Thierry Henry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thierry Henry
Thierry Henry applauding 2012.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Thierry Daniel Henry[1]
Nơi sinh Pháp, Les Ulis, Essonne
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in) [1]
Vị trí Tiền đạo
CLB trẻ
1983–1989 CO Les Ulis
1989–1990 US Palaiseau
1990–1992 Viry-Châtillon
1992 Clairefontaine
1992–1994 Monaco
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1994–1999 Monaco 105 (20)
1999 Juventus 16 (3)
1999–2007 Arsenal 254 (174)
2007–2010 Barcelona 80 (35)
2010– Red Bulls 37 (16)
2012 Arsenal (mượn) 4 (1)
Tổng cộng 581 (284)
Đội tuyển quốc gia
1997 Pháp (U21) 5 (3)
1997–2010 Pháp 123 (51)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 21/10/2014 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 21/10/2014 (UTC)

Thierry Daniel Henry (Phát âm tiếng Pháp: [tjɛʁi ɑ̃ʁi] (sinh ngày 17 tháng 8 năm 1977) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp. Anh đã thi đấu cho các câu lạc bộ Monaco, Juventus, Barcelona, New York Red Bulls và dành 8 năm tại Arsenal nơi anh trở thành cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại.Ở cấp độ đội tuyển, anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia Pháp và cũng là chân sút vĩ đại nhất trong màu áo lam.

Henry sinh ra tại Les Ulis, Essonne, ngoại ô thủ đô Paris, anh đã chơi cho đội bóng địa phương trong khoảng thời gian từ năm 1983-89, trước khi anh được phát hiện và kí hợp đồng với AS Monaco vào năm năm 1990.[2] Anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp năm 1994 và chơi ở Monaco đến năm 1998, phong độ tốt đã giúp anh được gọi vào đội tuyển quốc gia. Sau đó, Henry chuyển tới chơi cho nhà đuơng kim vô địch Serie A lúc bấy giờ là Juventus, nhưng sau một mùa giải thất vọng chơi ở vị trí tiền vệ cánh,[3] anh gia nhập câu lạc bộ Anh Arsenal với giá chuyển nhượng 11 triệu bảng Anh năm 1999.[2]

Tại Arsenal, anh nổi lên là một cầu thủ đẳng cấp thế giới, giúp anh đã tạo dựng được tên tuổi cũng như thương hiệu của mình. Cho dù ban đầu gặp khó khăn khi thích nghi với Premier League, anh là chân sút số một của đội bóng tại gần như mọi mùa giải. Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Arsene Wenger, Henry trở thành một tiền đạo sát thủ và là chân sút xuất sắc nhất mọi thời đại với 228 bàn thắng trên mọi đấu trường. Cầu thủ người pháp giành hai chức vô địch quốc gia và ba cúp FA với Arsenal, hai lần về nhì trong cuộc đua danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA, hai lần giành dah nhiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội cầu thủ nhà nghề Anh và ba lần giành danh hiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội các nhà báo bóng đá Anh. Henry trải qua hai mùa giải cuối cùng tại Arsenal với tư cách đội trưởng và đưa đội bóng vào đến chung kết UEFA Champions League 2006.

Tháng 6 năm 2007, sau 8 năm tại Arsenal, anh chuyển đến chơi cho Barcelona với mức phí 24 triệu euro. Năm 2009, Henry góp phần quan trọng giúp câu lạc bộ đạt được cú ăn ba lịch sử khi họ giành La Liga, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha và UEFA Champions League. Tiếp đó anh còn cùng câu lạc bộ giành cú ăn sáu vĩ đại khi thắng Siêu Cúp Tây Ban Nha, Siêu Cúp châu Âu và Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ. Henry năm lần được góp mặt trong Đội hình xuất sắc năm của UEFA. Năm 2010, anh gia nhập New York Red Bulls tại giải Bóng đá nhà nghề Mỹ và giành một danh hiệu ngay năm đó. Năm 2012 anh trở lại Arsenal hai tháng theo dạng cho mượn. Năm 2013, Henry cùng New York Red Bulls giành thêm một danh hiệu nữa với thành tích xuất sắc nhất mùa giải.

Henry có một sự nghiệp thành công trong màu áo đội tuyển quốc gia, giành chức vô địch World Cup 1998, EURO 2000cúp Liên đoàn các châu lục 2003. Tháng 10 năm 2007, anh vượt qua kỷ lục của Michel Platini để trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử tuyển Pháp. Anh giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau World Cup 2010. Ngoài đời, anh ủng hộ mạnh mẽ phong trào chống phân biệt chủng tộc trong bóng đá, một phần bởi trải nghiêmh của chính mình. Anh cưới người mẫu Anh Nicole Merry năm 2003 và có một con gái, nhưng đã ly hôn vào năm 2007. Năm 2006 Henry từng đứng thứ 9 trong danh sách những cầu thủ kiếm tiền nhiều nhất thế giới.

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Henry có gốc gác từ quần đảo Caribe[4]. Bố anh, Antoine, đến từ Guadeloupe trong khi mẹ anh, Maryse, đến từ Martinique. Anh sinh ra và lớn lên tại Les Ulis ngoại ô Paris, nơi có cơ sở vật chất cho bóng đá khá phát triển.[2][5] Anh thể hiện tiềm năng đặc biệt khi lên 7 tuổi, giúp anh được tuyển vào câu lạc bộ địa phương CO Les Ulis. Bố anh luôn thúc giục anh tập luyện cho dù Henry không thực sự quan tâm đến bóng đá.[6] Anh gia nhập US Palaiseau năm 1989 nhưng sau một năm, bố anh có bất đồng với câu lạc bộ, nên anh đã chuyển đến ES Viry-Châtillon và chơi ở đó hai năm.[4] Huấn luyện viên của anh tại US Palaiseau Jean-Marie Panza, cũng là người dẫn dắt Henry sau này, theo anh đến đó.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Monaco (1992-1999) và Juventus (1999)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1990, Monaco gửi tuyển trạch viên Arnold Catalano đến quan sát Henry trong một trận đấu.[7] Henry ghi cả sáu bàn thắng trong chiến thắng 6-0. Catalano đề nghị anh đến Monaco mà không cần thử việc. Catalano yêu cầu anh hoàn thành một khóa học tại học viện bóng đá danh tiếng Clairefontaine, và bất chấp sự do dự của giám đốc bóng đá vì kết quả không tốt, anh vẫn hoàn thành khóa học và trở thành cầu thủ trẻ của Monaco dưới sự dẫn dắt của Arsene Wenger.[6] Henry ký hợp đồng chuyên nghiệp và có trận đấu ra mắt ngày 31 tháng 8 năm 1994, trong trận thua 2-0 trước Nice.[7] Cho dù đã nhận ra tố chất săn bàn của Henry, Wenger vẫn để anh chơi bên cánh trái vì ông tin rằng tốc độ và khả năng xử lý bóng của anh sẽ hiệu quả với các hậu vệ cánh hơn là trung vệ.[4]

Sau khởi đầu bấp bênh tại Monaco, Henry được bầu là Cầu thủ trẻ người Pháp xuất sắc nhất năm 1996, và vào mùa giải 1996-97, màn trình diễn của anh đã giúp câu lạc bộ giành chức vô địch Ligue 1.[6][8] Trong suốt mùa giải 1997-98, anh là nhân tố quan trọng giúp câu lạc bộ lọt vào bán kết UEFA Champions League và lập kỷ lục tại Pháp khi ghi bảy bàn tại giải này.[4][9] Cuối mùa giải thứ ba, anh lần đầu được triệu tập lên đội tuyển quốc gia, và là một phần trong đội hình vô địch thế giới năm 1998.[4] Anh tiếp tục gây ấn tượng trong màu áo Monaco, và trong năm mùa giải ở đây, cầu thủ chạy cánh người Pháp đã ghi 20 bàn thắng trong 105 lần ra sân.[8]

Henry rời Monaco vào tháng 1 năm 1999 một năm trước người bạn và đồng đội thân thiến David Trezeguet để đến Juventus với mức phí 10.5 triệu bảng Anh.[6] Anh tiếp tục chơi ở cánh,[10] nhưng ở một vị trí không dành cho mình, anh tỏ ra không hiệu quả trước những hàng thủ chơi kỷ luật tại Serie A và chỉ ghi vỏn vẹn 3 bàn thắng trong 16 lần ra sân.[11]

Arsenal (1999-2007)[sửa | sửa mã nguồn]

Henry được chọn làm đội trưởng khi Patrick Vieira chuyển sang Juventus vào năm 2005.

Không thi đấu tốt ở Ý, Henry chuyển từ Juventus trong tháng Tám 1999 tới Arsenal với giá chuyển nhượng 11 triệu bảng Anh, một lần nữa thi đấu dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên Arsène Wenger.[12][13] Tại Arsenal Henry đã trở thành tiền đạo hàng đầu thế giới,[14] và cho dù có nhiều tranh cãi xung quanh vụ chuyển nhượng của anh, Wenger tin rằng mức giá đó là hợp lý.[4] Được mua về để thay thế tiền đạo đồng hương Nicolas Anelka, Henry ngay lập tức được xếp đá tiền đạo, một quyết định đã thay đổi cuộc đời anh sau này. Tuy nhiên, vẫn có nhiều nghi ngờ về khả năng hòa nhập của anh với lối chơi nhanh và thể lực tại Anh sau khi Henry tịt ngòi trong 8 trận đấu đầu tiên.[2] Sau một vài tháng đầu gặp khó khăn, Henry thừa nhận rằng anh "cần phải học lại toàn bộ nghệ thuật tấn công."[2] Những nghi ngờ trên hoàn toàn tan biến khi anh kết thúc mùa giải đầu tiên với 26 bàn thắng trên mọi đấu trường.[15] Arsenal về nhì tại Premier League sau Manchester United và thất bại trong trận chung kết cúp UEFA trước đội bóng Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray.[4]

Trở về sau chiến dịch Euro 2000 thành công với tuyển Pháp, Henry sẵn sàng cho mùa giải mới 2000-01. Cho dù ghi bàn và kiến tạo ít hơn mùa giải đầu tiên, mùa giải này là một bước đột phá với Henry khi anh trở thành chân sút tốt nhất của đội bóng.[3] Với một trong những chân sút xuất sắc nhất giải đấu, Arsenal vẫn về nhì sau đối thủ truyền kiếp Manchester United. Đội bóng cũng vào đến chung kết cúp FA trước khi để thua Liverpool 2-1. Tuy nhiên Henry vẫn không hài lòng khi chưa thể giúp câu lạc bộ giành danh hiệu nào, và thường xuyên thể hiện mong muốn biến câu lạc bộ trở thành một thế lực.[4]

Thành công cuối cùng cũng đến vào mùa giải 2001-02 khi Arsenal bỏ cách Liverpool 7 điểm để giành Premier League, cũng như đánh bại Chelsea 2-0 trong trận chung kết cúp FA.[4] Henry là chân sút số 1 của Premier League và ghi 32 bàn trên mọi đấu trường giúp Arsenal giành cú đúp và cũng là danh hiệu đầu tiên anh có cùng câu lạc bộ.[6][3] Điều đó khiến mọi người kỳ vọng anh sẽ thể hiện được phong độ xuất sắc đó trong màu áo tuyển Pháp tại World Cup 2002, nhưng nhà đương kim vô địch đã bị loại ngay từ vòng bảng.[4]

Henry trở lại thuyết phục vào mùa giải 2002-03 với 32 bàn thắng và 23 đường kiến tạo tại mọi giải đấu.[3] Anh mang về chiếc cúp FA tiếp theo cho Arsenal (đồng thời được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận chung kết)[16] nhưng không thể giúp câu lạc bộ giữ lại ngôi vương Premier League.[17] Trong suốt mùa giải, anh cạnh tranh quyết liệt với chân sút của Manchester United Ruud van Nistelrooy cho danh hiệu Chiếc giày vàng, và cuối cùng chân sút người Hà Lan đã chiến thắng với cách biệt chỉ một bàn thắng.[4] Tuy nhiên, Henry vẫn được vinh danh với các danh hiệu Cầu thủ của năm bởi Hiệp hội các cầu thủ chuyên nghiệp (PFA) và Hiệp hội các nhà báo bóng đá (FWA).[18][19] Vị thế của một trong những chân sút xuất sắc nhất thế giới của anh được thừa nhận khi anh về nhì trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2003 của FIFA.[14]

Bước vào mùa giải mới 2003-04, Henry quyết tâm đòi lại ngôi vương Premier League. Henry tiếp tục là một phần không thể thiếu trong mùa giải đặc biệt xuất sắc của Arsenal, cùng với Dennis Bergkamp, Patrick VieiraRobert Pirès. Arsenal trở thành câu lạc bộ đầu tiên trong hơn một thế kỷ kết thúc mùa giải với thành tích bất bại, đồng thời cán đích với vị trí đầu bảng.[20] Ngoài việc lần thứ hai liên tiếp nhận danh hiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội cầu thủ chuyên nghiệp và Hiệp hội các cây bút bóng đá,[18][19] Henry tiếp tục về nhì trong cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA.[14] Với 39 bàn thắng trên mọi đấu trường, Henry giành danh hiệu Chiếc giày vàng châu Âu.[6][21] Tuy nhiên cũng giống như năm 2002, Henry tiếp tục thất bại cùng tuyển Pháp tại Euro 2004.[4]

Henry trong trận đấu với Charlton Athletic năm 2006.

Các danh hiệu bắt đầu lẩn tránh Arsenal khi họ thất bại trong việc bảo vệ ngôi vô địch Premier League mùa giải 2004-05 trước Chelsea, cho dù đã vô địch cúp FA (Henry vắng mặt trong trận chung kết vì chấn thương). Henry vẫn chứng tỏ mình là một trong những chân sút nguy hiểm nhất châu Âu khi dẫn đầu danh sách làm bàn tại giải quốc nội, và với 31 bàn thắng trên mọi đấu trường, anh cùng Diego Forlán giành danh hiệu Chiếc giày vàng châu Âu, và cho đến nay vẫn là cầu thủ duy nhất hai lần liên tiếp giành danh hiệu này (Ally McCoist cũng làm được điều tương tự nhưng đều không được công nhận). Sự ra đi bất ngờ của Patrick Vieira ngay trước thềm mùa giải 2005-06 giúp Henry đựoc bầu làm đội trưởng Arsenal, vị trí mà nhiều người nghĩ rằng không thích hợp với anh; băng đội trưởng thường được trao cho hậu vệ hoặc tiền vệ, những người có vị trí thuận lợi hơn để đọc trận đấu. Cùng với vị thế tay săn bàn chủ lực của đội, anh còn phải lãnh trách nhiệm dẫn đắt đội bóng non trẻ.

Mùa bóng 2005-06 là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp của Henry. Ngày 17 tháng 10 năm 2005, Henry trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử câu lạc bộ; hai bàn thắng vào lưới Sparta Praha tại Champions League giúp anh vượt qua kỷ lục 185 bàn thắng của Ian Wright. Ngày 1 tháng 2 năm 2006, bàn thắng vào lưới West Ham United là lần lập công thứ 151 tại giải quốc nội, giúp anh vượt qua kỷ lục của huyền thoại Cliff Bastin. Anh cũng là cầu thủ duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ và Premier League ghi được bàn thắng thứ 100 trên sân Highbury trong khuôn khổ giải vô địch quốc gia. Trong ngày hạ màn Premier League, anh ghi một hat-trick vào lưới Wigan Athletic trong trận đấu cuối cùng tại Highbury. Kết thúc mùa giải Henry là chân sút số một giải Ngoại hạng, được bầu là Cầu thủ của năm bởi FWA lần thứ ba trong sự nghiệp, và có mặt trong đội hình FIFA World XI.

Tuy nhiên Arsenal một lần nữa lỡ hẹn với ngôi vương Premier League, nhưng cơ hội giành một danh hiệu vẫn còn khi họ lọt vào chung kết UEFA Champions League 2006. Các Pháo thủ thất bại 1-2 chung cuộc trước Barcelona, và việc Arsenal 2 mùa giải liên tiếp trắng tay tại Premier League cùng với sự thiếu kinh nghiệm của các cầu thủ trẻ làm dấy lên tin đồn Henry sẽ rời câu lạc bộ. Tuy nhiên anh vẫn khẳng định tình yêu của mình với Arsenal và chấp nhận gia hạn hợp đồng thêm bốn năm nữa, và nói sẽ kết thúc sự nghiệp tại đây. Phó chủ tịch Arsenal David Dein sau đó cũng nói rằng câu lạc bộ đã từ chối hai lời đề nghị trị giá 50 triệu bảng Anh từ Tây Ban Nha trước khi Henry gia hạn hợp đồng. Nếu vụ chuyển nhượng được thực hiện, nó sẽ phá vỡ kỷ lục thế giới của Zinédine Zidane lúc bấy giờ là 47 triệu bảng.

Mùa giải 2006-07 của Henry bị phủ bóng đen chấn thương. Cho dù anh đã ghi 10 bàn trong 17 lần ra sân tại giải quốc nội, Henry phải ngồi ngoài từ tháng Hai. Vắng mặt một vài trận đấu vì chấn thương dây chằng, bàn chân và lưng, Henry trở lại trong trận gặp PSV tại Champions League từ ghế dự bị, nhưng lại gặp vấn đề không lâu sau khi vào sân. Các xét nghiệm vào ngày hôm sau cho biết anh phải mất ít nhất ba tháng để hồi phục chấn thương háng và dạ dày, đồng nghĩa với việc mùa giải đã kết thúc với Henry. Wenger sau đó lấy lý do này để biện minh cho một mùa giải thất bại nữa, và nhắc lại rằng Henry vẫn muốn ở lại Arsenal để chuẩn bị cho mùa giải mới.

Barcelona (2007-2010)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 6 năm 2007, Henry bất ngờ chuyển sang Barcelona với bản hợp đồng trị giá 24 triệu euro. Anh ký hợp đồng bốn nnawmaf mỗi năm đút túi 6.8 triệu euro. Bản hợp đồng cũng có điều khoản phá vỡ hợp đồng lên đến 125 triệu euro. Henry viện đến sự ra đi của Dein và sự không chắc chắn về tương lai của Wenger làm lý do cho cuộc chia tay này, và cũng nhắc lại rằng "Tôi luôn nói rằng nếu có ngày nào tôi rời Arsenal thì tôi sẽ chơi cho Barcelona." Bất chấp sự ra đi của người đội trưởng, Arsenal khởi đầu mùa giải mới 2007-08 rất ấn tượng, và Henry khẳng định rằng sự có mặt của anh trong đội hình có khi lại là gánh nặng của đội bóng. Anh nói: "Với tư cách đội trưởng, và thói quen xin bóng của tôi, các đồng đội đôi khi vẫn chuyền bóng kể cả khi tôi không ở vị trí thuận lợi. Vì vậy tôi ra đi có thể tốt cho đội bóng." Henry rời Arsenal với tư cách chân sút vĩ đại nhất lịch sử câu lạc bộ với 174 bàn thắng, và cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại các cúp châu Âu với 42 bàn. Tháng 7 năm 2008, các cổ động viên Arsenal bầu chọn anh là cầu thủ vĩ đại nhất lịch sử câu lạc bộ trong cuộc bình chọn 50 cầu thủ xuất sắc nhất trên trang web của đội bóng.

Tại Barcelona anh được trao số áo 14 quen thuộc. Anh ghi bàn thắng đầu tiên trong màu áo mới vào ngày 19 tháng 9 năm 2007 trong chiến thắng 3-0 trước Olympique Lyonnais tại Champions League. Mười ngày sau anh có hat-trick đầu tiên cho Barca trong trận đấu với Levante tại La Liga. Nhưng với việc thường xuyên được sử dụng bên cánh trái trong suốt mùa giải, anh đã không thể tái hiện hiệu suất làm bàn ấn tượng tại Arsenal. Anh tỏ ra không thoải mái trong năm đầu tiên tại Barcelona, cùng với đó là những tin đồn anh sẽ quay lại Premier League. Trong cuộc phỏng vấn với Garth Crooks trong chương trình BBC Football Focus, Henry bày tỏ nỗi nhớ cuộc sống và cả giới truyền thông Anh. Tuy nhiên, Henry kết thúc mùa bóng đầu tiên với 19 bàn thắng, nhiều nhất đội bóng và 9 đường kiến tạo, đứng thứ 2 sau Lionel Messi.

New York Red Bulls (2010–2014)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2010, Henry ký hợp đồng với câu lạc bộ tại giải MLS New York Red Bul,l nơi anh trở thành cầu thủ thứ hai của đội bóng không bị ràng buộc bới quỹ lương.[22] Anh có trận ra mắt MLS vào ngày 31 tháng 7 trong trận hòa 2-2 trước Houston Dynamo và kiến tạo cả hai bàn thắng của Juan Pablo Ángel. Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại MLS vào ngày 28 tháng 8 trong trận thắng 2-0 trước San Jose Earthquakes. Red Bulls cuối cùng cũng đứng đầu bảng xếp hạng miền Đông với một điểm nhiều hơn Columbus Crew [23] trước khi thất bại 3-2 chung cuộc trước San Jose Earthquakes tại tứ kết Vòng loại cúp MLS.[24] Mùa giải tiếp theo Red Bulls đứng thứ 10 chung cuộc[25] và không được đá Vòng loại cúp MLS.[26]

Quay lại Arsenal theo dạng cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tập luyện tại Arsenal trong kỳ nghỉ của MLS, Henry ký một bản hợp đồng cho mượn trong hai tháng từ ngày 6 tháng 1 năm 2012 như một phương án thay thế cho GervinhoMarouane Chamakh, những cầu thủ không thể thi đấu vì phải dự CAN 2012.[27] Henry ra mắt lần thứ hai tại Arsenal từ băng ghế dự bị trước Leeds United tại vòng ba cúp FA và ghi bàn duy nhất của trận đấu.[28] Trong trận đấu cuối cùng tại Premier League, anh bàn quyết định trong thời gian bù giờ trong chiến thắng 2-1 trước Sunderland.[29]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Monaco

  • Vô địch Ligue 1: 1996-97
  • Vô địch Siêu cúp Pháp (French Super Cup) : 1997
  • Bán kết Champions League: 1998

Juventus

. Bán kết Champions League: 1999

. Vô địch UEFA Intertoto cúp: 1999

Arsenal

Barcelona

New York Red Bulls

MLS Eastem Conference: 2010,2013

MLS Supporters Shield: 2013

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiếc giày vàng châu Âu: 2004, 2005
  • Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất FA Premier League: 2001–02, 2003–04, 2004–05, 2005–06
  • Onze d'Or: 2003, 2006
  • PFA Cầu thủ của năm: 2002–03, 2003–04
  • FWA Footballer Of The Year: 2002–03, 2003–04, 2005–06
  • Đội hình tiêu biểu PFA: 2001,2002,2003,2004,2005,2006
  • Bản thắng của mùa giải (UK): 2003
  • Đội hình tiểu biểu UEFA: 2001,2002,2003,2004,2006
  • Cầu thủ trẻ tiểu biểu Ligue 1: 1996-1997
  • Vua phá lưới Confederations Cup: 2003
  • Quả bóng vàng Confederations Cup: 2003
  • Cầu thủ bóng đá Pháp của năm: 2000, 2003, 2004, 2005, 2006
  • Top 100 FiFa
  • Quả Bóng Bạc Fifa: 2003,2004
  • Quả Bóng Bạc Châu Âu: 2003
  • Quả Bóng Đồng Châu Âu: 2006
  • Đội hình tiêu biểu World Cup: 2006
  • Tiền đạo số 1 thế giới: 2006
  • Đội hình tiêu biểu cầu thủ ngoại hạng giai đoạn 1992-2002
  • Cầu thủ được yêu thích nhất mọi thời đại Premier League

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

(Cập nhật ngày 10 tháng 11 năm 2014)'[6][8][30][31]
CLB Mùa Giải Cup[32] Europe Tổng cộng
Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng
Monaco 1994–95 8 3 0 0 0 0 8 3
1995–96 18 3 3 0 1 0 22 3
1996–97 36 9 3 0 9 1 48 10
1997–98 30 4 5 0 9 7 44 11
1998–99 13 1 1 0 5 0 19 1
Tổng 105 20 12 0 24 8 141 28
Juventus 1998–99 16 3 3 0 0 0 19 3
Tổng 16 3 3 0 0 0 19 3
Arsenal 1999–2000 31 17 5 1 11 8 47 26
2000–01 35 17 4 1 14 4 53 22
2001–02 33 24 5 1 11 7 49 32
2002–03 37 24 6 1 12 7 55 32
2003–04 37 30 4 4 10 5 51 39
2004–05 32 25 2 0 8 5 42 30
2005–06 32 27 2 1 11 5 45 33
2006–07 17 10 3 1 7 1 27 12
Tổng 254 174 31 10 84 42 369 226
Barcelona 2007–08 30 12 7 4 10 3 47 19
2008–09 29 19 1 1 12 6 42 26
2009–10 21 4 3 0 8 0 32 4
Tổng 80 35 11 5 30 9 121 49
New York Red Bulls 2010 11 2 1 0 0 0 12 2
2011 26 14 3 1 0 0 29 15
2012 25 15 2 0 0 0 27 15
2013 30 10 2 0 0 0 32 10
2014 30 10 5 0 35 10
Tổng 122 51 13 1 0 0 135 52
Arsenal (mượn) 2011–12 4 1 2 1 1 0 7 2
Tổng 258 175 33 11 85 42 376 228
Tổng sự nghiệp 581 284 72 17 138 59 792 360

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “FIFA World Cup South Africa 2010 – List of Players” (PDF). Fédération Internationale de Football Association (FIFA). Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 
  2. ^ a ă â b c Anthony, Andrew (3 October 2004) "Thierry Henry, you're having a laugh". The Observer. Retrieved 18 May 2008.
  3. ^ a ă â b Thierry Henry, soccernet.espn.go.com.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i "Thierry Henry Bio". JockBio. Retrieved 5 May 2008.
  5. ^ O'Connor, Ashling; Smith, Ben (19 November 2009) "Sponsors stand by Thierry Henry but fans call for boycott over handball". The Times. Retrieved 10 December 2009.
  6. ^ a ă â b c d đ "Goal.com Profile: Thierry Henry" (web archive). Goal.com. 25 June 2007. Retrieved 23 September 2007.
  7. ^ a ă "Thierry Henry returns: factfile". The Independent. Retrieved 11 January 2012.
  8. ^ a ă â "Henry". footballdatabase.com. Retrieved 23 December 2011.
  9. ^ “Soccerbase stats for AS Monaco Semi Final game”. Soccerbase. 15 tháng 4 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ Clarke, Richard (14 tháng 11 năm 2006). “Henry – Why I must adapt to our new formation”. Arsenal.com. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  11. ^ “Thierry Henry – France”. CBC.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ "Henry joins Arsenal in record deal". BBC Sport. 3 August 1999. Retrieved 10 January 2011.
  13. ^ Harris, Nick (4 August 1999) "Henry adds to Arsenal's firepower". The Independent. Retrieved 3 January 2011.
  14. ^ a ă â "Ronaldinho wins Fifa player award". BBC Sport. 20 December 2004. Retrieved 1 January 2012.
  15. ^ "Games played by Thierry Henry in 1999–2000". Soccerbase. Retrieved 25 March 2007.
  16. ^ "Gunners take home Cup". The Football Association. 17 May 2003. Retrieved 13 February 2011.
  17. ^ “Arsenal 2002–2003 : English Premier League Table”. statto.com. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  18. ^ a ă “Past Footballers of the Year”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2014. 
  19. ^ a ă “Henry to stay a Gunner until 2010”. BBC Sport. 19 tháng 5 năm 2006. Truy cập 1 tháng 1 năm 2012. 
  20. ^ Hughes, Ian (15 May 2004) "Arsenal the Invincibles". BBC Sport. Retrieved 1 January 2012.
  21. ^ “Tiger Woods, Roger Federer and Thierry Henry Are Introduced As the Faces of the New Gillette Champions Program”. Procter & Gamble. 13 tháng 1 năm 2009. Truy cập 23 tháng Hai năm 2014. 
  22. ^ "New York Red Bulls sign international star Thierry Henry". New York Red Bulls. 13 July 2010. Retrieved 15 July 2010.
  23. ^ "Standings". Major League Soccer. Retrieved 26 December 2011.
  24. ^ "Earthquakes advance". ESPN Soccernet. 5 November 2010. Retrieved 23 February 2014.
  25. ^ "2011 MLS Standings & Leaders". Major League Soccer. Retrieved 27 December 2011.
  26. ^ 2011 MLS Cup "Playoffs". Major League Soccer. Retrieved 26 December 2011.
  27. ^ "Thierry Henry joins Arsenal from New York Red Bulls". BBC Sport. 6 January 2012. Retrieved 6 January 2012.
  28. ^ McNulty, Phil (9 January 2012) "Arsenal 1–0 Leeds". BBC Sport. Retrieved 10 January 2012.
  29. ^ "Thierry Henry open to third Arsenal spell – if asked". BBC Sport. 11 February 2012. Retrieved 12 February 2012.
  30. ^ "Thierry Henry History". ESPN Soccernet. Bản lưu 23 tháng 12 năm 2011.
  31. ^ Barcelona FC's player statistic for Thierry Henry, www.fcbarcelona.com, accessed ngày 5 tháng 6 năm 2009
  32. ^ Includes French Cup, French League Cup, Coppa Italia, FA Cup, League Cup, FA Community Shield and Supercopa de España.