Edinson Cavani

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Edinson Cavani
Edinson Cavani 2011.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Edinson Roberto Cavani Gómez
Ngày sinh 14 tháng 2, 1987 (27 tuổi)
Nơi sinh Salto, Uruguay
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)[1]
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Paris Saint-Germain
Số áo 9
CLB trẻ
2000–2005 Danubio
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2005–2007 Danubio 25 (9)
2007–2010 Palermo 109 (34)
2010–2013 Napoli 104 (78)
2013– Paris Saint-Germain 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2006–2007 U-20 Uruguay 14 (9)
2008– Uruguay 66 (22)
2012 Olympic Uruguay 5 (3)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 19 tháng 5, 2013.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 28 tháng 6, 2014 (UTC)

Edinson Roberto Cavani Gómez[2] (sinh ngày 14 tháng 2, 1987 tại Salto, Uruguay) là cầu thủ bóng đá người Uruguay đang thi đấu cho câu lạc bộ ở Ligue 1 Paris Saint-GermainĐội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay. Anh có biệt danh là El Matador.[3]

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cavani chuyển đến Montevideo khi mới 12 tuổi, gia nhập hệ thống đào tạo trẻ của Danubio F.C. và bắt đầu có mặt trong đội hình chính từ năm 2006. Ngay trong mùa giải đầu tiên này, anh đã cùng câu lạc bộ giành chức vô địch Apertura và bản thân anh ghi được 9 bàn thắng.[4] Sau thành công tại Giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ 2007, nhiều đội bóng lớn đã tỏ ý muốn có Cavani như JuventusAC Milan.[5]

Palermo[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, ngày 29 tháng 1 năm 2007, chủ tịch của Palermo Maurizio Zamparini tuyên bố đã ký hợp đồng với cầu thủ người Uruguay.[6] Vụ chuyển nhượng đã được hoàn tất vào ngày 31 tháng 1.[7]

Cavani có trận đấu đầu tiên cho Palermo vào ngày 11 tháng 3 năm 2007 gặp Fiorentina.[8] Anh vào sân thay người ở phút 55 khi đội nhà đang bị dẫn 1-0 và đã có pha ghi bàn cân bằng tỉ số 1-1 mười lăm phút sau đó với cú volley gợi nhớ lại bàn thắng của tiền đạo người Hà Lan Marco van Basten ghi trong trận chung kết Euro 1988.[3] Ở mùa giải thứ hai, Cavani phải cố gắng cạnh tranh suất đá chính với các tiền đạo khác là Fabrizio MiccoliAmauri.

Sau khi Amauri chuyển đến thi đấu cho Juventus vào tháng 6 năm 2008, Cavani đã có một vị trí thường xuyên trong đội hình chính thức, đá cặp với Miccoli và ghi được 14 bàn trong mùa giải 2008–09. Ở mùa giải 2009–10, anh tiếp tục được huấn luyện viên Walter Zenga và sau đó là Delio Rossi trọng dụng. Cuối tháng 3 năm 2010, anh đã gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ đến năm 2015 kèm điều khoản tự giải phóng vào khoảng 25 triệu euro.[9] Trong trận đấu cuối cùng của mùa giải với Atalanta, Cavani đã lập cú đúp giúp đội nhà giành chiến thắng 2-1, qua đó giành quyền dự Europa League mùa giải năm sau.[10]

Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2010-11[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18 tháng 7 năm 2010, Napoli đã chính thức có được sự phục vụ của Cavani. Napoli phải bỏ ra tổng cộng 17 triệu euro, gồm 5 triệu euro phí cho mượn và 12 triệu còn lại được chuyển vào tài khoản Palermo trong vòng 4 năm nếu chấp nhận mua đứt. Cavani cũng ký bản hợp đồng 5 năm với mức lương 1,35 triệu euro/mùa giải. Điều khoản giải phóng hợp đồng của anh là 30 triệu euro.[11] Ngay trong trận đấu đầu tiên cho Napoli tại Europa League, Cavani đã lập cú đúp giúp Napoli đánh bại Elfsborg 2-0.[12]

Trong trận đấu đầu tiên tại Serie A cho Napoli hoà Fiorentina 1-1, Cavani đã ghi bàn mở tỉ số ngay phút thứ 7 với cú đánh đầu đưa bóng dội trúng xà ngang, đập đất và nảy ra ngoài. Trọng tài đã xác nhận bàn thắng hợp lệ dù pha quay chậm cho thấy bóng chưa hoàn toàn nằm trong vạch vôi.[13] Anh tiếp tục ghi bàn trong trận hoà 2-2 với Bari[14], trước khi ghi bàn ấn định chiến thắng 2-1 trước Sampdoria ở vòng đấu kế tiếp.[15] Ngày 26 tháng 9, Cavani vào sân ở hiệp 2 trong trận đấu với Cesena đã có đường chuyền thành bàn cân bằng tỉ số rồi sau đó lập cú đúp giúp Napoli thắng 4-1 và vươn lên dẫn đầu danh sách vua phá lưới cùng với Samuel Eto'o.[16]

Mùa giải 2011-12[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2012-13[sửa | sửa mã nguồn]

Cavani hiện đang được Chelsea quan tâm rất nhiều, nhưng De Laurentiis-chủ tịch Napoli tuyên bố sẽ chỉ để Cavani ra đi theo điều khoản phá vỡ hợp đồng trị giá 53,6 triệu bảng. Tuy nhiên, Edinson Cavani đã đến câu lạc bộ Paris Saint-Germain với mức phí chuyển nhượng lên đến 64 triệu euro và được hưởng mức lương sau thuế là 10 triệu euro một năm, tương đương 200.000 euro mỗi tuần. Như vậy, anh đã vượt qua Radamel Falcao (AS Monaco, 60 triệu euro) và Thiago Silva (Paris SG, 42 kèm 7 triệu chi phí phụ) để trở thành cầu thủ có mức phí chuyển nhượng lớn nhất lịch sử Ligue 1.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Ông bà Cavani mang quốc tịch Ý, nhưng anh đã lựa chọn khoác áo Uruguay sau một thời gian lưỡng lự.[17] Tháng 1 năm 2007, Cavani đã được gọi vào Đội tuyển U-20 Uruguay để tham gia Giải vô địch bóng đá trẻ Nam Mỹ 2007 tại Paraguay. Cavani kết thúc giải đấu với danh hiệu vua phá lưới khi anh ghi được 7 bàn trong 9 trận và giúp Uruguay giành hạng 3 chung cuộc và được quyền tham dự Giải vô địch U-20 thế giới.[18]

Ngày 6 tháng 2 năm 2008, Cavani có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển Uruguay trong trận giao hữu với Colombia và ngay lập tức đã ghi bàn.[18] Ngày 3 tháng 3 năm 2010, anh có bàn thắng thứ hai cho đội tuyển trong trận giao hữu thắng Thuỵ Sĩ 3-1.[19]

Ngày 30 tháng 5 năm 2010, Cavani đã có tên trong danh sách 23 cầu thủ tham dự World Cup 2010 tại Nam Phi của huấn luyện viên Oscar Washington Tabarez.[20] Tại giải đấu này, đội tuyển Uruguay giành được hạng tư chung cuộc và Cavani cũng có được một bàn thắng trong trận tranh huy đồng với đội tuyển Đức.[21]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 21 April 2012
Câu lạc bộ Mùa giải Giải ngoại hạng Cúp quốc gia Giải Châu Âu Tổng cộng
Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Danubio 2005 10 4 5 3 15 7
2006 15 5 15 5
Tổng cộng 25 9 5 3 0 0 30 12
Palermo 2006–07 7 2 7 2
2007–08 33 5 2 0 2 0 37 5
2008–09 35 14 1 1 36 15
2009–10 34 13 3 2 37 15
Tổng cộng 109 34 6 3 2 0 117 37
Napoli 2010–11 35 26 2 0 10 7 47 33
2011–12 35 23 5 5 8 5 48 33
2012–13 3 2 1 1 4 3
Tổng cộng 73 51 8 5 18 12 99 69
Tổng cộng sự nghiệp 205 94 19 11 20 12 243 118

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 6 tháng 2, 2008 Estadio Centenario, Montevideo, Uruguay  Colombia 1–0 2–2 Giao hữu
2 3 tháng 3, 2010 AFG Arena, St. Gallen, Thuỵ Sĩ  Thụy Sĩ 1–3 1–3 Giao hữu
3 10 tháng 7, 2010 Sân vận động Nelson Mandela Bay, Port Elizabeth, Nam Phi  Đức 1–1 2–3 World Cup 2010
4 11 tháng 8, 2010 Lisboa  Angola 0–1 0–2 Giao hữu
5 8 tháng 10, 2010 Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta  Indonesia 1–1 1–7 Giao hữu
6 8 tháng 10, 2010 Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta  Indonesia 1–6 1–7 Giao hữu
7 8 tháng 10, 2010 Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta  Indonesia 1–7 1–7 Giao hữu
8 12 tháng 10, 2010 Sân vận động Trung tâm Thể thao Vũ Hán, Vũ Hán  Trung Quốc 0–2 0–4 Giao hữu
9. 30 tháng 3, 2011 Sân vận động Aviva, Dublin  Ireland 2–1 3–2 Giao hữu
10. 7 tháng 10, 2021 Estadio Centenario, Montevideo  Bolivia 3–1 4–2 Vòng loại World Cup 2014
11. 29 tháng 2, 2012 Arena Națională, Bucharest  România 1–0 1–1 Giao hữu
12. 11 tháng 9, 2012 Estadio Centenario, Montevideo  Ecuador 1–1 1–1 Vòng loại World Cup 2014
13. 14 tháng 11, 2012 PGE Arena Gdańsk, Gdańsk  Ba Lan 2–0 3–1 Giao hữu
14. 12 tháng 6, 2013 Polideportivo Cachamay, Puerto Ordaz, Venezuela  Venezuela 1–0 1–0 Vòng loại World Cup 2014
15. 26 tháng 6, 2013 Mineirão, Belo Horizonte, Brasil  Brasil 1–1 1–2 Cúp Liên đoàn các châu lục 2013
16. 30 tháng 6, 2013 Itaipava Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil  Ý 1–1 2–2 Cúp Liên đoàn các châu lục 2013
17. 30 tháng 6, 2013 Itaipava Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil  Ý 2–2 2–2 Cúp Liên đoàn các châu lục 2013

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình Cavani có gốc là người Ý khi ông bà nội anh quê ở Maranello.[22] Anh trai anh, Walter Guglielmone thi đấu cho Neftchi Baku PFC tại Azerbaijan Premier League.[23]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Danubio F.C.
Napoli

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Thông tin về Edinson Cavani trên ESPN Soccernet”. 
  2. ^ “Edinson Roberto Cavani Gómez”. US Città di Palermo. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2008. 
  3. ^ a ă “Edinson Cavani: South America's best-kept secret”. CBC Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2007. 
  4. ^ “Scheda – Edinson Cavani” (bằng Tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2007. 
  5. ^ Calciomercato.biz. “Cavani, il Palermo sorpassa tutti” (bằng Italian). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2007. 
  6. ^ La Repubblica. “Calcio, Palermo; Zamparini: abbiamo preso Cavani” (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2007. 
  7. ^ Gazzetta dello Sport. “Palermo, arriva il gioiello Cavani” (bằng Tiếng Ý). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2007. 
  8. ^ “Tactical Formation”. Football-Lineups.com. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2007. 
  9. ^ Edinson Cavani gia hạn hợp đồng với Palermo
  10. ^ Vượt qua Atalanta, Palermo vẫn mất vé C1
  11. ^ Napoli: 17 triệu euro cho Cavani
  12. ^ “IF Elfsborg 0-2 Napoli”. Mirror Football. 26 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010. 
  13. ^ Vũ Phong (30 tháng 8 năm 2010). “Juventus thua đau ngay trong ngày đầu ra quân”. Dân Trí. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2010. 
  14. ^ Jonathan Mitchell (12 tháng 9 năm 2010). “http://www.goal.com/en/match/48647/napoli-vs-bari/report”. Goal.com. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010. 
  15. ^ “Cavani decisivo nel finale: il Napoli sbanca Marassi”. Sampdoria (bằng Tiếng Ý). 2010-09-19. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2010. 
  16. ^ “Cavani completes comeback”. ESPN Soccernet. 26 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2010. 
  17. ^ 10 things you need to know about Edinson Cavani
  18. ^ a ă “Thông tin về Edinson Cavani trên trang web chính thức của World Cup 2010”. FIFA.com. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010. 
  19. ^ Uruguay teach Swiss footballing lesson
  20. ^ Uruguay chốt danh sách dự World Cup
  21. ^ Uruguay - Đức 2-3: Bạch tuộc Paul đúng cả 7 trận của Đức
  22. ^ “Edinson Cavani: il futuro idolo di Palermo” (bằng Tiếng Ý). TuttoMercatoWeb. 5 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2007. 
  23. ^ “«Amauri mi considera suo erede»” (bằng Tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. 28 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]