Đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha
| Tên khác | Selecção das Quinas | ||
| Hiệp hội | Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha (Federação Portuguesa de Futebol) |
||
| Liên đoàn châu lục | UEFA (châu Âu) | ||
| Huấn luyện viên | |||
| Đội trưởng | Cristiano Ronaldo | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Luís Figo (127) | ||
| Vua phá lưới | Pedro Miguel Pauleta (47) | ||
| Mã FIFA | POR | ||
| Xếp hạng FIFA | 5 (5.2013) | ||
| Cao nhất | 3 (3.2001) | ||
| Thấp nhất | 43 (8.1998) | ||
| Hạng Elo | 8 (11.4.2011) | ||
| Elo cao nhất | 2 (6.2006) | ||
| Elo thấp nhất | 45 (11.1962) | ||
|
|
|||
| Trận quốc tế đầu tiên (Madrid, Tây Ban Nha; 18 tháng 11, 1921) |
|||
| Trận thắng đậm nhất (Lisboa, Bồ Đào Nha; 18 tháng 11, 1994) (Coimbra, Bồ Đào Nha; 9 tháng 6, 1999) (Leiria, Bồ Đào Nha; 19 tháng 11, 2003) |
|||
| Trận thua đậm nhất (Lisboa, Bồ Đào Nha; 25 tháng 5, 1947) |
|||
|
|
|||
| Giải Thế giới | |||
| Số lần tham dự | 5 (lần đầu vào năm 1966) | ||
| Kết quả tốt nhất | Hạng ba 1966 | ||
| Giải vô địch bóng đá châu Âu | |||
| Số lần tham dự | 6 (lần đầu vào năm 1984) | ||
| Kết quả tốt nhất | Hạng nhì (2004) | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha, còn có biệt danh là "Selecção das Quinas", là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha và đại diện cho Bồ Đào Nha trên bình diện quốc tế.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Bồ Đào Nha là trận gặp đội tuyển Tây Ban Nha vào năm 1921.Thành tích lớn nhất của đội cho đến nay là ngôi vị hạng ba World Cup 1966 và ngôi á quân Giải vô địch bóng đá châu Âu 2004.
Mục lục |
Danh hiệu [sửa]
- Á quân: 2004
Thành tích quốc tế [sửa]
Giải vô địch bóng đá thế giới [sửa]
| Năm | Kết quả | St | T | H [1] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Không tham dự | |||||||
| Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Hạng ba | 6 | 5 | 0 | 1 | 17 | 8 | |
| Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 2 | 4 | |
| Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 6 | 4 | |
| Hạng tư | 7 | 4 | 1 | 2 | 7 | 5 | |
| Vòng 2 | 4 | 1 | 2 | 1 | 7 | 1 | |
| Tổng cộng | 5/19 1 lần: Hạng ba |
23 | 12 | 3 | 8 | 39 | 22 |
Giải vô địch châu Âu [sửa]
| Năm | Kết quả | St | T | H [1] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Bán kết | 4 | 1 | 2 | 1 | 4 | 4 | |
| Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Tứ kết | 4 | 2 | 1 | 1 | 5 | 2 | |
| Bán kết | 5 | 4 | 0 | 1 | 10 | 4 | |
| Á quân | 6 | 3 | 1 | 2 | 8 | 6 | |
| Tứ kết | 4 | 2 | 0 | 2 | 7 | 6 | |
| Bán kết | 5 | 3 | 0 | 2 | 6 | 4 | |
| Tổng cộng | 6/14 1 lần: Á quân |
28 | 15 | 5 | 8 | 40 | 26 |
Giải vô địch bóng đá thế giới [sửa]
Tính đến năm 2010, đội tuyển Bồ Đào Nha đã 1 lần đứng thứ ba, 1 lần đứng thứ tư trong những lần tham dự World Cup.
World Cup 1966 [sửa]
Năm 1966 Bồ Đào Nha khởi đầu thành công ở giải đấu với cả 3 chiến thắng ở bảng C trước Hungary, Bulgaria và đương kim vô địch Brasil. Vòng 2 họ đánh bại ngựa ô đến từ châu Á Bắc Triều Tiên 5-3, trong đó Eusébio ghi liền 4 bàn sau khi đội nhà bị dẫn trước 0-3. Họ vào đến bán kết và chịu thua chủ nhà Anh 1-2. Bồ Đào Nha sau đó đánh bại Liên Xô 2-1 để giành lấy hạng ba, thành tích tốt nhất của họ tại World Cup cho đến nay. Eusébio là Vua phá lưới của giải với 9 bàn thắng.
Eusébio còn tham dự vòng loại các World Cup 1970 và 1974, tuy nhiên Bồ Đào Nha không vượt qua được vòng loại.
World Cup 1986 [sửa]
Tại vòng loại World Cup 1986 Bồ Đào Nha buộc phải thắng Tây Đức tại Stuttgart ở trận cuối cùng vòng loại mới có thể vào vòng chung kết. Bồ Đào Nha đã thắng 1-0 và trở thành đội bóng đầu tiên đánh bại Tây Đức trên sân nhà của họ trong một trận đấu chính thức. Bồ Đào Nha được kì vọng sẽ có một giải đấu thành công do những thành công tại Euro 1984. Tuy nhiên họ đã phải sớm rời giải từ vòng bảng với 1 trận thắng và 2 trận thua.
World Cup 2002 [sửa]
Bồ Đào Nha tại World Cup 2002 được hi vọng sẽ nhất bảng D, tuy nhiên đã sớm bị sốc khi bị Mỹ vượt qua với tỉ số 3-2. Sau đó họ thắng Ba Lan 4-0 với Pauleta lập một hat-trick.
Cần ít ra 1 điểm ở trận cuối cùng nhưng Bồ Đào Nha đã thất bại trước chủ nhà Hàn Quốc 0-1 với hai cầu thủ bị đuổi trong trận này bởi trọng tài Argentina Angel Sanchez, người có những quyết định được cho rằng giúp đỡ chủ nhà. [1]
World Cup 2006 [sửa]
Đội tuyển Bồ Đào Nha tham dự World Cup 2006 dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên vừa đưa đội tuyển Brasil vô địch World Cup 2002, Luis Felipe Scolari. Họ dễ dàng nhất bảng D với cả 3 chiến thắng trước Angola (1-0), Iran (2-0), và Mexico (2-1).
Bồ Đào Nha vượt qua Hà Lan 1-0 ở vòng 2 trong một trận đấu được coi là bạo lực nhất trong lịch sử World Cup với 16 thẻ vàng và 4 cầu thủ bị truất quyền thi đấu.
Bồ Đào Nha tiếp tục vượt qua Anh trên loạt sút luân lưu, trong trận đấu mà Wayne Rooney bị đuổi khỏi sân một cách gây tranh cãi. Họ tái lập được thành tích vào được bán kết của thời Eusébio 40 năm trước.
Tuy nhiên, Bồ Đào Nha lần lượt thất bại trước Pháp (0-1) ở bán kết và chủ nhà Đức (1-3) ở trận tranh giải ba, không lập lại được vị trí thứ ba như năm 1966.
Mặc dù chỉ vào tới bán kết, người dân Bồ Đào Nha vẫn tiếp đón đội tuyển của họ như những người hùng khi họ trở về quê nhà. Đội bóng được nhận danh hiệu Đội bóng được mến mộ nhất giải đấu này, giải thưởng được bình chọn qua việc bỏ phiếu của công chúng.
Thế hệ vàng của Bồ Đào Nha như Luís Figo, Rui Costa, Sérgio Conceição... lần lượt giải nghệ sau World Cup 2006. Một thế hệ cầu thủ mới từ đội tuyển U-21 đưa lên như Ricardo Quaresma, Joao Moutinho, Miguel Veloso, Nani, Manuel Fernandes và đặc biệt là Cristiano Ronaldo đã đưa Bồ Đào Nha lọt vào vòng chung kết Euro 2008, là những cầu thủ được kì vọng sẽ đem lại những thành công trong tương lai cho đội tuyển quốc gia.
Giải vô địch bóng đá châu Âu [sửa]
Tính đến nay, tại các giải vô địch bóng đá châu Âu (Euro), đội tuyển Bồ Đào Nha đã 1 lần vào chung kết và 2 lần vào bán kết.
Euro 1984 [sửa]
Đây là lần đầu tiên Bồ Đào Nha lọt vào vòng chung kết một giải vô địch châu Âu. Ở vòng đấu loại, phải đến trận cuối cùng thắng Liên Xô 1-0 họ mới được tham dự vòng chung kết. Bồ Đào Nha ở bảng B cùng với Tây Ban Nha, Tây Đức và Romania. Hai trận đầu tiên họ đều hoà, 0-0 và 1-1 trước Tây Đức và Tây Ban Nha. Chiến thắng 1-0 trước Romania ở trận cuối vòng bảng đưa họ lên nhì bảng, đủ để lọt vào bán kết.
Ở bán kết Bồ Đào Nha gặp chủ nhà Pháp, một trong những trận đấu kịch tính nhất lịch sử Euro. Pháp mở tỉ số, sau đó gần một tiếng Bồ Đào Nha gỡ hoà. Hai hiệp chính kết thúc và hai đội bước vào hiệp phụ. Ở hiệp phụ thứ nhất hai đội đều có cơ hội ghi bàn và Bồ Đào Nha dẫn điểm 2-1. Khi 6 phút là kết thúc trận đấu, Pháp gỡ hoà và ghi được bàn thắng quyết định ở phút cuối cùng. Bồ Đào Nha dừng bước ở bán kết.
Euro 1996 [sửa]
Ở vòng chung kết, Bồ Đào Nha hoà 1-1 với đương kim vô địch Đan Mạch, thắng Thổ Nhĩ Kỳ 1-0 và hạ Croatia 3-0, vào tứ kết với vị trí đầu bảng. Tuy nhiên ở tứ kết họ thất thủ trước đội á quân của giải Cộng hoà Séc 0-1.
Euro 2000 [sửa]
Giải đấu này là một thành công bất ngờ với lứa cầu thủ Thế hệ vàng của Bồ Đào Nha, với thủ lĩnh Luís Figo. Họ lần lượt đánh bại Anh, Romania và Đức để xếp nhất bảng, vượt qua Thổ Nhĩ Kỳ ở tứ kết.
Tại bán kết họ gặp đương kim vô địch thế giới Pháp. Bồ Đào Nha mở tỉ số. Tuy nhiên Pháp gỡ hoà, và có bàn thắng vàng ở chấm phạt đền của Zinedine Zidane trong hiệp phụ. Trọng tài Áo Gunter Benko đã có quyết định gây tranh cãi sau khi Abel Xavier để bóng chạm tay từ cú sút của Sylvain Wiltord. (Ban đầu Benko chỉ cho Pháp một quả phạt góc, sau đó thay đổi quyết định khi tham khảo ý kiến của trợ lí). Abel Xavier, Nuno Gomes và Paulo Bento đã bị cấm thi đấu quốc tế dài hạn sau khi xô trọng tài để phản ứng về quyết định đó. [2]
Euro 2004 [sửa]
Giải đấu này được tổ chức tại quê hương Bồ Đào Nha. Bồ Đào Nha với tư cách chủ nhà đã vào tận đến chung kết trước khi thua Hy Lạp 0-1 bằng bàn thắng của tiền đạo Angelos Charisteas. Trước đó ở trận khai mạc Hy Lạp cũng vượt qua Bồ Đào Nha 2-1. Đây là lần thứ hai trong lịch sử trận chung kết lặp lại trận khai mạc, trước đó ở Euro 1988 Liên Xô và Hà Lan cũng đã từng gặp nhau trong cả trận khai mạc và chung kết.
Euro 2008 [sửa]
Ở vòng loại Bồ Đào Nha nhì bảng A (sau Ba Lan) và vào vòng chung kết được phân vào bảng A cùng chủ nhà Thuỵ Sĩ, Cộng hoà Séc và Thổ Nhĩ Kỳ. Bồ Đào Nha đã có màn trình diễn ấn tượng ở vòng bảng khi thắng cả 2 trận đầu tiên, dẫn đầu bảng và gặp Đức ở tứ kết. Tuy được đánh giá cao hơn ở trận tứ kết nhưng cuối cùng họ đã thất bại 2-3. Cristiano Ronaldo là người được kì vọng sẽ toả sáng ở Euro lần này nhưng đã không thể hiện được gì nhiều. Sau giải đấu này, huấn luyện viên Felipe Scolari từ giã đội tuyển, chuyển sang huấn luyện cho câu lạc bộ Chelsea.
Cầu thủ [sửa]
Đội hình hiện tại [sửa]
Đây là đội hình được triệu tập cho các trận đấu tại vòng loại Euro 2012 với Síp ngày 2 tháng 9 năm 2011.
Số lần ra sân và bàn thắng tính đến ngày 10 tháng 8, 2011.
Các cầu thủ nổi tiếng [sửa]
Các cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất [sửa]
Tính đến 14 tháng 10 năm 2009, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Bồ Đào Nha nhiều lần nhất là:
| # | Họ tên | Năm thi đấu | Số trận | Số bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Luís Figo | 1991 – 2006 | 127 | 32 |
| 2 | Fernando Couto | 1990 – 2004 | 110 | 8 |
| 3 | Rui Costa | 1993 – 2004 | 94 | 26 |
| 4 | Pauleta | 1997 – 2006 | 88 | 47 |
| 5 | João Vieira Pinto | 1991 – 2002 | 81 | 23 |
| 6 | Vítor Baía | 1990 – 2002 | 80 | 0 |
| 7 | Ricardo | 2001 – nay | 79 | 0 |
| 8 | Nuno Gomes | 1996 – nay | 77 | 29 |
| 9 | Simão | 1998 – nay | 76 | 21 |
| 10 | João Pinto | 1983 – 1996 | 70 | 1 |
Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất [sửa]
Tính đến 14 tháng 10 năm 2009, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bồ Đào Nha là [2]:
| # | Họ tên | Năm thi đấu | Số bàn thắng | Số trận |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Pauleta | 1997 – 2006 | 47 | 88 |
| 2 | Eusébio | 1961 – 1973 | 41 | 64 |
| 3 | Luís Figo | 1991 – 2006 | 32 | 127 |
| 4 | Cristiano Ronaldo | 2003 – nay | 30 | 76 |
| 5 | Nuno Gomes | 1996 – nay | 29 | 77 |
| 5 | Rui Costa | 1993 – 2004 | 26 | 94 |
| 6 | João Pinto | 1991 – 2002 | 23 | 81 |
| 7 | Nené | 1971 – 1984 | 22 | 66 |
| 9 | Simão | 1998 – nay | 21 | 76 |
| 10 | Fernando Peyroteo | 1938 – 1949 | 15 | 20 |
| = | Rui Jordão | 1975 – 1989 | 15 | 43 |
Chú thích [sửa]
- ^ a b Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
- ^ “Melhores Marcadores”. fpf.pt (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Liên đoàn bóng đá Bồ Đào Nha. Đã bỏ qua tham số không rõ
|access=(trợ giúp)
Liên kết ngoài [sửa]
- Trang chủ của Liên đoàn bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha)
- Thống kê của RSSSF về kết quả giai đoạn 1921-2003 (tiếng Anh)
- Thống kê của RSSSF về cầu thủ khoác áo đội tuyển và ghi bàn nhiều nhất (tiếng Anh)
- Thống kê của RSSSF về các huấn luyện viên từ năm 1921 (tiếng Anh)
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Đội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào Nha. |