Andrea Pirlo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Andrea Pirlo
Andrea Pirlo in Juventus - 2.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Andrea Pirlo
Ngày sinh 19 tháng 5, 1979 (35 tuổi)
Nơi sinh Flero, Lombardy, Ý
Chiều cao 1,77 m (5 ft 9 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Juventus
Số áo 21
CLB trẻ
1994–1995 Brescia
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1995–1998 Brescia 47 (6)
1998–2001 Internazionale 22 (0)
1999–2000 Reggina (loan) 28 (6)
2001 Brescia (loan) 10 (0)
2001–2011 Milan 284 (32)
2011– Juventus 37 (3)
Đội tuyển quốc gia
1998–2002 Italy U-21 37 (15)
2000–2004 Olympic Ý 9 (1)
2002– Ý 89 (10)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 13 May 2012.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 18:47, 1 July 2012 (UTC)

Andrea Pirlo, Ufficiale OMRI[1][2] (sinh 19 tháng 5 năm 1979), là một nhà vô địch bóng đá thế giới người Ý đang chơi tại Serie A trong màu áo câu lạc bộ Juventusđội tuyển Ý. Anh được xếp chơi như một Tiền vệ kiến thiết từ tuyến dưới tại cả Juventus và tuyển Ý và được coi là người chơi tốt nhất ở vị trí này hiện nay.[3] Với khả năng chuyền bóng và sút xa, anh còn là một chuyên gia sút phạt hàng đầu.[4]

Pirlo đã chơi cho tuyển U-15, U-18 và U-21 Ý, đeo băng đội trưởng và dẫn dắt đội tuyển vô địch tại giải vô địch bóng đá U-21 Châu Âu năm 2000 và đoạt danh hiệu Cầu thủ vàng cũng như Vua Phá Lưới tại giải đó. Anh cùng tuyển quốc gia Ý đá vòng loại World Cup 2002, sau đó đưa đội Olympic Ý đoạt huy chương đồng tại Olympics 2004. Sau đó, anh là một nhân vật chủ chốt trong chức vô địch tại World Cup 2006 của Ý. Tại giải này, anh được 3 lần bầu chọn làm cầu thủ xuất sắc nhất trận trong đó có trận chung kết, nhiều hơn bất cứ ai khác. Kết thúc giải, anh được trao danh hiệu Quả bóng đồng.

Ở cấp câu lạc bộ, anh thật sự tỏa sáng từ khi về chơi cho A.C. Milan. Cùng với đội bóng này, anh giành hai danh hiệu UEFA Champions League (2003 và 2007), hai Siêu cúp châu Âu (2003 và 2007), hai chức vô địch Serie A (2004 và 2011), một Siêu cúp Ý (2004) và Coppa Italia vào năm 2003. Năm 2012, anh chuyển sang câu lạc bộ khác cũng tại giải Serie A là Juventus, dưới dạng chuyển nhượng sau đó đoạt chức vô địch Serie A mùa bóng 2011-2012.

Về danh hiệu cá nhân, anh đã từng về thứ ba và thứ hai trong cuộc bầu chọn Cầu thủ kiến tạo bóng của năm 2006 và 2007 do IFFHS tổ chức.[5][5] Anh được mệnh danh là "Kiến trúc sư" với những đường chuyền dài chính xác tạo nên bàn thắng cho đồng đội.[6]

Cấp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Pirlo sinh tại Flero, Lombardy, Ý. Anh trai của anh từng chơi cho Brescia tại giải Serie C. Anh bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp ở câu lạc bộ Brescia trong trận đấu với Reggina. Sau một thời gian được đưa lên đội hình chính thức của Brescia, anh được huấn luyện viên Mircea Lucescu của câu lạc bộ Internazionale để mắt và sau đó gia nhập Internazionale chơi ở vị trí cầu thủ kiến thiết. Pirlo không hợp với vị trí này, cùng với việc tuyển Internazional kết thúc mùa giải 1998–99 ở vị trí thứ 8, anh được chuyển sang Reggina dưới dạng hợp đồng cho mượn. Sau một mùa giải chơi tốt, anh được gọi trở lại Internazional nhưng tiếp tục chơi mờ nhạt, anh lại được Internazionale cho Brescia mượn trong nửa cuối mùa giải.

Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 3 mùa bóng không thể hiện được nhiều với Internazionale, Pirlo chính thức được bán sang câu lạc bộ kình địch AC Milan với giá 35 tỷ lire Ý[7] (khoảng 18 triệu Euro. Cuộc chuyển nhượng còn kèm theo việc trao đổi Cristian Brocchi lấy Guly; Paolo Ginestra lấy Matteo Bogani.[8][9]

Andrea Pirlo làm nóng trước trận đấu giữa AC MilanFiorentina

Tại Milan, Pirlo đã tìm được hướng phát triển của mình để trở thành cầu thủ đẳng cấp thế giới ở vai trò tiền vệ thu hồi và kiến thiết bóng từ tuyến dưới. Với câu lạc bộ này, anh giành hai danh hiệu vô địch Serie A và hai chức vô địch Champions League. Bên cạnh đó anh còn đoạt hai Italian Cup và hai Siêu cúp châu Âu với Milan vào các năm 2003, 2007. Kỉ niệm khó phai nhất của anh trong giai đoạn này, là cú sút Penalty hỏng (bị thủ môn Jerzy Dudek cản phá) tại trận chung kết Champions League năm 2005, qua đó gián tiếp để Liverpool lên ngôi vô địch trong một trận lội ngược dòng ngoạn mục.[10]

Pirlo, ban đầu đã chơi như một tiền vệ công dưới thời huấn luyện viên Carlo Mazzone để hỗ trợ cho Roberto Baggio tại Brescia. Đến khi sang AC Milan, dưới sự bố trí của huấn luyện viên Carlo Ancelotti, Pirlo chuyển xuống tuyến dưới ngang hàng với tiền vệ phòng ngự Gennaro Gattuso với nhiệm vụ thu hồi bóng để phát động tấn công, anh làm tốt công việc điều khiển lối chơi toàn đội đến mức được tặng cho biệt danh "Nhạc trưởng" (tiếng Ý: Maestro).[11] Anh dẫn đầu Serie A mùa bóng 2002–03 ở bốn thống kê đặc biệt: cầu thủ chuyền nhiều nhất (2589 đường chuyền), cầu thủ giữ bóng nhiều nhất (123 giờ và 39 phút), cầu thủ giành bóng được nhiều nhất (661 lần), và chuyền thành công nhiều nhất (2093 đường). Trung bình anh chuyền chính xác 90 đường chuyền 1 trận. Tại mùa bóng 2006-2007, anh là cầu thủ chơi nhiều nhất cho Milan với tổng cộng 2782 phút. Vào tháng 10 năm 2007, anh được FIFA đề cử cho danh hiệu Cầu thủ của năm (cuối cùng người đồng đội tại AC Milan, Kaká đã giành danh hiệu này). Sau khi Kaká và huấn luyện viên Carlo Ancelotti rời Milan vào mùa hè 2009, Chelsea ngỏ ý muốn mua Pirlo với giá 12 triệu đôla cộng với cầu thủ Claudio Pizarro. AC Milan từ chối điều đó. [cần dẫn nguồn] Vào ngày 5 tháng 8, chủ câu lạc bộ là ông Silvio Berlusconi khẳng định Pirlo không phải để bán, và muốn anh ở lại Milan cho đến cuối sự nghiệp.[12] Ngày 21 tháng 10 năm 2009, Pirlo đã ghi một bàn thắng tuyệt đẹp vào lưới Real Madrid từ khoảng cách 30 mét, trong trận đấu mà AC Milan đã thắng với tỉ số 3-2.[13]

Trong trận đấu với Genoa vào ngày 25 tháng 9 năm 2010, Pirlo đã thực hiện một đường kiến tạo tinh tế vào vòng cấm địa giúp Zlatan Ibrahimovic hòn toàn thoải mái để đưa bóng vào lưới.[14] Ngày 2 tháng 10 cùng năm, Pirlo ghi một bàn từ khoảng cách 40 yard vào lưới Parma để đưa Milan về vị trí số 1 mùa bóng.[15] Ngày 14 tháng 5 năm 2011, Pirlo ra sân lần cuối cùng trong màu áo AC Milan. Trận này anh vào sân từ ghế dự bị trong hiệp 2 thay cho Massimo Ambrosini và cùng câu lạc bộ ăn mừng chức vô địch Serie A mùa giải 2010-2011 với trận thắng đậm đà 4-1 trước Cagliari.[16] Bốn ngày sau đó, Pirlo xác nhận anh sẽ rời AC Milan khi mùa giải kết thúc, sau khi phía anh và AC Milan đã không thỏa thuận được hợp đồng mới.[17] Trong mùa giải cuối cùng tại Milan, Pirlo chỉ ra sân 17 trận, không ghi được bàn và có 3 đường chuyền thành bàn..[18]

Friendly match against América in New York City

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa bóng 2011, Pirlo gia nhập Juventus dưới dạng chuyển nhượng tự do và kí hợp đồng với câu lạc bộ này đến năm 2014.[19] Anh ra mắt lần đầu trong màu áo Juventus tại trận giao hữu với Sporting Clube de Portugal, trận mà Juventus đã để thua 2–1. Trận đấu chính thức đầu tiên của anh với "Bà Đầm Già" là trận mở màn Serie A mùa bóng 2011-2012 với Parma trên sân nhà, kết quả thắng 4-1. Trận này anh đã có 2 đường chuyền quyết định mang lại bàn thắng cho Stephan LichtsteinerClaudio Marchisio.[20][21] Antonio Conte đã bố trí Pirlo chơi bên cạnh Marchisio và Arturo Vidal trong đội hình có 3 tiền vệ.

Bàn thắng đầu tiên của anh cho Juventus là một pha sút phạt trực tiếp trong trận thắng 3-1 trước Catania vào ngày 18 tháng 2 năm 2012, giúp Juventus lấy lại ngôi đầu bảng từ tay AC Milan – đội bóng cũ của anh.[22]

Anh kết thúc mùa giải thành công với chức vô địch Serie A 2011-2012 sau khi giúp "Bà Đầm Già" chiến thắng Cagliari Calcio với tỉ số 2-0,[23]. Chung cuộc, anh là cầu thủ có nhiều đường chuyền thành bàn nhất giải với 13 đường chuyền[24] Pirlo được đưa vào đội hình xuất sắc nhất Serie A mùa bóng đó. Báo chí mô tả là anh đang lấy lại phong độ đỉnh cao đã từng thể hiện trong màu áo AC Milan.[25] Pirlo cũng cùng Juventus xếp thứ 2 sau S.S.C. Napoli tại giải Coppa Italia.[26]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Andrea Pirlo trong màu áo Ý, trận gặp Anh tại bán kết Euro 2012

Pirlo là nhà lãnh đạo thầm lặng, anh phát ngôn bằng đôi chân.

Marcello Lippi

Chuyền bóng cho Pirlo cũng như giấu nó vào chỗ an toàn.

Zbigniew Boniek

Anh ấy có phải cầu thủ giỏi nhất trong thời đại của mình? Chưa chắc. Nhưng là quan trọng nhất.

Zbigniew BoniekMichael Cox[27]

Pirlo mang băng đội trưởng tuyển U-21 Ý tại giải Vô địch U-21 châu Âu năm 2000 (mang áo số 10 và đoạt danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải) và vào tới bán kết giải này năm 2002. Pirlo chơi cho tuyển quốc gia Ý từ Olympics 2000, sau đó đoạt huy chương đồng tại Olympics 2004.

World Cup 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Pirlo là một thành viên trong tuyển quốc gia Ý tham dự World Cup 2006.[28] Trong trận ra quân của Ý tại giải này, Pirlo ghi bàn mở tỉ số trận trước Ghana, và kiến thiết một đường bóng cho Vincenzo Iaquinta ấn định chiến thắng 2–0, sau đó anh được bầu làm "Cầu thủ của trận đấu".[29] Ở trận tiếp theo, anh kiến tạo cho Alberto Gilardino thực hiện một pha đánh đầu thành bàn cho Ý trong trận hòa 1-1 với tuyển Mỹ.[30]

Đến trận bán kết với Đức, anh lại có đường kiến tạo mang lại bàn mở tỉ số cho Ý, Ý thắng 2-0 chung cuộc và Pirlo lại được bầu làm "Cầu thủ của trận".[31] Đến trận chung kết với Pháp, cú sút phạt góc của anh đã đưa bóng tới đầu Marco Materazzi, giúp cầu thủ này cân bằng tỉ số 1-1, 10 phút sau khi Pháp có bàn thắng mở màn của Zidane. Trận đấu đi đến loạt sút luân lưu, Pirlo đã hoàn thành nhiệm vụ ghi bàn mở màn của loạt sút này[32][33] và lần thứ 3 được bầu làm cầu thủ chơi hay nhất trận. Kết thúc giải, anh xếp thứ 3 trong danh sách cầu thủ tiêu biểu của mùa giải, đoạt quả bóng Đồng và là cầu thủ kiến thiết bóng tốt nhất.[34]

Sau World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 7 năm 2008, Pirlo ghi bàn từ chấm phạt đền giúp Ý đánh bại Pháp tại vòng bảng Euro 2008.[35] Ý sau đó thua Tây Ban Nha sau loạt sút luân lưu tại bán kết, đội mà sau đó đã lên ngôi vô địch.[36]

Tại World Cup 2010, Pirlo dính chấn thương nên đã không đá hai trận đầu của Ý tại vòng bảng.[37] Anh trở lại ở những phút cuối trận đấu với Slovakia, tuy rằng đã giúp đội chơi khá hơn ở những phút này, nhưng Ý vẫn thua 3-2 trước Slovakia và bị loại khỏi giải.[38]

Euro 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Pirlo đá 9 trận tại vòng đấu loại Euro 2012 ở Ba Lan và Ukraina[39], ghi 1 bàn thắng trong trận thắng 5-0 của Ý trước Đảo Faroe vào ngày 7 tháng 11 năm 2010.[40]

Với những màn trình diễn tốt tại Juventus, Pirlo được huấn luyện viên Ý bấy giờ là Cesare Prandelli trọng dụng.[41][42] Trong trận mở màn của Ý tại vòng loại Euro 2012, Pirlo có một pha căng ngang giúp đồng đội Antonio di Natale hạ gục thủ thành Cassillas trong trận hòa 1–1 với đương kim vô địch Châu Âu Tây Ban Nha.[43] Pirlo cũng có một bàn thắng cho mình tại giải này từ cú sút phạt đẹp mắt vào lưới của Croatia tại trận tiếp theo vào ngày 14 tháng 6.[44] Ở trận cuối của vòng bảng với Ailen, Pirlo thực hiện một đường chuyền từ cú sút phạt góc cho Antonio Cassano ghi bàn mở tỉ số.[45] Ý sau đó thắng 2-0 và tiến đến trận tứ kết với vị trí nhì bảng C.[46]

Ngày 24 tháng 6, Pirlo có một trận đất xuất sắc trước đội Anh, trận mà Ý thắng 4-2 ở loạt sút luân lưu. Qua đó anh được bầu làm cầu thủ xuất sắc nhất trận.[47] Trong loạt sút luân lưu này, Pirlo đã hạ gục thủ thành Joe Hart từ pha sục bóng nhẹ nhàng nhưng hiểm hóc, được biết dới tên cú sút Panenka, và được báo giới ca ngợi hết mực.[48][49][50]

Tại trận bán kết vào ngày 28 tháng 6 trước Đức, Pirlo một lần nữa được bầu làm cầu thủ chơi hay nhất trận, sau khi Ý hạ Đức với tỉ số 2-1.[51] Sau những màn trình diễn nổi bật, anh được kì vọng là sẽ giúp Ý hạ Tây Ban Nha ở trận chung kết, nhưng điều đó không xảy ra. Ý thất thủ trước Tây Ban Nha 4 trái không gỡ và Pirlo đành buồn bã nhìn các cầu thủ Tây Ban Nha lên ngôi vô địch Châu Âu lần thứ 2 liên tiếp.

Cùng với Andrés Iniesta của Tây Ban Nha, Pirlo được 3 lần bầu làm "Cầu thủ của trận đấu" tại giải này (nhiều nhất), anh sau đó cũng được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải đấu.

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Andrea Pirlo và vợ Deborah Roversi cưới nhau vào năm 2001, có hai con: trai tên Niccolò (sinh năm 2003) và gái tên Angela (sinh năm2006).[52][53]

Cha Pirlo là chủ một hãng kinh doanh kim loại thành lập năm 1982 tại Brescia, hãng Elg Steel, hiện có doanh thu khoảng 2721 triệu Euro.[54] Andrea Pirlo cũng là một cổ đông trong công ty đó.[55] Với sự thành công đến từ việc kinh doanh của gia đình và nghề nghiệp bóng đá của cá nhân, Pirlo từng nói với tạp chí Vanity Fair của Ý rằng anh không bao giờ quan tâm tới chuyện tiền bạc.[56]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 13 May 2012.[57]
Team Season Domestic
League
Domestic
Cup
European
Competition1
Other
Tournaments2
Total
Apps Goals Apps Goals Apps Goals Apps Goals Apps Goals
Brescia 1994–95 1 0 - - - - - - 1 0
1995–96 - - - - - - - - 0 0
1996–97 17 2 1 0 - - - - 18 2
1997–98 29 4 1 0 - - - - 30 4
Total 47 6 2 0  – 49 6
Internazionale 1998–99 18 0 5 0 7 0 - - 30 0
2000–01 4 0 1 0 3 0 - - 8 0
Total 22 0 8 0 10 0 40 0
Reggina (loan) 1999–2000 28 6 2 0 - - - - 31 6
Total 28 6 2 0 30 6
Brescia (loan) 2001 10 0 - - - - - - 10 0
Total 10 0 10 0
Milan 2001–02 18 2 2 0 9 0 - - 29 2
2002–03 27 9 2 0 13 0 - - 42 9
2003–04 32 6 - - 9 1 3 1 44 8
2004–05 30 4 1 0 12 1 - - 43 8
2005–06 33 4 4 0 12 1 - - 49 5
2006–07 34 2 4 0 14 1 - - 52 3
2007–08 33 3 1 0 8 2 3 0 45 5
2008–09 26 1 - - 3 1 - - 29 2
2009–10 34 0 1 0 8 1 - - 39 1
2010–11 17 1 3 0 5 0 - - 25 1
Total 284 32 18 0 93 8 6 1 397 44
Juventus 2011–12 37 3 3 0 - - - - 40 3
Career Total 428 47 33 0 103 8 6 1 570 56

1European competitions include the UEFA Champions League and UEFA Cup
2Other tournaments include the Supercoppa Italiana, UEFA Super Cup, Intercontinental Cup and FIFA Club World Cup[58]

Đội tuyển bóng đá Ý
Năm Trận Bàn
2002 4 0
2003 1 0
2004 7 1
2005 9 2
2006 14 1
2007 8 1
2008 9 1
2009 12 1
2010 8 1
2011 9 0
2012 10 1
Total 89 9

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Date Venue Opponent Score Result Competition
1. 30 May 2004 Radès, Tunisia  Tunisia 4–0 Win Friendly
2. 26 March 2005 Milano  Scotland 2–0 Win FIFA World Cup 2006 Qualification
3. 17 August 2005 Dublin, Ireland  Ireland 2–1 Win Friendly
4. 12 June 2006 Hanover, Germany  Ghana 2–0 Win FIFA World Cup 2006
5. 13 October 2007 Genova  Gruzia 2–0 Win UEFA Euro 2008 Qualification
6. 17 June 2008 Zurich, Switzerland  Pháp 2–0 Win UEFA Euro 2008
7. 28 March 2009 Podgorica, Montenegro  Montenegro 2–0 Win FIFA World Cup 2010 Qualification
8. 7 September, 2010 Firenze  Quần đảo Faroe 5–0 Win UEFA Euro 2012 Qualification
9. 14 June 2012 Poznan, Poland  Croatia 1–1 Draw UEFA Euro 2012

Honours[sửa | sửa mã nguồn]

Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

International[sửa | sửa mã nguồn]

Individual[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ FIFA.com[liên kết hỏng]
  2. ^ [1]
  3. ^ “Born Again: How the Deep-Lying Midfielder Position is Reviving Careers”. Soccerlens.com. 31 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ Dampf, Andrew (29 tháng 5 năm 2008). “Totti is gone, Pirlo becomes the pacesetter for Italy”. Usatoday.Com. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  5. ^ a ă Ingo Faulhaber. “IFFHS”. Iffhs.de. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  6. ^ “Pirlo: I have all I need here”. FIFA.com. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  7. ^ “L'Inter ha ceduto pirlo al Milan” (bằng Italian). inter.it. 30 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  8. ^ Malagutti Vittorio (6 tháng 11 năm 2002). “Va di moda il calciatore salvabilanci”. Corriere della Sera (bằng Italian). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 
  9. ^ “Milan e Inter, plusvalenze incrociate con la vendita dei calciatori”. l'Unità (bằng Italian). 8 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010. 
  10. ^ “Liverpool triumph in Turkey”. En.archive.uefa.com. 25 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  11. ^ “Andrea Pirlo Topics Page”. Content.usatoday.com. 6 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  12. ^ “Milan Star Pirlo Pleased Chelsea Transfer Saga Is Over”. Goal.com. 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  13. ^ Paolo Bandini. “Champions League: Real Madrid v Milan - as it happened”. Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  14. ^ “Report: AC Milan v Genoa - Italian Serie A - ESPN Soccernet”. Soccernet.espn.go.com. 25 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  15. ^ “Parma 0-1 AC Milan: Superb Andrea Pirlo strike sends Massimiliano Allegri's men top of Serie A”. Goal.com. 2 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  16. ^ “Report: AC Milan v Cagliari - Italian Serie A - ESPN Soccernet”. Soccernet.espn.go.com. 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  17. ^ “Pirlo leaving Milan”. Skysports.com. 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011. 
  18. ^ “Andrea Pirlo Bio, Stats, News - Football / Soccer - - ESPN Soccernet”. Soccernet.espn.go.com. 19 tháng 5 năm 1979. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ “Andrea Pirlo signs for Juventus”. Juventus official website. 24 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2011. 
  20. ^ “Match report - Match report Juventus FC - Parma FC, 11.09.2011 - Serie A”. transfermarkt.co.uk. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  21. ^ “Pirlo outstanding on Juventus debut in Parma victory | Serie A News”. tribalfootball.com. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  22. ^ “Report: Juventus v Catania - Italian Serie A - ESPN Soccernet”. Soccernet.espn.go.com. 18 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  23. ^ “Juventus are back, says Bonucci after clinching Serie A title”. Goal.com. 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  24. ^ “Serie A, giocatori, Assist”. Corriere dello Sport.it. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  25. ^ “Serie A Team of the Season: Pirlo, Ibrahimovic & Di Natale star in the 2011-12 campaign”. Goal.com. 14 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  26. ^ “Juventus 0-2 Napoli: Cavani and Hamsik clinch Coppa Italia and dash double dreams of Turin giants”. Goal. 20 tháng 5 năm 2012. 
  27. ^ Andrea Pirlo a giant of his generation, ESPN.com, October 25, 2011.
  28. ^ “2006 FIFA World Cup Germany™”. FIFA.com. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  29. ^ “BBC SPORT | Football | World Cup 2006 | Italy 2-0 Ghana”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  30. ^ “BBC SPORT | Football | World Cup 2006 | Italy 1-1 USA”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  31. ^ “BBC SPORT | Football | World Cup 2006 | Last-gasp Italy knock Germany out”. BBC News. 4 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  32. ^ Stevenson, Jonathan (9 tháng 7 năm 2006). “BBC SPORT | Football | World Cup 2006 | Zidane off as Italy win World Cup”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  33. ^ “2006 FIFA World Cup Germany™”. FIFA.com. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  34. ^ Ty Duffy (25 tháng 2 năm 2012). “AC Milan Meets Juventus in Potential Scudetto Decider”. The Big Lead. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  35. ^ McNulty, Phil (17 tháng 6 năm 2008). “BBC SPORT | Football | Euro 2008 | France 0-2 Italy”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  36. ^ “uefa.com”. En.archive.uefa.com. 22 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  37. ^ “2010 World Cup: Italy's Andrea Pirlo has calf injury - ESPN Soccernet”. Soccernet.espn.go.com. 11 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ Paul Wilson at Soccer City (24 tháng 6 năm 2010). “Slovakia 3-2 Italy | World Cup 2010 match report | Football”. The Guardian. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  39. ^ “UEFA EURO - Italy –”. Uefa.com. 20 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  40. ^ Italy (7 tháng 9 năm 2010). “Italy 5 Faroe Islands 0: match report”. Telegraph. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  41. ^ 16:44 GMT (9 tháng 5 năm 2012). “BBC Sport - Euro 2012: Italy team profile”. Bbc.co.uk. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  42. ^ “Di Natale recalled for provisional Italy squad –”. Uefa.com. 13 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  43. ^ Smith, Ben (10 tháng 6 năm 2012). “BBC Sport - Euro 2012: Spain 1-1 Italy”. Bbc.co.uk. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  44. ^ “BBC Sport - Euro 2012: Day seven as it happened”. Bbc.co.uk. 14 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  45. ^ “Match Report: Italy 2-0 Republic of Ireland”. Goal.com. 19 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  46. ^ Republic of Ireland. “Italy 2 Republic of Ireland 0: match report”. Telegraph. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  47. ^ “Euro 2012: Italy deserved winner over England | Live football and soccer news”. ESPNFC.com. 24 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  48. ^ “BBC Sport - Euro 2012 analysis: Peerless Pirlo exposes England”. Bbc.co.uk. 24 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  49. ^ “calcio without citizenship: Azzurri: Eloquent, Decisive, and Devastating”. not even an oriundo. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  50. ^ “Pirlo: 'Why I chipped Hart'”. Football Italia. 24 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2012. 
  51. ^ http://www.dailymail.co.uk/sport/euro2012/article-2166162/Euro-2012-results-Germany-1-Italy-2-Mario-Balotelli-hits-Azzurri-set-Spain-final.html
  52. ^ Jake Lofdahl and Oliver Pickup (24 tháng 6 năm 2009). “Andrea Pirlo profile: 10 Things you need to know about the Chelsea target”. The Daily Mirror. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2010. 
  53. ^ “Italy – A. Pirlo – Profile with news, career statistics and history”. Soccerway. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  54. ^ http://www.haniel.de/irj/go/km/docs/haniel_documents/hcw/public/haniel/portfolio/Kennzahlen%202012/ELG_EN.pdf
  55. ^ http://espresso.repubblica.it/dettaglio/la-vera-storia-di-pirlo-lo-zingaro/2180635
  56. ^ http://www.andreapirlo.net/site/2012/05/28/dedicato-a-chi-mi-chiama-zingaro/
  57. ^ “A.C. Milan – Andrea Pirlo”. Acmilan.com. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  58. ^ “.. Player – Andrea Pirlo”. National Football Teams. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 

Liên kết mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Tiền nhiệm:
Hàn Quốc Hong Myung-Bo
FIFA World Cup Bronze Ball
2006
Kế nhiệm:
Tây Ban Nha David Villa

Bản mẫu:Juventus Squad