Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ UEFA Champions League)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Champions League
Current sport.svg Mùa giải 2013-14
UEFA Champions League logo.png
Năm thành lập 1955
Châu lục Châu Âu (UEFA)
Số đội 32 (vòng bảng)
76 hay 77 (tổng cộng)
Đương kim vô địch Tây Ban Nha Real Madrid (lần thứ 10)
CLB thành công nhất Tây Ban Nha Real Madrid (vô địch 10 lần)

Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu (tiếng Anh: European Cup hoặc UEFA Champions League; tên thường gọi ở Việt Nam: Cúp C1) là giải bóng đá hàng năm của Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) dành cho các câu lạc bộ vô địch quốc gia hay xếp hạng hai, ba, tư ở một số giải vô địch quốc gia mạnh. Nhà vô địch đầu tiên của giải đấu là Real Madrid sau khi đánh bại Stade de Reims ở trận chung kết.

Đương kim vô địch của giải là Real Madrid sau khi đánh bại Atletico Madrid với tỉ số 4-1 trên Estádio da Luz, Lisbon.

Bên cạnh đó, Liên đoàn bóng đá châu Âu cũng tổ chức Cúp các đội nữ vô địch bóng đá quốc gia châu Âu (UEFA Women's Champions League)

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954, Gabrief Hanot - của báo L'Equipe - đã đề xuất một giải thi đấu giữa các đội vô địch bóng đá các quốc gia châu Âu. Tháng 1 năm 1955, báo L'Equipe đã gửi bản dự thảo "European Cup" đến nhiều câu lạc bộ bóng đá. Ngày 2 tháng 4 năm 1955, 16 đại diện các câu lạc bộ đã thảo luận bản dự thảo này và thông qua sau 3 giờ đồng hồ.

Trận đấu đầu tiên đã diễn ra ngày 4 tháng 9 năm 1955 tại Lisbon (Bồ Đào Nha) giữa Sporting LisbonFK Partizan (Nam Tư), kết quả hòa 3-3. Và đội vô địch đầu tiên là Real Madrid (giải có 16 đội tham dự).

Từ mùa bóng 1992/1993, giải được đổi tên thành "UEFA Champions League". Và đến mùa bóng 1997/1998, có một sự thay đổi lớn trong điều lệ giải, ngoài các đội vô địch quốc gia, các đội có thứ hạng cao trong mỗi giải vô địch (tùy theo mỗi quốc gia) cũng có quyền tham dự. Mùa bóng năm 2005/2006 và 2006/2007, 3 quốc gia Tây Ban Nha, AnhÝ (từ mùa bóng 2013-2014 Ý chỉ còn 3 đội tham dự, vì Đức đã lấy mất một xuất của Ý), được quyền cử 4 đội tham gia.

Nhạc hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Bản nhạc nền Cúp C1 Châu Âu, tên chính thức được gọi đơn giản là "Champion League", do nhà soạn nhạc người Anh Tony Britten soạn theo phong cách của nhà soạn nhạc người Đức George Frideric Handel (1658-1759), được giàn nhạc Royal Philharmonic Orchestra (London - Anh) trình bày. Bản nhạc có mang nhiều âm hưởng của bản Zadok the Priest của Handel.

Chiếc cúp[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:Trofeo Champions League.jpg
Chiếc Cup UEFA Champions League

Cúp cao 74 cm, nặng 8 kg và đắt giá nhất khoảng 200.000 Franc. Đội đoạt cúp còn được nhận 20 Huy chương vàng và một phiên bản cúp, đồng thời có quyền giữ chiếc cúp thật trong vòng một năm trước khi trao lại cho UEFA "trong tình trạng nguyên xi" (nếu hư hại sẽ bị phạt nặng), một tháng trước trận chung kết lần sau.

Nếu 3 lần liên tiếp đoạt chức vô địch, hoặc 5 lần khác nhau, đội có quyền sở hữu vĩnh viễn chiếc cúp và lúc này UEFA phải làm một chiếc cúp khác hoàn toàn giống hệt. Tính tới thời điểm hiện tại, có 5 câu lạc bộ có được vinh dự này là: Real Madrid (10 lần vô địch); A.C. Milan (7 lần); FC Bayern München (5 lần, trong đó 3 lần liên tiếp); Liverpool FC (5 lần); Ajax Amsterdam (4 lần, trong đó 3 lần liên tiếp);

8 ngôi sao trên biểu tượng quả bóng của Cúp C1 (UEFA Champions League) là biểu tượng cho 8 đội bóng từng bảo vệ thành công chức vô địch (Real Madrid, SL Benfica, Inter Milan, Ajax Amsterdam, Bayern Munchen, Liverpool, Nottingham Forest, A.C. Milan).

Quy định[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội tham dự và thể thức thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khởi đầu tới mùa bóng 1996-1997[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi ra đời với tên gọi European Champion Clubs' Cup (tức Cúp C1), giải đấu này chỉ dành cho các đội đoạt chức vô địch quốc gia tại giải vô địch hạng cao nhất của các quốc gia châu Âu là thành viên của UEFA và đội đương kim vô địch của mùa giải trước - đang giữ cúp.

Vì vậy, nếu một đội bóng không bảo vệ được danh hiệu vô địch trong nước nhưng đoạt được cúp C1 thì năm sau tiếp tục được dự giải và quốc gia đó sẽ là nước duy nhất có 2 đội dự Cúp C1. Nếu đội vô địch Cúp C1 đồng thời đoạt "cú đúp" - vô địch cả giải trong nước thì quốc gia đó vẫn chỉ có 1 đội dự cúp này như những nước khác. Trong cả trường hợp đội vô địch Cúp C1 bị xuống hạng ở giải trong nước vẫn được dự giải này trong mùa bóng tiếp theo.

Thể thức duy nhất mà UEFA áp dụng từ năm 1955 tới năm 1991 là phân cặp đấu loại trực tiếp từ vòng đầu tới vòng cuối cùng. Vòng đầu có 32 đội, lần lượt qua 5 lượt tới trận chung kết còn 2 đội.

Mùa bóng 1986-1987, vòng 1 Cúp C1 chỉ có 31 đội tham dự do sự cố chính trị làm vắng mặt 1 thành viên. Do đó đội đương kim vô địch là Steaua Bucharest của Rumani được vào thẳng vòng 2.

AC Milan mừng chiến thắng năm 2007

Ở mùa giải 1991/92, Cúp C1 vẫn mang tên là European Champion Clubs' Cup như trước đây, nhưng UEFA đã thử nghiệm một thể thức thi đấu mới. 8 đội lọt vào tứ kết được chia làm 2 bảng thi đấu vòng tròn một lượt (vẫn gồm 2 lượt trận sân nhà sân khách cho mỗi cặp đấu), chọn ra 2 đội đầu bảng vào thi đấu trận chung kết.

Mùa giải 1992/93, giải bóng đá này chính thức được đổi tên thành UEFA Champions League - giải đấu của các nhà vô địch. Lúc này, vòng tứ kết vẫn gồm 8 đội nhưng lại có thêm vòng bán kết. Trận bán kết diễn ra giữa đội nhất bảng này gặp nhì bảng kia, nhưng chỉ thi đấu một trận duy nhất trên sân của những đội nhất bảng.

Real Madrid là đội bóng giữ kỷ lục lâu bị loại ở Cúp C1 nhất. Tính từ khi tham gia năm 1955 tới năm 1960, Real Madrid liên tục vô địch cúp này 5 năm và chưa từng bị loại. Tới mùa bóng 1960-1961, Real cùng FC Barcelona là đội vô địch trong nước cùng đại diện cho Tây Ban Nha dự giải. Do thời đó chưa có quy định hạt giống nên việc bốc thăm ngẫu nhiên khiến Real Madrid và Barcelona gặp nhau ngay vòng đầu. Kết quả Barcelona đã loại Real bằng kết quả hoà 2-2 ở sân Bernabeu và thắng 2-1 ở sân Nou Camp. Đó là lần đầu tiên Real Madrid bị loại ở Cúp C1.

Từ mùa bóng 1997-1998[sửa | sửa mã nguồn]

UEFA mở rộng số đội tham dự, cho phép các nước có thành tích cao nhất được cử 2 đại diện tham dự - đội vô địch và đội á quân. Do số đội tăng lên, số đội dự vòng bảng là 16 và do đó có 4 bảng sau 2 vòng đầu. 8 đội đứng đầu 4 bảng lọt vào vòng tứ kết, đấu loại trực tiếp tới chung kết.

Trong những năm tiếp theo, do sức ép từ phía nhóm G-14, các đội bóng mạnh và giàu có ở châu Âu, UEFA mở rộng đối tượng tham dự Champions League hơn, cho phép 3 quốc gia có thành tích cao nhất được cử tới 4 đội tham dự, các nước có thành tích thấp hơn có số đội tham dự giảm dần, để tạo điều kiện cho những đội bóng giàu có có cơ hội đoạt Cúp này ngay cả khi không vô địch trong nước nhiều năm liền.

Các vòng loại cho các đội yếu từ những nước có hệ số điểm thấp được thu xếp từ mùa hè để bắt đầu vào tháng 9, vòng 1 bắt đầu là vòng đấu bảng với số đội tham gia là 32 đội tại 8 bảng đấu.

Quy định mở rộng đối tượng tham dự này khiến cho giải thực chất không còn đúng với tên gọi "giải đấu của các nhà vô địch" - Champions League nữa.

Quy định hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Logo của giải đấu được thể hiện ở trung tâm của sân trước mỗi trận đấu
  • Vòng sơ loại đầu tiên: gồm 6 đội vô địch quốc gia các nước được xếp hạng từ 49-54.
  • Vòng sơ loại thứ nhì: gồm 34 đội [31 đội vô địch quốc gia các nước được xếp hạng từ 17-48(ngoại trừ Liechtenstein) và 3 đội thắng ở vòng sơ loại đầu tiên]
  • Vòng sơ loại thứ ba: gồm 30 đội được chia thành 2 nhóm:
-Nhóm các đội vô địch quốc gia:gồm 20 đội bóng (3 đội vô địch quốc gia các nước được xếp hạng từ 14-16 và 17 đội thắng từ vòng loại thứ nhì)
-Nhóm các đội không vô địch quốc gia:gồm 9 đội á quân quốc gia các nước được xếp hạng từ 7-15 và 1 đội xếp thứ 3 quốc gia nước xếp hạng 6
  • Vòng Play-off:gồm 20 đội bóng được chia làm 2 nhóm
- Nhóm các đội vô địch quốc gia:gồm 10 đội chiến thắng ở vòng sơ loại thứ 3 trong nhóm các đội vô địch quốc gia
- Nhóm các đội không vô địch quốc gia:gồm 10 đội (2 đội xếp thứ 3 quốc gia các nước được xếp hạng từ 4-5, 3 đội thứ đứng 4 quốc gia các nước được xếp hạng từ 1-3 và 5 đội giành chiến thắng vòng sơ loại thứ 3 trong nhóm các đội không vô địch quốc gia)
  • Vòng đấu bảng: gồm 32 đội, chia làm 8 bảng (4 đội/bảng): 13 đội vô địch quốc gia các nước được xếp hạng từ 1-13, 6 đội hạng nhì quốc gia các nước được xếp hạng từ 1-6, 3 đội hạng ba quốc gia các nước được xếp hạng từ 1-3 và 10 đội chiến thắng ở vòng Play-off
Sau khi thi đấu vòng tròn, hai đội đứng đầu mỗi bảng sẽ được vào vòng sau.
  • Các đội bị loại khi xếp hạng thứ 3 tại vòng bảng được chuyển sang thi đấu ở Europe League.
  • Vòng 1/8: Bốc thăm các đội nhì bảng gặp các đội đầu bảng, các đội nhì bảng đá sân nhà trước, các đội cùng một liên đoàn cũng như từng gặp nhau tại vòng bảng không gặp nhau.
  • Vòng tứ kết: Bốc thăm phân cặp đấu lượt đi và về.
  • Vòng bán kết: bốc thăm phân cặp đấu lượt đi và về.
  • Chung kết: đấu 1 trận duy nhất trên sân trung lập. Nếu hòa đá 2 hiệp phụ.
  • Tại vòng 1/8, tứ kết và bán kết nếu sau 2 lượt tổng tỷ số bằng nhau (nếu đội nào có số bàn thắng trên sân khách nhiều hơn sẽ giành quyền đi tiếp) sẽ đá hiệp phụ cổ điển (không tính bàn thắng vàng hay bạc), nếu vẫn hòa sẽ đá luân lưu xác định đội thắng thua.

Xếp hạng vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Đội thắng được 3 điểm, hòa 1 điểm, thua 0 điểm. Trong trường hợp có hai hay nhiều đội bằng điểm nhau sau khi vòng đấu bảng kết thúc, việc phân định ngôi thứ sẽ dựa trên các tiêu chuẩn sau:

- Giành được nhiều điểm hơn trong các trận đối đầu trực tiếp.
- Có hiệu số bàn thắng bại cao hơn trong các trận đối đầu trực tiếp.
- Ghi được nhiều bàn thắng trên sân của đối phương hơn trong các trận đối đầu trực tiếp.
- Có hiệu số bàn thắng bại của tất cả các trận đấu trong bảng cao hơn.
- Ghi được nhiều bàn thắng hơn trong tất cả các trận đấu trong bảng.
- Hệ số điểm của quốc gia vào thời điểm đầu mùa bóng (Hệ số này do UEFA thiết lập và xếp hạng).

Tiền thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Các vị nguyên thủ G8 tạm nghỉ trong cuộc họp thượng đỉnh để theo dõi trận chung kết năm 2012, tại Trại David, Mỹ, 19-5-2012: Cameron, Obama, Merkel, Barroso, Hollande và những người khác.

Đến mùa giải 2012–13, UEFA trao 2,1 triệu cho mỗi đội tham dự vòng loại. Với đội lọt vào vòng bảng, họ sẽ nhận thêm 8,6 triệu € từ UEFA. Đội thắng trong 1 trận vòng bảng nhận thêm 1 triệu € và nếu hòa nhận thêm 500.000 €. Đối với vòng 16 đội, UEFA thưởng cho mỗi đội 3,5 triệu €, và đối với vòng tứ kết mỗi đội nhận thêm 3,9 triệu €. Mỗi đội trong bốn đội vào bán kết nhận 4,9 triệu €, và đội Á quân được thưởng 6,5 triệu €. Đội vô địch được UEFA thưởng 10,5 triệu €.[1]

  • Vòng đá loại: €2.100.000
  • Tiền thưởng chung cho mỗi đội vòng bảng: €8.600.000
  • Đội thắng trong 1 trận vòng bảng: €1.000.000
  • Đội hòa trong 1 trận vòng bảng: €500.000
  • Vòng 16 đội: 3.500.000
  • Tứ kết: €3.900.000
  • Bán kết: €4.900.000
  • Á quân: €6.500.000
  • Đội vô địch: €10.500.000

Doanh thu và lợi nhuận của UEFA Champions League đến từ quảng cáo, vé trận đấu... cũng như bản quyền truyền hình tại mỗi quốc gia sẽ được dùng để chia thưởng cho các CLB cũng như liên đoàn các quốc gia có CLB tham dự.

UEFA (10 tháng 8, 2012) cũng ước tính doanh thu từ UEFA Champions League và UEFA Super Cup là 1,34 tỷ €.[1]

Các trận chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đội vô địch Tỷ số Đội hạng nhì Sân vận động
1956 Tây Ban Nha
Real Madrid
4 - 3 Pháp
Stade Reims
Parc des Princes, Paris
1957 Tây Ban Nha
Real Madrid
2 - 0 Ý
Fiorentina
Santiago Bernabéu, Madrid
1958 Tây Ban Nha
Real Madrid
3 - 2 Ý
A.C. Milan
Heysel, Brussels
1959 Tây Ban Nha
Real Madrid
2 - 0 Pháp
Stade Reims
Neckar, Stuttgart
1960 Tây Ban Nha
Real Madrid
7 - 3 Đức
Eintracht Frankfurt
Hampden Park, Glasgow
1961 Bồ Đào Nha
SL Benfica
3 - 2 Tây Ban Nha
FC Barcelona
Wankdorf, Berne
1962 Bồ Đào Nha
SL Benfica
5 - 3 Tây Ban Nha
Real Madrid
Olympic, Amsterdam
1963 Ý
A.C. Milan
2 - 1 Bồ Đào Nha
SL Benfica
Wembley, London
1964 Ý
Inter Milan
3 - 1 Tây Ban Nha
Real Madrid
Prater, Viên
1965 Ý
Inter Milan
1 - 0 Bồ Đào Nha
SL Benfica
San Siro, Milano
1966 Tây Ban Nha
Real Madrid
2 - 1 Nam Tư
FK Partizan
Heysel, Brussels
1967 Scotland
Celtic F.C.
2 - 1 Ý
Inter Milan
Nacional, Lisboa
1968 Anh
Manchester United
4 - 1 Bồ Đào Nha
SL Benfica
Wembley, London
1969 Ý
A.C. Milan
4 - 1 Hà Lan
Ajax Amsterdam
Santiago Bernabéu, Madrid
1970 Hà Lan
Feyenoord Rotterdam
2 - 1 Scotland
Celtic F.C.
San Siro, Milano
1971 Hà Lan
Ajax Amsterdam
2 - 0 Hy Lạp
Panathinaikos
Wembley, London
1972 Hà Lan
Ajax Amsterdam
2 - 0 Ý
Inter Milan

De Kuip, Rotterdam
1973 Hà Lan
Ajax Amsterdam
1 - 0 Ý
Juventus
Crvena Zvezda, Belgrade
1974 Tây Đức
FC Bayern München
1 - 1
(4 - 0)
(đá lại)
Tây Ban Nha
Atlético Madrid
Heysel, Brussels
1975 Tây Đức
FC Bayern München
2 - 0 Anh
Leeds United F.C.
Parc des Princes, Paris
1976 Tây Đức
FC Bayern München
1 - 0 Pháp
AS Saint-Étienne
Hampden Park, Glasgow
1977 Anh
Liverpool F.C.
3 - 1 Đức
Borussia Mönchengladbach
Olimpico, Roma
1978 Anh
Liverpool F.C.
1 - 0 Bỉ
Club Brugge
Wembley, London
1979 Anh
Nottingham Forest F.C.
1 - 0 Thụy Điển
Malmö FF
Olympic, München
1980 Anh
Nottingham Forest F.C.
1 - 0 Đức
Hamburger SV
Santiago Bernabéu, Madrid
1981 Anh
Liverpool F.C.
1 - 0 Tây Ban Nha
Real Madrid
Parc des Princes, Paris
1982 Anh
Aston Villa F.C.
1 - 0 Đức
FC Bayern München
De Kuip, Rotterdam
1983 Tây Đức
Hamburger SV
1 - 0 Ý
Juventus
Olympic, Athena
1984 Anh
Liverpool F.C.
1 - 1
(4 - 2)
(pen)
Ý
AS Roma

Olimpico, Roma
1985 Ý
Juventus
1 - 0 Anh
Liverpool F.C.
Heysel, Brussels
1986 România
Steaua Bucuresti
0 - 0
(2 - 0)
(pen)
Tây Ban Nha
FC Barcelona
Ramon Sánchez Pizjuán, Sevilla
1987 Bồ Đào Nha
FC Porto
2 - 1 Đức
FC Bayern München
Ernst Happel, Viên
1988 Hà Lan
PSV Eindhoven
0 - 0
(6 - 5)
(pen)
Bồ Đào Nha
SL Benfica
Neckar, Stuttgart
1989 Ý
A.C. Milan
4 - 0 România
Steaua Bucuresti
Camp Nou, Barcelona
1990 Ý
A.C. Milan
1 - 0 Bồ Đào Nha
SL Benfica
Ernst Happel, Viên
1991 Nam Tư
Sao Đỏ Belgrade
0 - 0
(5 - 3)
(pen)
Pháp
Olympique de Marseille
San Nicola, Bari
1992 Tây Ban Nha
F.C. Barcelona
1 - 0 Ý
U.C. Sampdoria
Wembley, London
1993 Pháp
Olympique de Marseille
1 - 0 Ý
A.C. Milan
Olympic, München
1994 Ý
A.C. Milan
4 - 0 Tây Ban Nha
FC Barcelona
Olympic, Athena
1995 Hà Lan
Ajax Amsterdam
1 - 0 Ý
A.C. Milan
Ernst Happel, Viên
1996 Ý
Juventus
1 - 1
(4 - 2)
(pen)
Hà Lan
Ajax Amsterdam
Olimpico, Roma
1997 Đức
Borussia Dortmund
3 - 1 Ý
Juventus
Olympic, München
1998 Tây Ban Nha
Real Madrid
1 - 0 Ý
Juventus
Amsterdam ArenA, Amsterdam
1999 Anh
Manchester United
2 - 1 Đức
FC Bayern München
Camp Nou, Barcelona
2000 Tây Ban Nha
Real Madrid
3 - 0 Tây Ban Nha
Valencia CF
Stade de France, Paris
2001 Đức
FC Bayern München
1 - 1
(5 - 4)
(pen)
Tây Ban Nha
Valencia CF
San Siro, Milano
2002 Tây Ban Nha
Real Madrid
2 - 1 Đức
Bayer Leverkusen
Hampden Park, Glasgow
2003 Ý
A.C. Milan
0 - 0
(3 - 2)
(pen)
Ý
Juventus
Old Trafford, Manchester
2004 Bồ Đào Nha
FC Porto
3 - 0 Pháp
AS Monaco FC
Veltins-Arena, Gelsenkirchen
2005 Anh
Liverpool F.C.
3 - 3
(3 - 2)
(pen)
Ý
A.C. Milan
Atatürk Olimpiyat, Istanbul
2006 Tây Ban Nha
Barcelona
2 - 1 Anh
Arsenal
Stade de France, Paris
2007 Ý
A.C. Milan
2 - 1 Anh
Liverpool F.C.
Olympic, Athena
2008 Anh
Manchester United
1 - 1
(6 - 5)
(pen)
Anh
Chelsea F.C.
Luzhniki, Moskva
2009 Tây Ban Nha
Barcelona
2 - 0 Anh
Manchester United
Olimpico, Roma
2010 Ý
Inter Milan
2 - 0 Đức
FC Bayern München
Santiago Bernabéu, Madrid
2011 Tây Ban Nha
Barcelona
3 – 1 Anh
Manchester United
Wembley, London
2012 Anh
Chelsea F.C.
1 - 1
(4 - 3)
(pen)
Đức
FC Bayern München
Allianz, Munich
2013 Đức
FC Bayern München
2 - 1 Đức
Borussia Dortmund
Wembley, London
2014 Tây Ban Nha
Real Madrid
4 - 1 Tây Ban Nha2014
Atletico Madrid
Estádio da Luz, Lisbon
2015 Olympiastadion, Berlin

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng các quốc gia có số lần vô địch nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Vô địch Á quân CLB vô địch CLB á quân
Tây Ban Nha Tây Ban Nha 14 10 Real Madrid (10)
Barcelona (4)
Real Madrid (3)
Barcelona (3)
Valencia (2)
Atlético Madrid (2)
Ý Italia 12 14 AC Milan (7)
Inter Milan
Juventus (2)
Juventus (5)
AC Milan (4)
Inter Milan (2)
Fiorentina (1)
Roma (1)
Sampdoria (1)
Anh Anh 12 7 Liverpool FC (5)
Manchester United (3)
Nottingham Forest (2)
Chelsea (1)
Aston Villa (1)
Liverpool FC (2)
Manchester United (2)
Leeds United (1)
Arsenal (1)
Chelsea (1)
Đức Đức 7 10 Bayern Munich (5)
Borussia Dortmund (1)
Hamburg (1)
Bayern Munich (5)
Bayer Leverkusen (1)
Borussia Mönchengladbach (1)
Eintracht Frankfurt (1)
Hamburg (1)
Borussia Dortmund (1)
Hà Lan Hà Lan 6 2 Ajax Amsterdam (4)
PSV Eindhoven (1)
Feyenoord Rotterdam (1)
Ajax Amsterdam (2)
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha 4 5 SL Benfica (2)
FC Porto (2)
SL Benfica (5)
Pháp Pháp 1 5 Olympique de Marseille (1) Stade Reims (2)
Olympique de Marseille (1)
AS Saint-Étienne (1)
AS Monaco FC (1)

Xếp hạng theo câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng Vô địch Á quân Năm vô địch Năm hạng nhì
Tây Ban Nha Real Madrid 10 3 (1956, 1957, 1958, 1959, 1960,
1966, 1998, 2000, 2002, 2014)
(1962, 1964, 1981)
Ý A.C. Milan 7 4 (1963, 1969, 1989, 1990, 1994,
2003, 2007)
(1958, 1993, 1995, 2005)
Đức FC Bayern München 5 5 (1974, 1975, 1976, 2001, 2013) (1982, 1987, 1999, 2010, 2012)
Anh Liverpool FC 5 2 (1977, 1978, 1981, 1984, 2005) (1985, 2007)
Tây Ban Nha FC Barcelona 4 3 (1992, 2006, 2009, 2011) (1961, 1986, 1994)
Hà Lan Ajax Amsterdam 4 2 (1971, 1972, 1973, 1995) (1969, 1996)
Ý Inter Milan 3 2 (1964, 1965, 2010) (1967, 1972)
Anh Manchester United FC 3 2 (1968, 1999, 2008) (2009, 2011)
Bồ Đào Nha SL Benfica 2 5 (1961, 1962) (1963, 1965, 1968, 1988, 1990)
Ý Juventus FC 2 5 (1985, 1996) (1973, 1983, 1997, 1998, 2003)
Bồ Đào Nha FC Porto 2 0 (1987, 2004) -
Anh Nottingham Forest FC 2 0 (1979, 1980) -
Anh Chelsea FC 1 1 (2012) (2008)
Đức BV Borussia Dortmund 1 1 (1997) (2013)
Đức Hamburg SV 1 1 (1983) (1980)
Scotland Celtic FC 1 1 (1967) (1970)
România FC Steaua Bucureşti 1 1 (1986) (1989)
Pháp Olympique de Marseille 1 1 (1993) (1991)
Hà Lan Feyenoord 1 0 (1970) -
Anh Aston Villa FC 1 0 (1982) -
Hà Lan PSV Eindhoven 1 0 (1988) -
Serbia Crvena Zvezda 1 0 (1991) -
Pháp Stade Reims 0 2 - (1956, 1959)
Tây Ban Nha Valencia CF 0 2 - (2000, 2001)
Tây Ban Nha Atlético de Madrid 0 2 - (1974, 2014)
Ý AC Fiorentina 0 1 - (1957)
Đức Eintracht Frankfurt 0 1 - (1960)
Serbia FK Partizan 0 1 - (1966)
Hy Lạp Panathinaikos FC 0 1 - (1971)
Anh Leeds United AFC 0 1 - (1975)
Pháp AS Saint-Étienne 0 1 - (1976)
Đức VfL Borussia Mönchengladbach 0 1 - (1977)
Bỉ Club Brugge KV 0 1 - (1978)
Thụy Điển Malmö FF 0 1 - (1979)
Ý AS Roma 0 1 - (1984)
Ý UC Sampdoria 0 1 - (1992)
Đức Bayer 04 Leverkusen 0 1 - (2002)
Pháp AS Monaco FC 0 1 - (2004)
Anh Arsenal FC 0 1 - (2006)

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “UEFA Champions League revenue distribution”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 10 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2012. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]