David Villa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
David Villa
David Villa - 01.jpg
Villa chơi cho Atlético de Madrid vào năm 2013
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ David Villa Sánchez[1]
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in) [2]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Atlético Madrid
Số áo 9
CLB trẻ
1991–1999 Langreo
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1999–2001 Sporting Gijón B 65 (25)
2001–2003 Sporting Gijón 80 (38)
2003–2005 Zaragoza 73 (32)
2005–2010 Valencia 166 (108)
2010–2013 Barcelona 77 (33)
2013– Atlético Madrid 24 (11)
Đội tuyển quốc gia
2000–2003 U-21 Tây Ban Nha 7 (0)
2005– Tây Ban Nha 92 (56)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 23 tháng 2, 2014.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 30 tháng 6, 2013

David Villa Sánchez (sinh ngày 3 tháng 12 năm 1981 tại Langreo, Asturias, Tây Ban Nha), biệt danh El Guaje[3] (Con chấy trong tiếng Tây Ban Nha) là cầu thủ bóng đá đang thi đấu ở vị trí Tiền đạo cho câu lạc bộ Atlético Madrid[4]Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha.

Villa bắt đầu sự nghiệp cầu thủ của mình tại Sporting de Gijón. Sau đó anh thi đấu cho Real Zaragoza hai mùa bóng và giành được Cúp Nhà vua Tây Ban NhaSiêu cúp Tây Ban Nha trước khi chuyển đến Valencia CF. Tại Valenica, anh tiếp tục giành được Cúp Nhà vua tại mùa giải 2007-08. Năm 2010, Villa trở thành cầu thủ của FC Barcelona với phí chuyển nhượng 40 triệu € nơi anh giành được danh hiệu vô địch La LigaUEFA Champions League. Tháng 7 năm 2013, anh chuyển đến Atlético Madrid.

Villa có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển quốc gia vào năm 2005. Anh đã tham gia hai giải đấu lớn mà đội tuyển Tây Ban Nha đều giành chức vô địch, đó là Euro 2008World Cup 2010. Đặc biệt tại Euro 2008, Villa trở thành vua phá lưới giải đấu này với bốn bàn thắng và danh hiệu Chiếc giày Bạc tại World Cup 2010 với năm bàn. Anh cũng đang giữ kỷ lục là cầu thủ Tây Ban Nha ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển trong lịch sử.[5]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Real Zaragoza[sửa | sửa mã nguồn]

Villa sinh tại Asturias, miền bắc Tây Ban Nha. Anh bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp từ câu lạc bộ địa phương Sporting de Gijón nơi anh có mặt trong đội hình chính từ mùa giải 2000/2001. Mùa giải tiếp theo anh được ra sân thường xuyên và trong 3 mùa giải cho câu lạc bộ này, anh có được hơn 50 bàn thắng. Ấn tượng vì thành tích ghi bàn trên của Villa, câu lạc bộ vừa thăng hạng La Liga, Real Zaragoza đã mua anh vào mùa hè 2003. Ngay mùa giải đầu tiên thi đấu cho Zaragoza, Villa đã ghi 17 bàn. Anh còn đưa Zaragoza đến chức vô địch Cúp Nhà vua Tây Ban Nha khi thắng một câu lạc bộ khác ở La Liga và Valencia quyết định đem Villa về sân Mestalla để tăng cường hàng công khi quyết định chi 12 triệu (tương đương 8.2 triệu £) để có anh vào mùa hè 2005.

Valencia[sửa | sửa mã nguồn]

Tại La Liga 2005-06, Villa ghi 25 bàn trong 35 trận và xếp thứ ba cho danh hiệu vua phá lưới sau Samuel Eto'o của Barcelona. Anh có được hat-trick đầu tiên cho Valencia trong trận gặp Athletic Bilbao vào ngày 23 tháng 4 2006.

Villa lại có một mùa giải tuyệt vời nữa cho Valencia trong mùa bóng 2006/2007 với người cùng anh đá cặp trên hàng công là cựu cầu thủ của Real Madrid Fernando Morientes. Villa và Morientes đã ghi 40 bàn cho Valencia trên mọi mặt trận. Tại vòng 2 UEFA Champions League 2005-06 gặp Inter Milan, Villa ghi 1 bàn thắng tuyệt đẹp từ quả đá phạt trực tiếp đưa Valencia vào tứ kết và thua Chelsea.

Tuy nhiên đến mùa giải 2007-08, Valencia thi đấu cực kì thiếu ổn định. Họ bị loại sớm tại UEFA Champions League 2007-08 và Villa chỉ ghi được một bàn thắng. Tại La Liga, Villa ghi được 18 bàn thắng nhưng Valencia chỉ xếp hạng 10 chung cuộc và suýt nữa đã xuống hạng. Với kết quả này, họ không được tham dự UEFA Champion League mùa bóng sau.

Hai điểm nhấn đáng chú ý trong mùa giải này của Villa là trong trận đấu thứ 100 tại La Liga cho Valencia, Villa đã lập 1 hat-trick vào lưới Levante và 2 bàn thắng trong trận đấu cuối cùng của Valencia tại La Liga 2007/2008 gặp Atletico Madrid giúp anh cho đến nay có 58 bàn cho Valencia và việc cùng các đồng đội tại Valencia giành ngôi vô địch Cúp Nhà vua Tây Ban Nha khi đánh bại Getafe 3-1 trong trận chung kết.[6]

Sau khi trở thành vua phá lưới của Euro 2008, Villa bắt đầu mùa bóng 2008–09 bằng bàn thắng ngay trong trận mở màn với Mallorca.[7] Tháng 10 năm 2008, Kaká đã có lời tán dương Villa khi phát biểu với Canal+, anh khẳng định Villa là "cầu thủ Tây Ban Nha xuất sắc nhất" cũng như "cầu thủ mà anh thích chơi cùng nhất là David Villa của Valencia."[8] Ngày 2 tháng 12, Villa xếp hạng 7 trong cuộc bầu chọn Ballon d'Or năm 2008[9] và vào ngày 12 tháng 1 năm 2009, anh tiếp tục đứng hạng 9 trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA, đồng hạng với người đồng hương tại Barcelona, Andrés Iniesta.[10]

Tháng 3 năm 2009, Villa bị chấn thương đầu gối trái khiến anh phải nghỉ thi đấu trong 15 ngày, vắng mặt trong các trận đấu gặp Numancia, Recreativo de Huelva va Racing de Santander.[11] Khi anh trở lại vào ngày 5 tháng 4, anh lập tức có ngay cú đúp vào lưới Getafe, trong chiến thắng 4-1 của Valencia.[12] Ngày 12 tháng 4, Villa đã trở về sân El Molinón, nơi anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá cùng câu lạc bộ quê hương Sporting de Gijón. Trận đấu còn vài tiếng đồng hồ mới diễn ra, các phóng viên ảnh và quay phim đã đến và cố tìm cho mình những góc quay tốt nhất. Phía ngoài sân El Molinón là băng rôn: “Villa, chúng tôi tự hào về anh”. Những thầy cô giáo đã từng dạy Villa cũng mặc áo có in hình anh. Sân El Molinón 23.000 chỗ ngồi hôm ấy chật kín. Bố mẹ Villa cũng có mặt trong đêm ấy. Trong trận đấu này, Villa đã ghi một bàn thắng từ một quả phạt đền nhưng anh không hề ăn mừng bàn thắng theo những cách quen thuộc mà anh đứng đó, chắp 2 tay lại và cúi đầu xuống như một lời tạ tội. Chung cuộc Valencia thắng 3-2 và trở lại top 4.[13] Bàn thắng thứ 28 trong mùa giải của anh trong trận cuối cùng gặp Athletic Bilbao đã đưa anh ngang bằng kỉ lục ghi bàn trong một mùa giải cho Valencia của tiền đạo người Argentina Mario Kempes và tiền đạo người Montenegro Predrag Mijatovic ở mùa giải 19781996. Kempes có được 28 bàn trong 34 trận trong khi con số của Mijatovic là 40 trận. Riêng Villa đã lập được thành tích ấy trong 33 trận, trung bình 0.84 bàn thắng mỗi trận. Đây có thể xem là mùa giải thành công nhất cho đến nay của Villa cho Valencia.[14] Anh kết thúc mùa giải với vị trí thứ 3 trong danh sách vua phá lưới La Liga, sau Samuel Eto'o (30 bàn) và Diego Forlan (32 bàn).

Sau khi cùng đội tuyển Tây Ban Nha chịu thất bại tại tại Confederations Cup 2009, Villa đã trở lại sau kì nghỉ vào ngày 27 tháng 7. Trong khi đó, xuất hiện hàng loạt tin đồn về việc anh sẽ chuyển đến thi đấu cho Real Madrid,[15] Barcelona,[16] Liverpool,[17] Chelsea[18] and Manchester United.[19] Tuy nhiên, Villa vẫn khẳng định anh sẽ gắn bó cùng đội bóng chủ sân Mestalla cho đến hết hạn hợp đồng.

Ngày 20 tháng 8 năm 2009, Villa ghi bàn thắng chính thức đầu tiên ở mùa giải mới, trong chiến thắng 3-0 của Valencia trước Stabæk tại UEFA Europa League.[20]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2010–11[sửa | sửa mã nguồn]

David Villa trong buổi ra mắt tại Barcelona.

Trong kì chuyển nhượng mùa hè 2010, Villa chuyển đến Barcelona FC với mức giá 40 triệu Euro[21], và được kì vọng làm quên đi Ibrahimović. Anh khoác áo số 7 tại Barcelona, số áo chưa có ai mặc kể từ mùa giải 2008-09, trước đó thuộc về Eiður Guðjohnsen.[22] Anh có trận đầu đầu tiên cho câu lạc bộ mới tại trận đấu lượt về Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha 2010, khi vào sân thay cho Pedro Rodríguez. Trận đấu này cũng đánh dấu danh hiệu đầu tiên của anh cùng câu lạc bộ, sau chiến thắng 5-3 trước Sevilla sau hai lượt đi về, trong đó Lionel Messi lập được hat-trick.[23]

Ngày 29 tháng 8 năm 2010, Villa có trận đầu tiên tại La Liga cho Barcelona trong chiến thắng 3-0 trước Racing de Santander, chính anh là người ghi bàn ấn định tỉ số trận đấu.[24] Ngày 14 tháng 9 năm 2010, Villa có trận ra mắt trong màu áo Barcelona tại Champions League và anh tiếp tục ghi bàn trong chiến thắng 5-1 trước Panathinaikos F.C.[25] Ngay trong trận đấu "El Clásico" đầu tiên mà anh tham gia ngày 29 tháng 11, Villa đã lập một cú đúp trong chiến thắng 5-0 của Barcelona tại Camp Nou.[26]

Ngày 27 tháng 12 năm 2010, Villa được giải "Vận động viên của năm" do Học viện Thể thao Hoa Kỳ trao tặng.[27]

Ngày 29 tháng 5, Villa ghi bàn thắng quyết định trong trận chung kết UEFA Champions League 2011, giúp Barcelona đánh bại đối thủ Manchester United với tỷ số 3-1. Đây cũng là danh hiệu Champions League đầu tiên trong sự nghiệp cầu thủ của anh.[28]

Mùa giải 2011–12[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu chính thức đầu tiên của anh trong mùa giải này là cuộc đối đầu với Real Madrid tại lượt đi Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha 2011, nơi mà Villa đã ghi một bàn thắng đẳng cấp giúp Barcelona cầm hòa 2-2 Real tại sân Santiago Bernabéu,[29] nhưng trong trận lượt về sau đó anh đã bị truất quyền do tranh cãi với Mesut Özil.[30] Ngày 17 tháng 9 năm 2011, Villa đã ghi hai bàn thắng và buộc Rovérsio phải phản lưới nhà trong trận thắng hủy diệt 8-0 của Barcelona.[31]

Villa bị gãy xương ống chân trái trong trận đấu với Al Sadd tại Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2011. Bác sĩ chẩn đoán anh phải nghỉ thi đấu hơn sáu tháng,[32][33] tuy nhiên sau đó chấn thương này khiến anh không thể thi đấu giai đoạn còn lại của mùa giải 2011-12 và thậm chí không thể tham dự Euro 2012 cùng đội tuyển Tây Ban Nha.

Mùa giải 2012–13[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 8 tháng nghỉ thi đấu vì chấn thương, Villa trở lại vào ngày 11 tháng 8 năm 2012 ở phút 73 trong trận đấu giữa Barcelona và Dinamo Bucharest. Tám ngày sau đó, anh trở lại đấu trường La Liga khi vào sân thay cho Pedro. Tuy nhiên chỉ sau đó 7 phút anh đã ghi tên mình lên bàn tỉ số với bàn ấn định chiến thắng 5-1 trước Real Sociedad.[34]

Trong trận đấu vòng 1/16 UEFA Champions League 2012–13 với A.C. Milan, Villa là người đã ghi bàn thắng thứ ba trong chiến thắng 4-0 của Barcelona, giúp đội bóng này lội ngược dòng thành công khoảng cách hai bàn ở trận lượt đi.[35] Đến vòng tứ kết gặp Paris Saint-Germain, Villa kiến thiết cho Pedro ghi bàn gỡ hòa 1-1 ở trận lượt đi. Chung cuộc Barcelona lọt vào bán kết và bị loại bởi Bayern Munich.[36]

Tại Barcelona, Villa đã ghi được 48 bàn thắng trong tổng số 119 trận đấu trên tất cả các giải đấu.[37]

Atlético Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 7 năm 2013, Barcelona tuyên bố đã đạt được thỏa thuận chuyển nhượng Villa đến với Atlético Madrid với giá 5,1 triệu €.[38] Tại Atlético, anh sẽ khoác áo số 9, số áo cũ của Radamel Falcao.[39] Bàn thắng đầu tiên của anh cho Atlético là một cú sút xa từ hơn 20m trong chiến thắng 2-0 trước UD Las Palmas Ở trận giao hữu trước mùa giải.[40] Ngày 21 tháng 8 năm 2013, anh có bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ mới bằng bàn thắng vào lưới chính câu lạc bộ cũ Barcelona trong trận lượt đi Siêu cúp Tây Ban Nha 2013 kết thúc với tỉ số hòa 1-1.[41] Sau hai bàn thắng vào lưới Real Sociedad và Almería, Villa trải qua 40 ngày không thể ghi bàn cho Atlético dù được ra sân thường xuyên.[42] Đến ngày 27 tháng 10, anh chấm dứt cơn khát bàn thắng vào cú đúp trong chiến thắng 5-0 trước Real Betis.[43]

Ngày 8 tháng 3 năm 2014, anh lập cú đúp trong chiến thắng 2-0 trước Celta de Vigo, giúp Atlético trở lại vị trí thứ hai tại La Liga.[44]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Villa có trận đầu tiên cho đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha vào ngày 9 tháng 2 năm 2005 trong trận gặp San Marino tại Estadio del Mediterráneo. Bàn thắng đầu tiên của anh cho đội tuyển là pha ghi bàn gỡ hòa 1-1 tại Vòng loại World Cup 2006 với Slovakia.[45]

World Cup 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Villa có tên trong danh sách 23 cầu thủ Tây Ban Nha dự World Cup 2006 tổ chức tại Đức và ngay trong trận đầu tiên gặp Ukraina anh đã có hai bàn thắng trong đó có một bàn từ đá phạt trực tiếp.[46] Bàn thắng thứ 3 và cũng là cuối cùng của anh tại giải ghi vào lưới đội tuyển Pháp trong trận Tây Ban Nha thua Pháp 3-1 ở vòng 1/16 và sớm phải rời giải.[47] Anh và đồng đội Fernando Torres là những người ghi nhiều bàn thắng nhất cho Tây Ban Nha tại World Cup 2006 với 3 bàn thắng.[48]

Sau World Cup 2006, Villa tiếp tục là sự lựa chọn hàng đầu trên hàng công đội tuyển Tây Ban Nha tại vòng loại Euro 2008. Suốt vòng loại, anh đã ghi được 6 bàn và cũng là người ghi nhiều bàn thắng nhất ở vòng loại cho đội tuyển Tây Ban Nha. Anh còn ghi bàn trong trận giao hữu gặp đội tuyển Ý vào ngày 26 tháng 3 năm 2008[49] và chính thức có tên trong 23 cầu thủ dự Euro 2008 của huấn luyện viên Luis Aragones.

Euro 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận đấu đầu tiên với đội tuyển Nga vào ngày 10 tháng 6 năm 2008, David Villa đã lập hat-trick đầu tiên của Euro 2008 và là cầu thủ thứ 7 qua các kì Euro làm được điều này để giúp Tây Ban Nha thắng đội tuyển Nga 4-1.[50] Ngoài ra anh còn giành luôn danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu Tây Ban Nha - Nga.[51]

Trận thứ hai gặp Thụy Điển vào ngày 14 tháng 6, Villa ghi bàn thắng ấn định tỉ số 2-1 cho Tây Ban Nha ở phút 92 của trận đấu.[52] Bàn thắng này cũng giúp anh lần thứ 2 liên tiếp nhận danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.[51]

Vào vòng tứ kết Euro 2008, Tây Ban Nha gặp đội nhì bảng C, đội tuyển Ý. Trận đấu Ý - Tây Ban Nha diễn ra trong thế trận thận trọng của cả đôi bên và cả Villa cùng Torres gặp phải đội hình phòng thủ nhiều tầng của đội tuyển Ý nên đã không thể ghi bàn và trận đấu kết thúc với tỉ số 0-0 sau 120 phút thi đấu. Trong loạt sút luân lưu, Villa đã thực hiện thành công loạt sút thứ nhất và chung cuộc Tây Ban Nha thắng Ý 4-2 trong loạt sút luân lưu và giành quyền vào bán kết gặp lại đội tuyển Nga.[53]

Tại trận gặp Nga ở bán kết, Villa không ghi được bàn thắng nào và phải rời sân vì chấn thương ngay trong hiệp 1. Với chấn thương này, anh còn không thể tham gia trận chung kết Euro 2008 gặp đội tuyển Đức vào ngày 20 tháng 6. Trong trận chung kết, Tây Ban Nha đã giành thắng lợi 1-0 với bàn thắng của Fernando Torres để lần thứ hai đăng quang ngôi vô địch Euro. Cùng lúc đó, Lukas Podolski của Đức không ghi bàn trong trận chung kết nên David Villa cũng giành luôn danh hiệu Vua phá lưới Euro 2008 với 4 bàn thắng.[54] Anh cùng với người đồng đội Torres có tên trong Đội hình tiêu biểu của giải đấu này.[55]

Confederations Cup 2009 và vòng loại World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Tây Ban Nha tại Vòng loại World Cup 2010 gặp Bosnia và Herzegovina, Villa chính là người ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu. Anh tiếp tục ghi bốn bàn trong ba trận tiếp theo, trong đó có bàn thắng ở phút cuối trận gặp Bỉ và sau đó là bàn thắng vào lưới Chile, giúp anh kết thúc năm 2008 với 12 bàn thắng cho đội tuyển Tây Ban Nha, vượt qua kỷ lục cũ 10 bàn do Raúl lập vào năm 1999.[56] Villa bắt đầu năm 2009 với bàn thắng trong trận giao hữu thắng đội tuyển Anh 2–0.[57] Bàn thắng này cũng giúp cho Villa lập được một kỷ lục khác, đó là cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên ghi bàn trong sáu trận liên tiếp cho đội tuyển khác, vượt qua thành tích cũ của Telmo ZarraLadislao Kubala.[58]

Villa (mang áo số 7) trong trận đấu giữa Tây Ban Nha và Áo.

Ngày 1 tháng 6 năm 2009, Villa được triệu tập tham dự FIFA Confederations Cup 2009 tại Nam Phi.[59] Trong trận giao hữu trước giải, Villa đã lập hat-trick thứ hai trong màu áo đội tuyển vào lưới Azerbaijan, gần một năm sau hat-trick đầu tiên với Nga tại Euro 2008.[60] Anh ghi bàn ngay trận đấu đầu tiên của Tây Ban Nha tại giải đấu ghi ấn định chiến thắng 5-0 trước New Zealand[61], và trong trận đấu tiếp thaeo anh tiếp tục ghi bàn giúp Tây Ban Nha thắng nhà vô địch Châu Á Iraq.[62] Đến trận gặp chủ nhà Nam Phi, anh bỏ lỡ một quả phạt đền nhưng ghi bàn ngay sau đó để giúp Tây Ban Nha dẫn trước.[63] Với ba bàn thắng, Villa giành được danh hiệu Chiếc giày Đồng của giải đấu, đồng thời được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải đấu.[64]

Villa có trận đấu thứ 50 cho đội tuyển Tây Ban Nha trong trận thắng 3-2 của Tây Ban Nha trước Macedonia.[65] Ngày 5 tháng 9 năm 2009, Villa ghi hai bàn, đồng thời kiến tạo cho đồng đội ghi hai bàn nữa trong chiến thắng đội tuyển Bỉ 5-0 tại A Coruña.[66] Anh kết thúc năm 2009 bằng cú đúp vào lưới đội tuyển Áo, giúp anh cân bằng kỷ lục ghi bàn trong một năm của chính mình lập vào năm trước.[67] Villa lại ghi bàn ngay trong trận đấu đầu tiên của Tây Ban Nha năm 2010 gặp đội tuyển Pháp ngay tại Stade de France.[68]

World Cup 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu đầu tiên của đội tuyển Tây Ban Nha tại World Cup 2010, Villa được chọn làm tiền đạo cắm duy nhất, nhưng anh đã không thể làm bất cứ điều gì để giúp Tây Ban Nha khỏi trận thua đầy bất ngờ trước đội tuyển Thụy Sĩ.[69] Năm ngày sau, đội tuyển Tây Ban Nha đã đánh bại đội tuyển Honduras với cú đúp của anh, giúp anh trở thành cầu thủ Tây Ban Nha thứ năm ghi được 5 bàn thắng tại World Cup. Tuy nhiên, anh đã bỏ qua cơ hội lập riêng hat-trick cho mình khi sút hỏng quả penalty, do đó cũng trở thành cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên đá hỏng một quả penalty ở World Cup.[70]

Villa giúp Tây Ban Nha giành suất vào vòng đấu loại trực tiếp khi ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 2-1 trước Chile.[71] Bàn thắng này giúp anh trở thành cầu thủ Tây Ban Nha ghi nhiều bàn thắng nhất qua các kỳ World Cup, phá vỡ kỷ lục cũ 5 bàn thắng của Emilio Butragueño, Fernando Hierro, Fernando MorientesRaúl González.[72]

David Villa (số 7) ăn mừng bàn thắng vào lưới Bồ Đào Nha tại World Cup 2010 cùng với các đồng đội Fernando LlorenteAndrés Iniesta.

Đến trận đấu vòng 1/16 với Bồ Đào Nha, Villa tiếp tục trở thành người hùng cho Tây Ban Nha khi ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu.[73] Trong trận tứ kết với Paraguay, bàn thắng ở phút 83 của anh đã chính thức đưa Tây Ban Nha vào bán kết gặp đội tuyển Đức.[74]

David Villa kết thúc World Cup 2010 với 5 bàn thắng sau khi không ghi bàn ở trận bán kết và chung kết, tuy nhiên anh đã góp công lớn đưa Tây Ban Nha lần đầu đăng quang ngôi vô địch thế giới. Kết thúc giải đấu anh giành danh hiệu Quả bóng đồngChiếc giày bạc (có cùng số bàn thắng với Thomas Müller của Đức nhưng Müller có số kiến tạo thành bàn nhiều hơn).[75]

Vòng loại Euro 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận đấu đầu tiên của Tây Ban Nha tại Vòng loại Euro 2012 với Liechtenstein ngày 3 tháng 9 năm 2010, Villa đã một bàn thắng. Bàn thắng này tưởng đã cân bằng kỷ lục ghi bàn tại tuyển Tây Ban Nha của Raúl, tuy nhiên do FIFA xác định bàn thắng trong chiến thắng 6-0 của Tây Ban Nha trước Ba Lan thực chất là do Dariusz Dudka phản lưới nhà, do đó số bàn thắng của anh vẫn là 43.[76] Ngày 12 tháng 10 năm 2010, anh đã cân bằng kỷ lục của Raúl với bàn thắng của anh trong chiến thắng 3-2 trước Scotland tại Hampden Park.

Villa chính thức phá vỡ kỷ lục ghi bàn tại đội tuyển quốc gia của Raúl ngày 25 tháng 3 năm 2011, khi ghi cú đúp trong chiến thắng 2-1 trước Cộng hòa Séc.[77]

Ngày 7 tháng 9 năm 2011, Villa lập cú đúp trong chiến thắng 6-0 trước Liechtenstein.[78] Anh kết thúc vòng loại Euro 2012 với bàn thắng thứ 50 trong màu áo đội tuyển quốc gia trong trận đấu với Scotland. Đây cũng là trận đấu đầu tiên Villa mang băng đội trưởng Tây Ban Nha.[79] Villa có tổng cộng 7 bàn thắng tại vòng loại Euro 2012, tuy nhiên do chấn thương khi thi đấu cho Barcelona, anh đã không thể tham dự Euro 2012.

Confederation Cup 2013 và vòng loại World Cup 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Tây Ban Nha vô địch Euro 2012, David Villa trở lại đội tuyển trong trận giao hữu với Ả Rập Saudi và ghi bàn chỉ 10 phút sau đó.[80]

Ngày 3 tháng 6 năm 2013, Vicente Del Bosque đã đưa Villa vào danh sách đội tuyển Tây Ban Nha tham dự Confederations Cup 2013.[81] Tại giải đấu này, anh đã ghi ba bàn trong chiến thắng 10-0 trước Tahiti.[82]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải vô địch bóng đá châu Âu: 2008
  • Giải vô địch bóng đá thế giới: 2010

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Real Zaragoza
Valencia
Barcelona

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa bóng Giải ngoại hạng Cúp quốc gia[83] Cúp Châu Âu[84] Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết
Sporting Gijón B 1999–2000 30 12 0 30 12
2000–01 35 13 0 35 13
Tổng cộng 65 25 0 0 0 0 0 0 0 65 25
Sporting Gijón 2000–01 1 0 0 1 0
2001–02 40 18 0 4 2 0 44 20
2002–03 39 20 0 1 0 0 40 20
Tổng cộng 80 38 0 5 2 0 0 0 0 85 40
Zaragoza 2003–04 38 17 6 8 4 1 46 21 7
2004–05 35 15 5 1 2 0 10 3 2 46 20 7
Tổng cộng 73 32 11 9 6 1 10 3 2 92 41 14
Valencia 2005–06 35 25 8 4 2 0 1 1 0 40 28 8
2006–07 36 15 12 2 0 2 11 5 3 49 20 17
2007–08]] 30 18 7 6 1 2 7 3 2 43 22 11
2008–09 33 28 6 2 1 0 5 1 1 40 30 7
2009–10 32 21 5 2 0 1 11 7 4 45 28 10
Tổng cộng 166 107 38 16 4 5 35 17 10 217 128 53
Barcelona 2010–11 34 18 7 6 1 0 12 4 2 52 23 9
2011–12 15 5 1 3 1 0 6 3 1 24 9 2
2012–13 28 10 5 5 5 0 7 1 1 40 16 6
Tổng cộng 77 33 13 14 7 0 25 8 4 116 48 17
Tổng cộng sự nghiệp 461 235 62 44 19 6 70 28 16 575 282 84

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 20 tháng 6, 2013.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “David Villa”. UEFA. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ “Biography for David Villa”. 
  3. ^ http://www.rae.es/guaje
  4. ^ “David Villa sold to Barcelona”. Times LIVE. 19 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ “El Guaje has now overtaken Raul's 44-goal tally...”. Goal.com. 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2011. 
  6. ^ Valencia lần thứ 7 lên ngôi vô địch cúp nhà vua
  7. ^ “Che star commits future”. Club Call. 13 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2009. 
  8. ^ “David Villa Official Website - Potential and Safety”. David Villa Official Website. © 2008. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ “Ronaldo scoops best player award”. BBC Sport. 2 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2009. 
  10. ^ “FIFA World Player of the Year - Women's votes by player” (PDF). FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). 12 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2009. 
  11. ^ Valencia Without David Villa For Two Weeks
  12. ^ Valencia - Getafe: Tìm lại niềm tin
  13. ^ David Villa và khoảnh khắc trở lại mái nhà xưa
  14. ^ “Villa: "No creo que haya sido mi último partido con el Valencia"”. MARCA.com. 30 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2009.  (tiếng Tây Ban Nha)
  15. ^ Lucas Brown (11 tháng 6 năm 2009). “David Villa Will Sign For Real Madrid - Chelsea's Chief Spanish Scout”. goal.com. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  16. ^ Lucas Brown (2 tháng 7 năm 2009). “I Want To Join Barcelona - David Villa”. goal.com. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  17. ^ Jamie Dunn (1 tháng 8 năm 2009). “Liverpool To Tempt David Villa Away From Valencia – Report”. goal.com. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  18. ^ Lucas Brown (10 tháng 6 năm 2009). “Chelsea Ahead Of Real Madrid In David Villa Race – Report”. goal.com. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2009. 
  19. ^ David Anderson (5 tháng 8 năm 2009). “Manchester United to swoop for Valencia duo David Silva and David Villa”. Mirror. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  20. ^ “Stabaek 0 - 3 Valencia”. ESPN Soccernet. 20 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  21. ^ “Barca agree Villa move with Valencia”. Trang web chính thức FC Barcelona. 19 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010. 
  22. ^ “Thousands flock to see Villa”. Fcbarcelona.cat. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012. 
  23. ^ “Barcelona 4–0 Sevilla: Brilliant Blaugrana Outclass the Rojiblancos to Lift the Super Cup”. Goal.cm. 21 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2009. 
  24. ^ “Racing 0–3 Barcelona: The Catalan Train Rolls On”. Goal.com. 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  25. ^ “Barcelona 5–1 Panathinaikos: Unstoppable Lionel Messi Fires Blaugrana To Comfortable Home Win”. Goal.com. 14 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  26. ^ “Barcelona 5–0 Real Madrid – Exquisite Barca crush Real”. ESPN. 29 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2010. 
  27. ^ “Spain Reigns as Villa Edges Nadal on the Male Side; Korean Ices Female Side in Athlete of the Year”. ussa.edu. 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2010. 
  28. ^ “Barcelona 3-1 Manchester United: Messi & David Villa secure Champions League triumph on magical night at Wembley”. Goal.com. 29 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  29. ^ “Real Madrid 2–2 Barcelona: Hosts dominate in Supercopa stalemate”. Goal.com. 14 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  30. ^ “Barcelona 3–2 Real Madrid (Agg. 5–4): Lionel Messi brace wins Supercopa amid violent scenes at Camp Nou”. Goal.com. 17 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2012. 
  31. ^ “Barcelona 8 – 0 Osasuna – Messi nets three as Barca bounce back”. ESPN. 17 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2013. 
  32. ^ McCauley, Kevin (15 tháng 12 năm 2011). “Barcelona Striker Suffers Leg Break in Club World Cup Match”. The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2011. 
  33. ^ “Barca hit by Villa leg break blow”. ESPN Soccernet. 15 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2011. 
  34. ^ FC Barcelona – Real Sociedad: Dream start (5–1)
  35. ^ “Barcelona 4–0 AC Milan”. BBC Sport. 12 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  36. ^ “Barcelona 1–1 Paris SG”. BBC Sport. 6 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  37. ^ “Barcelona agree deal with Atletico Madrid for David Villa”. Goal.com. 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  38. ^ “Club reach deal in principal to sell David Villa to Atletico Madrid”. FC Barcelona. 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2010. 
  39. ^ “David Villa mặc số áo của Falcao ở Atletico Madrid”. Thể thao & Văn hóa. 14 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  40. ^ “Wish you’d tried harder, Arsenal and Spurs? Villa delivers perfect reminder of his talent with stunning goal on Atletico debut”. Mail Online. 12 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2013. 
  41. ^ “Atletico Madrid 1-1 Barcelona: Neymar denies hosts victory”. Goal.com. 21 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  42. ^ “David Villa và 40 ngày lạc trong sa mạc”. Bongda.com.vn. 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  43. ^ “David Villa lại ghi bàn: Hãy để 'El Guaje' luôn là chính anh”. Thể thao và Văn hóa. 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  44. ^ “Celta 0-2 Atletico: Villa lập cú đúp, Atletico trở lại ngôi nhì bảng”. Bóng Đá +. 9 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  45. ^ “Eslovaquia 1–1 España” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Sportec.es. 16 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  46. ^ “Spain 4-0 Ukraine”. BBC Sport. 14 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2014. 
  47. ^ “Spain 1–3 France”. BBC Sport. 27 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  48. ^ “World Cup 2006 – Match Details”. RSSSF. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2009. 
  49. ^ http://www3.tuoitre.com.vn/EURO2008/Index.aspx?ArticleID=249684&ChannelID=267 Đội tuyển Ý bị hạ gục bởi Villa
  50. ^ “Villa stars as Spain signal their intent”. UEFA. 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009. 
  51. ^ a ă “"Cầu thủ xuất sắc nhất trận": Những tiêu chí bầu chọn đáng ngờ”. Thể thao & Văn hóa. 30 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009. 
  52. ^ “Thuỵ Điển-Tây Ban Nha 1-2: Thần tài Villa!”. Thể thao & Văn hóa. 14 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009. 
  53. ^ McNulty, Phil (22 tháng 6 năm 2008). “Spain 0–0 Italy (4–2 pens)”. BBC Sport. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2008. 
  54. ^ “adidas Golden Boot goes to Villa”. UEFA. 9 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  55. ^ “Spain dominate Team of the Tournament”. UEFA. 30 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008. 
  56. ^ “Villa, mejor goleador de la selección en un año natural” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Marca. 20 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  57. ^ Chris Burton (12 tháng 2 năm 2009). “Spain tame Three Lions”. Sky Sports. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  58. ^ KS Leong (12 tháng 2 năm 2009). “Spain Hotshot David Villa Delighted With Goal Against England”. goal.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  59. ^ “Spain unveils Confederations Cup roster”. CBC.ca. 1 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009. 
  60. ^ “Villa hits treble as Spain warm up in style”. ESPN Soccernet. 2009-06-66. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2009. 
  61. ^ Ewan Macdonald (14 tháng 6 năm 2009). “Spain Stroll Past Hopeless New Zealand”. goal.com. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  62. ^ “Spain – Iraq”. UEFA. 17 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  63. ^ “Spain – South Africa”. UEFA. 20 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  64. ^ “Users pick Top 11”. UEFA. 30 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2009. 
  65. ^ “Macedonia 2 – 3 Spain”. ESPN Soccernet. 12 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009. 
  66. ^ “Spain 5 – 0 Belgium – Silva, Villa grab doubles as Spain stay clear”. ESPN Soccernet. 5 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009. 
  67. ^ “David Villa está cada día más cerca del récord de Raúl con la selección”. MARCA.com. 18 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2009.  (tiếng Tây Ban Nha)
  68. ^ “France 0 – 2 Spain: Villa and Ramos punish Domenech”. ESPN. 3 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2010. 
  69. ^ “Spain 0 – 1 Switzerland – Fernandes stuns favourites Spain”. ESPN. 16 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  70. ^ “Bên lề: Lần đầu tiên đá hỏng penalty”. Thể thao & Văn hóa. 23 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012. 
  71. ^ “Chile 1 – 2 Spain – Iniesta claims top spot for Spain”. ESPN. 25 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010. 
  72. ^ “Villa ya es el máximo goleador de España en los Mundiales con seis tantos”. Marca. 25 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010.  (tiếng Tây Ban Nha)
  73. ^ “Villa tỏa sáng, Tây Ban Nha vượt ải Bồ Đào Nha”. Dân trí. 30 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012. 
  74. ^ “Paraguay 0 – 1 Spain – Villa saves Spain after penalty drama”. ESPN. 3 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2010. 
  75. ^ “Forlan ngoạn mục giành Quả bóng vàng World Cup 2010”. Thể thao & Văn hóa. 12 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012. 
  76. ^ “Liechtenstein 0–4 Spain: David Villa Equals Raul's Record 44-Goal Tally As La Furia Roja Dismantle Hosts”. Goal.com. 3 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2010. 
  77. ^ “Villa đi vào lịch sử, Tây Ban Nha đánh bại CH Séc”. Dân Trí. 26 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  78. ^ “Spain 6 – 0 Liechtenstein – Spain cruise into Euro 2012 finals”. ESPN. 7 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011. 
  79. ^ “Spain 3–1 Scotland: Silva inspires world champions to 100 per cent record in Group I as visitors are denied play-off place”. goal.com. 11 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  80. ^ “Spain 5 – 0 Saudi Arabia”. ESPN FC. 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  81. ^ “Confederations Cup: Xabi Alonso out for Spain through injury”. BBC Sport. 3 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013. 
  82. ^ “David Villa 2012/13”. Soccernet.espn.go.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012. 
  83. ^ Bao gồm Cúp Nhà vua Tây Ban NhaSiêu cúp bóng đá Tây Ban Nha.
  84. ^ Bao gồm Cúp UEFA Intertoto, Cúp UEFAUEFA Champions League.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]