Andriy Mykolayovych Shevchenko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Andriy Shevchenko
Andriy Shevchenko100.jpeg
Shevchenko kỷ niệm lần thứ 100 chơi cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Ukraina năm 2010
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Andriy Mykolayovych Shevchenko[1]
Chiều cao 1,83 m (6 ft 0 in)
Vị trí Striker
CLB trẻ
1986–1993 Dynamo Kyiv
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1994–1999 Dynamo Kyiv 117 (60)
1999–2006 A.C. Milan 208 (127)
2006–2009 Chelsea 48 (9)
2008–2009 A.C. Milan (cho mượn) 18 (0)
2009–2012 Dynamo Kyiv 55 (23)
Tổng 446 (219)
Đội tuyển quốc gia
1994–1995 Ukraine U18 8 (5)
1994–1995 Ukraine U21 7 (6)
1995–2012 Ukraina 111 (48)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
cập nhật ngày 21:49, 23 October 2012 (UTC).

† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG và
số bàn thắng được cập nhật
ngày 20:13, 19 June 2012 (UTC)

Andriy Mykolayovych Shevchenko (tiếng Ukraina: Андрій Миколайович Шевченко, Andrij Mykolajovyč Ševčenko; sinh ngày 29 tháng 9 năm 1976 tại Dvirkivschyna, tỉnh Kiev) là một cựu cầu thủ bóng đá người Ukraina. Anh là người ghi bàn nhiều thứ 3 trong lịch sử Giải vô địch bóng đá châu Âu với 48 bàn thắng[2], chỉ sau huyền thoại Gerd Müller (62), Raúl González (68) và đồng đội Filippo Inzaghi (68).[3] Ngày 28 tháng 7 năm 2012, Shevchenko chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế, sau khi tỏa sáng rực rỡ trong màu áo đội tuyển Ukraina tại Euro 2012 để theo đuổi con đường chính trị.

Thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Shevchenko 9 tuổi thì xảy ra thảm họa Chernobyl vào tháng 4, 1986. Làng anh bị ảnh hưởng bởi thảm họa đó, do đó gia đình đã phải bỏ nhà, di cư đi nơi khác.[4] Vào tuổi thiếu niên, anh từng là 1 tay đấm bốc tại giải thiếu niên LLWI Ukraina, nhưng sau này cảm thấy thể hình mình không phù hợp, anh quyết định chuyển sang chơi bóng đá.[cần dẫn nguồn]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Dynamo Kyiv[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1986, Shevchenko bị rớt trong phần lừa bóng khi thi vào trung tâm huấn luyện thể thao của thành phố Kiev, nhưng anh đã lọt vào mắt xanh của ban lãnh đạo Dynamo Kyiv trong thời gian chơi ở giải thiếu niên, và họ đã mời anh gia nhập câu lạc bộ trẻ. 4 năm sau, Shevchenko cùng đội U-14 Dynamo Kiev đoạt cúp Ian Rush (nay là Welsh Super Cup) tại Wales; anh là vua phá lưới của giải.[4]

Mùa bóng 1992-93, Shevchenko là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tại đội hình 2 của Dynamo với 12 bàn thắng, sự thể hiện đó khiến anh được đưa lên đội hình 1. Anh giành danh hiệu vô địch quốc gia lần thứ 2 vào mùa bóng tiếp theo, sau khi ghi 6 bàn trong 20 trận đấu, và 1 hat-trick trong trận thắng 4-0 trước FC Barcelona tại 1997-98 Champions League. Mùa bóng 1998-1999, anh ghi được 19 bàn thắng sau 23 trận tại giải quốc nội và 6 bàn sau 10 trận tại giải châu lục. Anh kết thúc 5 mùa giải chơi cho Dynamo bằng 1 chức vô địch quốc gia.

A.C. Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1999, Shevchenko chuyển đến A.C. Milan với hợp đồng chuyển nhượng kỷ lục trị giá 25 triệu đô. Anh ra mắt Serie A vào ngày 28 tháng 8 năm 1999 trong trận hòa 2-2 với U.S. Lecce. Anh trở thành cầu thủ ngoại quốc đầu tiên tại Serie A giành được chức vô địch và danh hiệu vua phá lưới ngay trong mùa bóng đầu, với 24 bàn thắng sau 32 trận.

Với chức vô địch châu Âu mùa bóng 2002-2003 cùng Milan, Shevchenko cũng là cầu thủ người Ukraina đầu tiên vô địch giải này. Anh ghi tổng cộng 5 bàn thắng sau 24 trận của giải, và là người sút thành công quả Penalty vào lưới Juventus F.C. trong trận chung kết. Anh đoạt danh hiệu vua phá lưới lần thứ 2 trong sự nghiệp khi ghi nhiều bàn nhất tại Serie A mùa bóng 2003-04, với 24 bàn sau 32 trận đấu, giúp Milan đoạt Scudetto lần đầu tiên sau 4 năm. Shevchenko kết thúc 1 mùa giải thành công với phần thưởng Quả bóng vàng châu Âu 2004, trở thành cầu thủ người Ukraina thứ 3 trong lịch sử đoạt giải này (trước đó là Oleg BlokhinIgor Belanov).

Mùa bóng 2004–05, Shevchenko bị 1 chấn thương xương mặt và phải nghỉ nhiều trận đấu, nhưng anh cũng ghi được 17 bàn.

Shevchenko đi vào lịch sử Champions League vào ngày 23 tháng 11 năm 2005, khi ghi tất cả 4 bàn thắng trong chiến thắng 4-0 của Milan trong trận đấu với Fenerbahçe SK, 1 việc mà từ trước chỉ có 4 người làm được (4 người đó là Marco van Basten, Simone Inzaghi, Dado PršoRuud van Nistelrooy). Anh ghi bàn thắng cuối cùng cho Milan mùa giải ấy ở trận tứ kết với Olympique Lyonnais trong những phút cuối cùng, thế nhưng đội bóng đã phải dừng bướckhi để thua Barcelona F.C. tại trận bán kết.

Vào ngày 8 tháng 2, 2006, với bàn thắng vào lưới Treviso, anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 trong lịch sử đội bóng sọc đỏ đen, chỉ sau Gunnar Nordahl,[5]

Chelsea F.C.[sửa | sửa mã nguồn]

Shevchenko trong màu áo Chelsea

Mùa hè năm 2005, chủ tịch Roman Abramovich của Chelsea tuyên bố muốn mua Shevchenko với giá 85 triệu USD (56.7 triệu Euro) và đưa Hernán Crespo sang A.C. Milan như một khoản tiền bù.[6] Milan từ chối lời đề nghị mua tiền đạo của Chelsea, nhưng đưa Crespo về đội bóng theo 1 hợp đồng cho mượn.

Mãi đến ngày 28 tháng 5, 2006, sau World Cup 2006, Shevchenko mới chuyển đến Chelsea với 1 hợp đồng trị giá £30.000.000, đó là số tiền chuyển nhượng cao nhất trong lịch sử Chelsea[7]. Anh đã nhận chiếc áo số 7. như huấn luyện viên José Mourinho nói rằng anh có thể tiếp tục mặc.[8]

Shevchenko đá trận đầu cho Chelsea vào 13 tháng 8, 2006 tại giải FA Community Shield, ghi bàn thắng đầu tiên cho đội này trong trận thua Liverpool 2-1. Anh ghi các bàn thắng vào lưới FC PortoValencia CF tại UEFA Champions League và 1 bàn quan trọng vào lưới Tottenham Hotspur để đưa đội bóng vào trận bán kết FA Cup. Anh kết thúc mùa bóng với tổng cộng 14 bàn sau 51 trận đấu. Trong thời gian này có lúc anh đã trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 tại đấu trường châu Âu, với 57 bàn, Gerd Muller, nhưng vị trí này đã phải nhường lại Filippo Inzaghi trong mùa giải 2007-08.[9] Mùa giải 2006-2007 của Shevchenko kết thúc khi anh mắc phải 1 chấn thương vào gần cuối mùa bóng. Anh không được đấu trận bán kết Champions League với Liverpool và trận chung kết FA Cup với Manchester United trên sân Wembley mới vào ngày 19 tháng 5 năm 2007.[10]

Shevchenko ghi bàn thắng cuối cùng cho Chelsea trong trận hoà 1-1 với Bolton Wanderers F.C. vào cuối mùa bóng 2007-08.

Trở lại AC Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 23 tháng 8, 2008, sau nhiều phen thoả thuận, Chelsea đồng ý cho Shevchenko trở lại chơi bóng ở Serie A với AC Milan.[11] Sau khi rời Chelsea, anh phát biểu với báo giới rằng mình "vui như vừa đoạt chức vô địch châu Âu vậy"[12].

Trở về Dinamo Kiev[sửa | sửa mã nguồn]

Trở lại với AC Milan trong hợp đồng cho mượn, anh cũng không đạt được thành công mong muốn và đến cuối mùa giải, anh lại quay về với Chelsea. Tại đây, do tiếp tục không được ra sân nhiều nên ngày 31 tháng 8 năm 2009, Sheva chọn phương án ra đi và trở lại Dynamo Kiev đá 3 năm cuối cùng của sự nghiệp.[13].

Chơi bóng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Shevchenko đã chơi 111 trận và ghi 48 bàn thắng cho đội tuyển Ukraina, trong đó có kỳ World Cup 2006Euro 2012. Anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên cho mình vào tháng 5 năm 1996, trong 1 trận giao hữu với Thổ Nhĩ Kỳ.

Vào tháng 3 năm 2000, Người quản lý của câu lạc bộ Dynamo là Valeri Lobanovsky trở thành huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Ukraina, trong nhiệm vụ đưa đội này tham dự vòng chung kết World Cup 2002. Shevchenko ghi 10 bàn trong vòng loại, nhưng Ukraina sau đó đã bị loại tại trận đấu quyết định với Tuyển Đức. Anh ghi 1 trong 5 bàn của tuyển Ukraina tại vòng loại Euro 2008. Tại Euro 2012 được đồng tổ chức tại quê nhà Ukraina (cùng với Ba Lan), anh ghi được cả 2 bàn thắng trong khuôn khổ lượt trận đầu tiên của bảng D với Thụy Điển. Tuy nhiên đội tuyển Ukraina phải dừng bước ở vòng bảng sau khi để thua Pháp với tỉ số 0-2 và thua Anh với tỉ số 0-1 (trong trận đấu này, bàn thắng của Marko Dević có đi qua vạch vôi rõ ràng của đội tuyển Anh nhưng trọng tài Viktor Kassai không công nhận bàn thắng hợp lệ này).

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Shevchenko

Shevchenko có vợ là Kristen Pazik, 1 người mẫu Mỹ. Họ gặp gỡ và hẹn hò tại Giorgio Armani vào năm 2002, và cưới nhau vào ngày 14 tháng 3 năm 2004, lễ cưới được tổ chức bí mật trên 1 sân gôn ở thủ đô Washington.[14][15] Họ thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Italia,[16] mặc dù Shevchenko đã từng công bố mong muốn học tiếng Anh của mình.[17] Giới truyền thông cho rằng Pazik là tác nhân rất lớn thúc đẩy Shevchenko đồng ý chuyển sang Chelsea, thành phố mà cô ta có nhiều bạn bè, và là môi trường thuận lợi để con cái họ nói tốt tiếng Anh. Shevchenko từng phát biểu rằng việc anh chuyển đến Chelsea là "do chuyện gia đình".[14]

Anh có 2 đứa con trai, Jordan (tên lấy từ huyền thoại bóng rổ nhà nghề Mỹ Michael Jordan),[16] sinh ngày 29 tháng 10 năm 2004, và Christian, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2006. Andriy mừng sinh nhật Jordan bằng bàn thắng trong trận đấu gặp Sampdoria (AC Milan thắng 1-0).[18] Chủ tịch AC Milan ngài Silvio Berlusconi là cha đỡ đầu con trai đầu lòng của Andriy, Jordan.[19] Một ngày sau khi Christian ra đời, Shevchenko đã ghi bàn trong trận đấu mà Chelsea thắng Watford 4 - 0, anh và các đồng đội đã thực hiện động tác "rock-the-baby" goal celebration để ăn mừng sự kiện này.[20]

Shevchenko là bạn thân của nhà thiết kế thời trang Giorgio Armani, anh từng làm người mẫu của Armani trong nhiều chương trình thời trang ở Kyiv.[14] Vào tháng 7 năm 2005, anh trở thành đại sứ của FIFA trong chuyến thăm từ thiện Làng trẻ em SOS.[21] Anh và gia đình hiện đang sống ở Virginia Water, Surrey.

Về cái tên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của Shevchenko (Viết: Андрій theo tiếng Ukraina) gặp nhiều vấn đề khi chuyển ngữ từ chữ cái kirin sang chữ cái Latin. Andriy là cách viết được sử dụng tại trang web chính của cầu thủ này ([2]). Nó cũng được sử dụng bởi UEFA, FIFA và là kiểu viết vần thông dụng nhất trên các phương tiện truyền thông nói tiếng Anh (dù tạp chí World Soccer ghi là AndriiSky Sports ghi Andrei). Cách phát âm chính xác là [an.ˈdrij].

Người hâm mộ của CLB Dynamo Kyiv đặt biệt danh cho anh là Sheva, từ chữ Shevchenko mà ra.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Tại câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích cấp CLB Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp châu lục Tổng cộng
Mùa giải CLB Giải vô địch Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Ukraine Giải vô địch Ukrainian Cup Châu Âu Tổng cộng
1994-95 Dynamo Kyiv Premier League 17 1 4 1 2 1 23 3
1995-96 31 16 5 1 2 2 38 19
1996-97 20 6 0 0 0 0 20 6
1997-98 23 19 8 8 10 6 41 33
1998-99 26 18 4 5 14 10 44 33
Ý Giải vô địch Coppa Italia Châu Âu Tổng cộng
1999-00 Milan Serie A 32 24 5 4 6 1 43 29
2000-01 34 24 3 1 14 9 51 34
2001-02 29 14 3 0 6 3 38 17
2002-03 24 5 4 1 11 4 39 10
2003-04 32 24 2 0 11 5 45 29
2004-05 29 17 1 3 10 6 40 26
2005-06 28 19 0 0 12 9 40 28
Anh Giải vô địch Cúp FA Châu Âu Tổng cộng
2006-07 Chelsea Premier League 30 4 11 7 10 3 51 14
2007-08 17 5 1 0 5 1 25 8
Ý Giải vô địch Coppa Italia Châu Âu Tổng cộng
2008-09 Milan Serie A 18 0 1 1 7 1 26 2
Anh Giải vô địch Cúp FA Châu Âu Tổng cộng
2009-10 Chelsea Premier League 1 0 - - - - 1 0
Ukraine Giải vô địch Ukrainian Cup Châu Âu Tổng cộng
2009-10 Dynamo Kyiv Premier League 21 7 2 0 6 1 29 8
2010-11 18 10 2 1 12 5 32 16
2011-12 16 6 1 0 5 0 22 6
Tổng cộng Ukraine 172 83 26 16 51 25 249 124
Ý 226 127 16 7 76 38 322 175
Anh 48 9 7 3 15 4 77 22
Tổng cộng sự nghiệp 446 219 49 26 142 67 648 321

Tại tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

National team Season Apps Goals
Ukraine 1995 2 0
1996 2 1
1997 8 4
1998 6 1
1999 9 2
2000 5 5
2001 7 6
2002 3 0
2003 8 3
2004 6 4
2005 6 2
2006 9 5
2007 8 3
2008 7 3
2009 8 4
2010 6 2
2011 5 1
2012 6 2
Career Totals 111 48

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính tới 27 tháng 3, 2008)
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu
1. 1 tháng 5 năm 1996 Samsun, Thổ Nhĩ Kỳ  Thổ Nhĩ Kỳ 3–2 Thua Giao hữu
2. 2 tháng 4 năm 1997 Kyiv, Ukraina  Bắc Ireland 2–1 Thắng Vòng loại World Cup 1998
3. 7 tháng 5 năm 1997 Kyiv, Ukraina  Armenia 1–1 Hòa Vòng loại World Cup 1998
4. 11 tháng 10 năm 1997 Yerevan, Armenia  Armenia 0–2 Thắng Vòng loại World Cup 1998
5. 15 tháng 11 năm 1997 Kyiv, Ukraina  Croatia 1–1 Hòa Trận Play-off của Vòng loại World Cup 1998
6. 15 tháng 7 năm 1998 Kyiv, Ukraina  Ba Lan 1–2 Hòa Giao hữu
7. 9 tháng 10 năm 1999 Moskva, Nga  Nga 1–1 Hòa Vòng loại Euro 2000
8. 13 tháng 11 năm 1999 Ljubljana, Slovenia  Slovenia 2–1 Thua Trận Play-off của Vòng loại Euro 2000
9. 26 tháng 4 năm 2000 Sofia, Bulgaria  Bungary 0–1 Thắng Giao hữu
10. 2 tháng 9 năm 2000 Kyiv, Ukraina  Ba Lan 1–3 Thua Vòng loại World Cup 2002
11. 7 tháng 10 năm 2000 Yerevan, Armenia  Armenia 2–3 Thắng Vòng loại World Cup 2002
12.
13. 11 tháng 10 năm 2000 Oslo, Na Uy  Na Uy 0–1 Thắng Vòng loại World Cup 2002
14. 28 tháng 3 năm 2001 Cardiff, Wales  Wales 1–1 Hòa Vòng loại World Cup 2002
15. 1 tháng 9 năm 2001 Minsk, Belarus  Belarus 0–2 Thắng Vòng loại World Cup 2002
16.
17. 5 tháng 9 năm 2001 Lviv, Ukraina  Armenia 3–0 Thắng Vòng loại World Cup 2002
18. 6 tháng 10 năm 2001 Chorzów, Ba Lan  Ba Lan 1–1 Hòa Vòng loại World Cup 2002
19. 14 tháng 11 năm 2001 Dortmund, Đức  Đức 4–1 Thua Trận Play-off vòng loại World Cup 2002
20. 7 tháng 6 năm 2003 Lviv, Ukraina  Armenia 4–3 Thắng Trận Play-off Vòng loại Euro 2004
21.
22. 10 tháng 9 năm 2003 Elche, Tây Ban Nha  Tây Ban Nha 2–1 Thua Vòng loại Euro 2004
23. 9 tháng 10 năm 2004 Kyiv, Ukraina  Hy Lạp 1–1 Hòa Vòng loại Euro 2004
24. 13 tháng 10 năm 2004 Lviv, Ukraine  Gruzia 2–0 Thắng Vòng loại Euro 2004
25. 17 tháng 11 năm 2004 Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ  Thổ Nhĩ Kỳ 0–3 Thắng Vòng loại World Cup 2006
26.
27. 4 tháng 6 năm 2005 Kyiv, Ukraine  Kazakhstan 2–0 Won Vòng loại World Cup 2006
28. 8 tháng 10 năm 2005 Dnipropetrovsk, Ukraina  Albania 2–2 Hòa Vòng loại World Cup 2006
29. 8 tháng 6 năm 2006 Luxembourg, Luxembourg  Luxembourg 0–3 Thắng Giao hữu
30. 19 tháng 6 năm 2006 Hamburg, Đức  Ả Rập Saudi 0–4 Thắng World Cup 2006 bảng H
31. 23 tháng 6 năm 2006 Berlin, Đức  Tunisia 1-0 Thắng World Cup 2006 bảng H
32. 6 tháng 9 năm 2006 Kyiv, Ukraina  Gruzia 3–2 Thắng Vòng loại Euro 2008
33. 11 tháng 10 năm 2006 Kyiv, Ukraina  Scotland 2–0 Thắng Vòng loại Euro 2008
34. 12 tháng 9 năm 2007 Kyiv, Ukraina  Ý 1–2 Thua Vòng loại Euro 2008
35. 13 tháng 10 năm 2007 Glasgow, Scotland  Scotland 3–1 Thua Vòng loại Euro 2008
36. 21 tháng 11 năm 2007 Kyiv, Ukraina  Pháp 2–2 Hòa Vòng loại Euro 2008
37. 26 tháng 3 năm 2008 Kyiv, Ukraina  Serbia 2–0 Thắng Giao hữu
38. 6 tháng 9 năm 2008 Lviv, Ukraina  Bỉ 1–0 Thắng Vòng loại World Cup 2010
39. 10 tháng 9 năm 2008 Almaty, Kazakhstan  Kazakhstan 0-2 Thua Vòng loại World Cup 2010
40. 1 tháng 4 năm 2009 London, England  Anh 1-1 Hòa Vòng loại World Cup 2010
41. 6 tháng 6 năm 2009 Zagreb, Croatia  Croatia 1-1 Hòa Vòng loại World Cup 2010
42. 5 tháng 9 năm 2009 Kyiv, Ukraina  Serbia 3–0 Thắng Vòng loại World Cup 2010
43. 14 tháng 10 năm 2009 Andorra la Vella, Andorra  Andorra 0-1 Thua đm m
44. 25 tháng 5 năm 2010 Kharkiv, Ukraina  Litva 3–0 Thắng Giao hữu
45.
46. 7 tháng 11 năm 2011 Kyiv, Ukraina  Bungary 2–0 Thắng Giao hữu
47. 11 tháng 6 năm 2012 Kyiv, Ukraina  Thụy Điển 2–1 Thắng Euro 2012
48.

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Với đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Andriy Shevchenko

Danh hiệu cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích, tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hugman, Barry J. (ed) (2007). The PFA Footballers' Who's Who 2007–08. Mainstream. tr. 368. ISBN 978-1-84596-246-3. 
  2. ^ Sheva khai hỏa trong trận AC Milan 1-0 Zürich, cập nhật 3/10/2008
  3. ^ Chelsea 2-0 Levski Sofia
  4. ^ a ă Andriy Shevchenko, the lethal weapon, FIFA, 29 tháng 11 năm 2004
  5. ^ SHEVA 56 GOALS OFF NORDAHL, ACMilan.com, 9 tháng 2 năm 2006
  6. ^ AFP (2005-06-23). “Milan reject Chelsea's world record bid for Shevchenko”. ABC. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2008. 
  7. ^ Shevchenko transfer completed, ChelseaFC.com, 31 tháng 5 năm 2006
  8. ^ It's No. 7 for Sheva, ChelseaFC.com, 2 tháng 6 năm 2006
  9. ^ “Chelsea 2-0 Levski Sofia”. BBC Sport. 2006-12-05. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2007. 
  10. ^ “Shevchenko will miss FA Cup final”. CNN/Reuters. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2007. 
  11. ^ http://www.chelseafc.com/page/LatestNews/0,,10268~1373689,00.html
  12. ^ [1]
  13. ^ Shevchenko chia tay Chelsea để tìm vận hội mới
  14. ^ a ă â Eve, James (3 tháng 9 năm 2006). “The hired assassin”. The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007. 
  15. ^ “American model wins most desirable Ukrainian football player”. Pravda. 23 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007. 
  16. ^ a ă “The £30 million man”. The Daily Mail. 12 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007. 
  17. ^ “Sheva swaps Ferraris for family”. China Daily. 16 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007. 
  18. ^ “Shevchenko gives AC Milan victory”. CNN. 30 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007. 
  19. ^ Berlusconi: "I consider Sheva as my son"
  20. ^ Lovejoy, Joe (12 tháng 11 năm 2006). “Chelsea 4 Watford 0: Drogba treble floors Watford”. The Sunday Times. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2007. 
  21. ^ “Andriy Shevchenko pledges support for SOS Children's Villages” (Thông cáo báo chí). FIFA.com. 16 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Pavel Nedved
Quả bóng vàng châu Âu
2004
Kế nhiệm:
Ronaldinho