đấu có sự tham gia của 16 đội tuyển quốc gia. Trong đó trừ hai nước chủ nhà Bỉ và Hà Lan, 14 đội còn lại phải vượt qua được vòng loại để tới vòng chung kết. Pháp là đội vô địch giải đấu này, sau chiến thắng 2-1 trước Italia trong trận chung kết, bằng bàn thắng vàng.

Euro 2004 được tổ chức ở Bồ Đào Nha từ ngày 12 tháng 6 cho đến ngày mùng 4 tháng 7 năm 2004. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 12, được tổ chức bởi UEFA. Đội tuyển Hy Lạp gây bất ngờ lớn khi đoạt chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình, dù không được đánh giá cao trước khi giải diễn ra.

Euro 2008 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 13 do Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tổ chức. Giải diễn ra trên các sân vận động của Áo và Thụy Sĩ từ ngày mùng 7 và kết thúc với trận chung kết trên sân vận động Ernst Happel Stadion vào ngày 29 tháng 6 năm 2008. Đây là lần thứ hai có hai quốc gia đồng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu. Lần trước vào năm 2000 do Bỉ và Hà Lan cùng đăng cai. Ở giải đấu này, Tây Ban Nha đã lần thứ hai vô địch Euro sau khi đánh bại Đức 1-0 ở trận chung kết nhờ pha lập công duy nhất của Fernando Torres.

Euro 2012 là giải vô địch bóng đá châu Âu thứ 14 và là lần thứ 3 được đăng cai tại 2 quốc gia là Ba LanUkraina. Giải bắt đầu từ ngày mùng 8 tháng 6 đến ngày mùng 2 tháng 7 năm 2012. Có tổng cộng 16 đội bóng tham dự chia thành 4 bảng A, B, C và D. Đây là giải đấu khẳng định sự thống trị của bóng đá Tây Ban Nha khi họ là đội bóng đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch Euro sau khi đánh bại Italia với tỷ số đậm 4 - 0 ở trận chung kết (đây là tỷ số đậm nhất trong một trận chung kết Euro). Qua đó kéo dài kỷ nguyên vinh quang khi họ có trong tay 3 chức vô địch của 3 giải đấu lớn liên tiếp là Euro 2008, World Cup 2010Euro 2012 (trong quá khứ đội tuyển Tây Đức cũng đã gần chạm đến kỷ lục này khi họ vô địch Euro 1972World Cup 1974 nhưng lại không bảo vệ được chức vô địch Euro 1976 dù đã vào tới trận chung kết).

Thể lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Các trận chung kết và tranh hạng 3[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nước đăng cai Chung kết Tranh hạng 3
Vô địch Tỷ số Hạng nhì Hạng ba Tỷ số Hạng tư
1960 Pháp Cờ của Liên Xô
Liên Xô
2-1(1) Cờ của Nam Tư
Nam Tư
Cờ của Tiệp Khắc
Tiệp Khắc
2-0 Cờ của Pháp
Pháp
1964 Tây Ban Nha Cờ của Tây Ban Nha
Tây Ban Nha
2-1 Cờ của Liên Xô
Liên Xô
Cờ của Hungary
Hungary
3-1(1) Cờ của Đan Mạch
Đan Mạch
1968 Ý Cờ của Ý
Ý
1-1
2-0 (đá lại)
Cờ của Nam Tư
Nam Tư
Cờ của Anh
Anh
2-0 Cờ của Liên Xô
Liên Xô
1972 Bỉ Cờ của Đức
CHLB Đức
3-0 Cờ của Liên Xô
Liên Xô
Cờ của Bỉ
Bỉ
2-1 Cờ của Hungary
Hungary
1976 Nam Tư Cờ của Tiệp Khắc
Tiệp Khắc
2-2
5-3 (11m)
Cờ của Đức
CHLB Đức
Flag of the Netherlands
Hà Lan
3-2(1) Cờ của Nam Tư
Nam Tư
1980 Ý Cờ của Đức
CHLB Đức
2-1 Cờ của Bỉ
Bỉ
Cờ của Tiệp Khắc
Tiệp Khắc
1-1
9-8 (11m)
Cờ của Ý
Ý
 
Năm Nước đăng cai Vô địch Tỷ số Hạng nhì 2 đội thua ở bán kết
1984 Pháp Cờ của Pháp
Pháp
2-0 Cờ của Tây Ban Nha
Tây Ban Nha
Cờ của Đan Mạch
Đan Mạch
Cờ của Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha
1988 CHLB Đức Flag of the Netherlands
Hà Lan
2-0 Cờ của Liên Xô
Liên Xô
Cờ của Đức
CHLB Đức
Cờ của Ý
Ý
1992 Thụy Điển Cờ của Đan Mạch
Đan Mạch
2-0 Cờ của Đức
Đức
Flag of the Netherlands
Hà Lan
Cờ của Thụy Điển
Thụy Điển
1996 Anh Cờ của Đức
Đức
2-1(2) Cờ của Cộng hòa Séc
Cộng hoà Séc
Cờ của Anh
Anh
Cờ của Pháp
Pháp
2000 Bỉ/Hà Lan Cờ của Pháp
Pháp
2-1(2) Cờ của Ý
Ý
Flag of the Netherlands
Hà Lan
Cờ của Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha
2004 Bồ Đào Nha Cờ của Hy Lạp
Hy Lạp
1-0 Cờ của Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha
Cờ của Cộng hòa Séc
Cộng hoà Séc
Flag of the Netherlands
Hà Lan
2008 Áo/Thụy Sỹ Cờ của Tây Ban Nha
Tây Ban Nha
1-0 Cờ của Đức
Đức
Cờ của Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ
Cờ của Nga
Nga
2012 Ba Lan/Ukraina Cờ của Tây Ban Nha
Tây Ban Nha
4-0 Cờ của Ý
Ý
Cờ của Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha
Cờ của Đức
Đức

(1) Trận đấu kết thúc sau 2 hiệp phụ.

(2) Trận đấu kết thúc theo luật bàn thắng vàng hay "cái chết bất ngờ".

Đội vô địch và á quân[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia vô địch châu Âu
Đội tuyển Vô địch Á quân
 Tây Ban Nha 3 (1964*, 2008, 2012) 1 (1984)
 Đức 3 (19721, 19801, 1996) 3 (19761, 1992, 2008)
 Pháp 2 (1984*, 2000)
 Liên Xô 1 (1960) 3 (1964, 1972, 1988)
 Ý 1 (1968*) 2 (2000, 2012)
 Cộng hòa Séc 1 (19762) 1 (1996)
 Hà Lan 1 (1988)
 Đan Mạch 1 (1992)
 Hy Lạp 1 (2004)
 Nam Tư 2 (1960, 1968)
 Bỉ 1 (1980)
 Bồ Đào Nha 1 (2004*)
*: đội chủ nhà
1: với tư cách là Tây Đức
2: với tư cách là Tiệp Khắc

Cầu thủ xuất sắc nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên
1996 Cờ của Đức Matthias Sammer
2000 Cờ của Pháp Zinedine Zidane
2004 Cờ của Hy Lạp Theodoros Zagorakis
2008 Cờ của Tây Ban Nha Xavi
2012 Cờ của Tây Ban Nha Andrés Iniesta

Vua phá lưới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Số bàn thắng
1960 Cờ của Pháp François Heutte
Cờ của Liên Xô Valentin Ivanov
Cờ của Liên Xô Viktor Ponedelnik
Cờ của Nam Tư Milan Galić
Cờ của Nam Tư Dražan Jerković
2
1964 Cờ của Hungary Ferenc Bene
Cờ của Hungary Dezső Novák
Cờ của Tây Ban Nha Jesús María Pereda
2
1968 Cờ của Nam Tư Dragan Džajić 2
1972 Cờ của Tây Đức Gerd Müller 4
1976 Cờ của Tây Đức Dieter Müller 4
1980 Cờ của Tây Đức Klaus Allofs 3
1984 Cờ của Pháp Michel Platini 9
1988 Flag of the Netherlands Marco van Basten 5
1992 Cờ của Đan Mạch Henrik Larsen
Cờ của Đức Karlheinz Riedle
Flag of the Netherlands Dennis Bergkamp
Cờ của Thụy Điển Tomas Brolin
3
1996 Cờ của Anh Alan Shearer 5
2000 Flag of the Netherlands Patrick Kluivert
Flag of the Federal Republic of Yugoslavia Savo Milošević
5
2004 Cờ của Cộng hòa Séc Milan Baroš 5
2008 Cờ của Tây Ban Nha David Villa 4
2012 Cờ của Croatia Mario Mandžukić
Cờ của Đức Mario Gómez
Cờ của Ý Mario Balotelli
Cờ của Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo
Cờ của Nga Alan Dzagoev
Cờ của Tây Ban Nha Fernando Torres (W)
3

Các đội tham dự giải[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ thành tích tốt nhất của các quốc gia tham dự giải
Ghi chú
  • 1st – Vô địch
  • 2nd – Á quân
  • 3rd – Hạng ba (từ năm 1960 đến năm 1980)
  • 4th – Hạng tư (từ năm 1960 đến năm 1980)
  • SF – Bán kết (kể từ năm 1984)
  • QF – Tứ kết (kể từ năm 1996)
  • GS – Vòng bảng (kể từ năm 1980)
  • Q — Đã vượt qua vòng loại của giải đấu sắp tới
  •  •  — Không vượt qua vòng loại
  •  ×  — Không tham dự / Bị cấm tham dự
  •    — Đội chủ nhà

Số đội tham dự vòng chung kết của mỗi giải đấu được viết trong ngoặc.

Đội tuyển 1960
(4)
1964
(4)
1968
(4)
1972
(4)
1976
(4)
1980
(8)
1984
(8)
1988
(8)
1992
(8)
1996
(16)
2000
(16)
2004
(16)
2008
(16)
2012
(16)
Số năm
 Áo GS 1
 Bỉ × 3rd 2nd GS GS 4
 Bungary GS GS 2
 Croatia Một phần của  Nam Tư QF GS QF GS 4
 Cộng hòa Séc 3 3rd 1st 3rd 2nd GS SF GS QF 8
 Đan Mạch 4th SF GS 1st GS GS QF GS 8
 Anh × 3rd GS GS GS SF GS QF QF 8
 Pháp 4th 1st GS SF 1st QF GS QF 8
 Đức 1 × × 1st 2nd 1st GS SF 2nd 1st GS GS 2nd SF 11
 Hy Lạp × GS 1st GS QF 4
 Hungary 3rd 4th 2
 Ireland GS GS 2
 Ý × 1st 4th SF GS 2nd GS QF 2nd 8
 Latvia Một phần của  Liên Xô GS 1
 Hà Lan × 3rd GS 1st SF QF SF SF QF GS 9
 Na Uy GS 1
 Ba Lan GS GS 2
 Bồ Đào Nha SF QF SF 2nd QF SF 6
 România GS GS QF GS 4
 Nga 2 1st 2nd 4th 2nd 2nd GS GS GS SF GS 10
 Scotland × × GS GS 2
 Serbia 4 2nd 2nd 4th GS × [2] × QF 5
 Slovenia Một phần của  Nam Tư GS 1
 Tây Ban Nha × 1st GS 2nd GS QF QF GS 1st 1st 9
 Thụy Điển × SF GS QF GS GS 5
 Thụy Sĩ × GS GS GS 3
 Thổ Nhĩ Kỳ GS QF SF 3
 Ukraina Một phần của  Liên Xô × [3] GS 1

1: Tính cả 5 lần tham dự với tư cách là Tây Đức

2: Tính cả 5 lần tham dự với tư cách là Liên Xô và 1 lần với tư cách là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập

3: Tính cả 3 lần tham dự với tư cách là Tiệp Khắc

4: Tính cả 5 lần tham dự với tư cách là Nam Tư

Xếp hạng theo số trận thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Số trận Thắng Hoà Bại Số bàn thắng Số bàn bại Hiệu số
 Tây Đức (1972–1988)
 Đức (1992–)
43 23 10 10 65 45 +20
 Tây Ban Nha 36 17 11 8 50 32 +18
 Hà Lan 35 17 8 10 57 37 +20
 Pháp 32 15 8 9 49 39 +10
 Bồ Đào Nha 28 15 5 8 40 26 +14
 Ý 33 13 15 5 33 25 +8
 Tiệp Khắc (1960–1980)
 Cộng hòa Séc (1996–)
29 13 5 11 40 38 +2
 Liên Xô (1960–1988)
 Cộng đồng các quốc gia độc lập (1992)
 Nga (1996–)
30 12 6 12 36 39 −3
 Anh 27 9 9 9 36 31 +5
 Đan Mạch 27 7 6 14 30 43 −13
 Croatia 14 6 4 4 18 16 +2
 Thụy Điển 17 5 5 7 24 21 +3
 Hy Lạp 16 5 3 8 14 20 −6
 Bỉ 12 4 2 6 13 20 −7
 Thổ Nhĩ Kỳ 12 3 2 7 11 18 −7
 CHLB XHCN Nam Tư (1960–1984)
 CHLB Nam Tư (2000)
14 3 2 9 22 39 −17
 Scotland 6 2 1 3 4 5 −1
 România 13 1 4 8 8 17 −9
 Thụy Sĩ 9 1 2 6 5 13 −8
 Na Uy 3 1 1 1 1 1 0
 Ireland 6 1 1 4 3 11 −8
 Bungary 6 1 1 4 4 13 −9
 Ukraina 3 1 0 2 2 4 –2
 Hungary 4 1 0 3 5 6 −1
 Ba Lan 6 0 3 3 3 7 −4
 Slovenia 3 0 2 1 4 5 −1
 Áo 3 0 1 2 1 3 −2
 Latvia 3 0 1 2 1 5 −4

Cập nhật lần cuối: 2/7/2012.

Các huấn luyện viên vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Huấn luyện viên Vô địch
1960 Cờ của Liên Xô Gavriil Kachalin  Liên Xô
1964 Cờ của Tây Ban Nha José Villalonga  Tây Ban Nha
1968 Cờ của Ý Ferruccio Valcareggi  Ý
1972 Cờ của Tây Đức Helmut Schön  Tây Đức
1976 Cờ của Tiệp Khắc Václav Ježek  Tiệp Khắc
1980 Cờ của Tây Đức Jupp Derwall  Tây Đức
1984 Cờ của Pháp Michel Hidalgo  Pháp
1988 Flag of the Netherlands Rinus Michels  Hà Lan
1992 Cờ của Đan Mạch Richard Møller-Nielsen  Đan Mạch
1996 Cờ của Đức Berti Vogts  Đức
2000 Cờ của Pháp Roger Lemerre  Pháp
2004 Cờ của Đức Otto Rehhagel  Hy Lạp
2008 Cờ của Tây Ban Nha Luis Aragonés  Tây Ban Nha
2012 Cờ của Tây Ban Nha Vicente del Bosque  Tây Ban Nha

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ponedelnik heads Soviet Union to glory”. UEFA. 1 tháng 10 năm 2003. Truy cập ‎26 ‎February ‎2012. 
  2. ^ Vượt qua vòng loại nhưng bị cấm tham dự vì chiến tranh Nam Tư, đội tuyển Đan Mạch được UEFA cho thay thế
  3. ^ Thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]