Seydou Keita

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Seydou Keita
Keita August 2008 Joan Gamper Trophy.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Seydou Keita
Ngày sinh 16 tháng 1, 1980 (34 tuổi)
Nơi sinh Bamako, Mali
Chiều cao 1,83 m (6 ft 0 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Barcelona
Số áo 15
CLB trẻ
1995–1997 Centre Salif Keita
1997–1999 Marseille
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1999–2000 Marseille 6 (0)
2000–2002 Lorient 58 (1)
2002–2007 Lens 156 (19)
2007–2008 Sevilla 31 (4)
2008– Barcelona 75 (11)
Đội tuyển quốc gia
2000– Mali 55 (16)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 8 tháng 1 năm 2011.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 19 tháng 1 năm 2010

Seydou Keita (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1980Bamako) là một cầu thủ bóng đá người Mali hiện đang chơi cho FC Barcelona. Anh có biệt danh "Seydoubilen" hay "Seydou đỏ", Keita là cháu của Salif Keita.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Olympique Marseille[sửa | sửa mã nguồn]

Keita có lần ra sân đầu tiên cho Olympique Marseille vào tháng 9 năm 1999, nhưng không lâu sau anh đã chuyển tới FC Lorient.

Lorient[sửa | sửa mã nguồn]

Lorient chính là nơi đã khiến Keita được nhiều đội bóng nhòm ngó hơn, anh ghi 1 bàn trong 58 trận ra sân ở vị trí tiền vệ lùi.

RC Lens[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hai năm chơi cho Lorient, Keita chuyển về RC Lens, nhanh chóng được trao băng đội trưởng. Anh bắt đầu ghi nhiều bàn hơn khi ghi 19 bàn trong 156 trận ra sân trong 4 mùa giải.

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 11 tháng 7 năm 2007, Lens bán đội trưởng của họ cho FC Sevilla. Đó là một mùa giải rất thành công cho Keita khi anh ghi 4 bàn trong 31 lần ra sân ở La Liga, và được nhòm ngó bởi một loại các đội bóng hàng đầu châu Âu. Một trong 4 bàn anh ghi được là vào lưới Real Madrid. Đó chính là lí do anh thu hút được sự chú ý của một loạt các đội bóng hàng đầu, trong đó có Barcelona.Vào ngày 27 tháng 11 năm 2007, Keita ghi bàn đầu tiên ở cúp C1 vào lưới Arsenal.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 26 tháng 5 năm 2008, Keita kí hợp đồng với đội bóng xứ Catalan với mức giá khoảng 14 triệu euro. Anh trở thành cầu thủ Mali đầu tiên của Barca và có mức phí phá bỏ hợp đồng là 90 triệu euro. Keita có trận ra mắt ở vòng loại cúp C1 gặp Wisła Kraków vào ngày 13 tháng 8 năm 2008. Anh có trận ra mắt ở giải quốc nội vào ngày 31 tháng 8 năm 2008 gặp CD Numancia. Keita ghi bàn đầu tiên cho Barca vào ngày 16 tháng 11 năm 2008 ở La Liga gặp Recreativo de Huelva, ghi bàn thứ 2 trong chiến thắng 2-0. Anh đã được vào sân ở phút 72 để thay Thierry Henry trong trận chung kết cúp C1 gặp Manchester United.

Dalian Aerbin[sửa | sửa mã nguồn]

Keita buộc phải rời Barcelona vì thuế ở Tây Ban Nha

Thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trên cấp độ quốc tế, Keita đã chơi nhiều trận cho đội tuyển bóng đá quốc gia Mali. Anh được đánh giá là một trong những tiền vệ xuất sắc nhất châu Phi với kĩ năng chuyền bóng, kiểm soát bóng và sút sa.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

tính đến ngày 27 tháng 1 năm 2011[1][2]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải Cúp[3] châu Âu[4] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Marseille 1999–00 6 0 3 1 9 1
Tổng cộng 6 0 3 1 9 1
Lorient 2000–01 37 1 37 1
2001–02 21 0 2 1 23 1
Tổng cộng 58 1 2 1 60 2
Lens 2002–03 28 2 7 0 35 0
2003–04 22 0 6 0 28 0
2004–05 34 3 34 3
2005–06 35 3 6 0 41 3
2006–07 37 11 10 0 47 11
Tổng cộng 156 19 29 0 185 19
Sevilla 2007–08 31 4 7 2 38 6
Tổng cộng 31 4 7 2 38 6
Barcelona 2008–09 29 4 5 0 12 2 46 6
2009–10 29 6 3 0 12 0 44 6
2010–11 17 1 9 2 3 0 29 3
Tổng cộng 75 11 17 2 27 2 119 15
Tổng sự nghiệp 326 34 19 3 66 5 411 42

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Lorient[sửa | sửa mã nguồn]

Sevilla[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]