Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới
| Năm bắt đầu | 1977 |
|---|---|
| Khu vực | Quốc tế (FIFA) |
| Số đội tham dự | 24 |
| Đương kim vô địch | |
| Đội tuyển thành công nhất | |
| Trang chủ | FIFA.com |
Giải vô địch U20 thế giới, tên trước đây là giải vô địch trẻ thế giới, là giải đấu bóng đá dành cho nam giới độ tuổi từ 20 trở xuống và được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA). Giải đấu được tổ chức 2 năm một lần và lần đầu tiên là vào năm 1977 ở Tunisia[1].
Trong lần thứ 16 giải được tổ chức, mới chỉ có 8 quốc gia từng vô địch. Argentina là đội vô địch nhiều nhất với 6 lần, theo sau đó là Brazil với 4 lần. Bồ Đào Nha vô địch 2 lần trong khi Ghana, Đức, Tây Ban Nha cùng những đội chỉ có trong quá khứ như Liên Xô hay Yugoslavia đều đã vô địch 1 lần.
Cũng có một giải đấu dành cho nữ, giải U20 nữ vô địch thế giới, bắt đầu tổ chức vào năm 2002 với tên "Giải vô địch nữ U19 thế giới" và có độ tuổi giới hạn là 19. Độ tuổi giới hạn cho giải đấu nữ được tăng lên thành 20 ở giải năm 2006, và giải đấu đổi tên thành "Cúp thế giới" vào năm 2007 để chuẩn bị cho sự kiện vào năm 2008.
Giải đấu dành cho nam vào năm 2009 được tổ chức ở Ai Cập; giải đấu năm 2011 sẽ được tổ chức ở Colombia.
Mục lục |
Vòng loại [sửa]
Giải đấu này, cũng được biết tới với cái tên FIFA Coca-Cola Cup tới năm 1997, quy tụ 24 đội bóng ở vòng chung kết. 23 quốc gia, bao gồm cả đội đương kim vô địch, đều phải đá vòng loại ở sáu khu vực. Nước đăng cai nghiễm nhiêm được vào thẳng vòng bảng.
Kết quả [sửa]
Tóm tắt [sửa]
- chú thích
- h.p - trận đấu kết thúc sau hiệp phụ
- pen - trận đấu kết thúc sau loạt luân lưu
Sự thể hiện của các đội tuyển [sửa]
Dưới đây là 28 quốc gia đã vào được tối thiểu là vòng bán kết giải vô địch U20 thế giới. Argentina là đội tuyển thành công nhất, dẫn đầu với 6 chức vô địch, 7 lần vào chung kết và 1 lần về đích ở vị trí thứ tư.
| Đội tuyển | Vô địch | Về nhì | Về thứ ba | Về thứ tư |
|---|---|---|---|---|
| 6 (1979, 1995, 1997, 2001, 2005, 2007) | 1 (1983) | 1 (2003) | ||
| 5 (1983, 1985, 1993, 2003, 2011) | 3 (1991, 1995, 2009) | 3 (1977, 1989, 2005) | ||
| 2 (1989, 1991) | 2 (1995, 2011) | |||
| 1 (2009) | 2 (1993, 2001) | 1 (1997) | ||
| 1 (1999) | 2 (1985, 2003) | 1 (1995) | ||
| 1 (1977) | 1 (1979) | 1 (1991) | 1 (1985) | |
| 1 (19811) | 1 (19871) | 1 (19872) | ||
| 1 (1987) | ||||
| 2 (1989, 2005) | 1 (1985) | |||
| 1 (1997) | 1 (1979) | 2 (1977, 1999) | ||
| 1 (2007) | ||||
| 1 (1999) | ||||
| 1 (1977) | 1 (2011) | |||
| 1 (1981) | ||||
| 1 (2007) | 1 (1987) | |||
| 1 (1993) | 1 (1981) | |||
| 1 (1983) | 1 (1979) | |||
| 1 (2003) | ||||
| 1 (2001) | ||||
| 1 (2009) | ||||
| 1 (1997) | ||||
| 1 (1999) | ||||
| 1 (1981) | ||||
| 2 (1991, 1993) | ||||
| 1 (2007) | ||||
| 1 (2009) | ||||
| 1 (1983) | ||||
| 1 (2005) | ||||
| 1 (2001) | ||||
| 1 (1989) | ||||
| 1 (2011) |
Sự thể hiện của các đội tuyển trong khu vực [sửa]
Mọi khu vực trừ châu Đại Dương đều đã có đại diện góp mặt trong trận chung kết. Tới tới nay, Nam Mĩ đang dẫn đầu với 10 chức vô địch, theo sau là Châu Âu với 6 chức vô địch và châu Phi với 1 danh hiệu. Các đội tuyển từ Châu Á và Bắc Mĩ đã 3 lần vào chung kết, nhưng đều gây thất vọng. Vị trí thứ tư tính tới thời điểm này đang là thành tích tốt nhất của châu Đại Dương, họ giành được vị trí này vào năm 1993.
| Liên đoàn (khu vực) | Màn trình diễn |
|---|---|
| CONMEBOL (Nam Mĩ) | 10 danh hiệu, của Argentina (6) và Brazil (4) |
| UEFA (Châu Âu) | 6 danh hiệu, bởi Bồ Đào Nha (2), Tây Ban Nha (1), Liên Xô (1), Đức (1) và Nam Tư (1) |
| CAF (Châu Phi) | 1 danh hiệu, bởi Ghana |
| AFC (Châu Á) | Về nhì (Nhật Bản, 1999), Về nhì (Qatar, 1981) |
| CONCACAF (Bắc Mĩ, Nam Mĩ và Caribbean) | Về nhì (Mexico, 1977) |
| OFC (châu Đại Dương) | Về thứ tư (Úc, 1991 và 1993) |
Giải thưởng [sửa]
Giải thưởng Quả bóng vàng của Adidas [sửa]
Giải Quả bóng vàng của adidas được trao cho cầu thủ thi đấu nổi bật nhất giải đấu. Nó được bầu chọn bởi giới truyền thông.
Giải thưởng Chiếc giày vàng của Adidas [sửa]
Giải thưởng Chiếc giày vàng của adidas được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải đấu. Nếu có nhiều hơn một cầu thủ ghi cùng một số bàn thắng, họ sẽ chọn cầu thủ theo số lần kiến tạo nhiều nhất trong giải đấu.
| Giải đấu | Người giành giải | Bàn thắng |
|---|---|---|
| 1977 Tunisia | 4 | |
| 1979 Nhật Bản | 8 | |
| 1981 Úc | 4 | |
| 1983 Mexico | 6 | |
| 1985 Liên Xô | 3 | |
| 1987 Chile | 7 | |
| 1989 Arab Saudi | 5 | |
| 1991 Bồ Đào Nha | 5 | |
| 1993 Úc | 3 | |
| 1995 Qatar | 7 | |
| 1997 Malaysia | 10 | |
| 1999 Nigeria | 5 | |
| 2001 Argentina | 11 | |
| 2003 UAE | 4 | |
| 2005 Hà Lan | 6 | |
| 2007 Canada | 6 | |
| 2009 Ai Cập | 8 | |
| 2011 Colombia | 5 |
Giải FIFA Fair Play [sửa]
FIFA Fair Play là giải thưởng được trao cho đội chơi đẹp nhất giải đấu và được bầu chọn bởi Hội đồng Fair Play của FIFA.
| Giải đấu | Đội giành giải |
|---|---|
| 1977 Tunisia | |
| 1979 Nhật Bản | |
| 1981 Úc | |
| 1983 Mexico | |
| 1985 Liên Xô | |
| 1987 Chile | |
| 1989 Ả Rập Saudi | |
| 1991 Portugal | |
| 1993 Úc | |
| 1995 Qatar | |
| 1997 Malaysia | |
| 1999 Nigeria | |
| 2001 Argentina | |
| 2003 United Arab Emirates | |
| 2005 Hà Lan | |
| 2007 Canada | |
| 2009 Ai Cập | |
| 2011 Colombia |
Tham khảo [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
- Giải vô địch bóng đá U-17 thế giới trên trang chủ của FIFA.com
- Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới trên trang RSSSF
|
|||||||||||||||||||||||||||||