Thierry Henry

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thierry Henry
Thierry Henry applauding 2012.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Thierry Daniel Henry[1]
Nơi sinh Pháp, Les Ulis, Essonne
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay New York Red Bulls
Số áo 14
CLB trẻ
1983–1989 CO Les Ulis
1989–1990 US Palaiseau
1990–1992 Viry-Châtillon
1992 Clairefontaine
1992–1994 Monaco
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1994–1999 Monaco 105 (20)
1999 Juventus 16 (3)
1999–2007 Arsenal 254 (174)
2007–2010 Barcelona 80 (35)
2010– Red Bulls 37 (16)
2012 Arsenal (mượn) 4 (2)
Đội tuyển quốc gia
1997 Pháp (U21) 5 (3)
1997–2010 Pháp 123 (51)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 7:36, 15/3/2012 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 7:36, 15/3/2012 (UTC)

Thierry Daniel Henry (Phát âm tiếng Pháp: [tjɛʁi ɑ̃ʁi] (sinh ngày 17 tháng 8 năm 1977) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp. Trong sự nghiệp của mình, anh đã đạt được hết các danh hiệu cao quý nhất như Ngoại hạng Anh, La Liga, Champions League, Euro 2000 và World Cup 1998.

Henry sinh ra tại Les Ulis, Essonne, ngoại ô thủ đô Paris, anh đã chơi cho đội bóng địa phương trong khoảng thời gian từ năm 1983-89, trước khi anh được phát hiện và kí hợp đồng với AS Monaco vào năm năm 1990.[2] Anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp năm 1994 và chơi ở Monaco đến năm 1998, phong độ tốt đã giúp anh được gọi vào đội tuyển quốc gia. Sau đó, Henry chuyển tới chơi cho câu lạc bộ bóng đá lớn Juventus tại Ý, nhưng sau một mùa giải thất vọng chơi ở vị trí tiền vệ cánh,[3] anh gia nhập câu lạc bộ Anh Arsenal với giá chuyển nhượng 11 triệu bảng Anh năm 1999.[2]

Tại Arsenal, anh nổi lên là một cầu thủ đẳng cấp thế giới, giúp anh đã tạo dựng được tên tuổi cũng như thương hiệu của mình. Trong thời gian tại đây anh gần như dẫn đầu danh sách ghi bàn của đội bóng.

Tại Arsenal, Henry giống như một nhạc trưởng trên sân, có ảnh hưởng rất lớn và chỉ huy lối chơi của toàn đội, Nếu nói không quá thì một nửa sức mạnh của Arsenal là Henry. Anh đã có rất nhiều cống hiến cho câu lạc bộ. Và trở thành cấu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử của câu lạc bộ. Lối chơi thanh thoát cùng kĩ thuật siêu đẳng đã có lúc anh được coi là tiền đạo xuất sắc nhất thế giới. Mùa giải 2006 do bị chấn thương dai dẳng nên anh ít được ra sân, và trong kì chuyển nhượng mùa hè anh đã chuyến tới Barca, đây là vụ chuyển nhượng mà Arsenal và Barca được cho là đã có ý định thực hiện từ một năm trước. Thiery Henry ghi 223 bàn thắng trong 254 trận cho Arsenal.

Tại Barcelona anh không tỏa sáng rực rỡ như khi còn chơi cho Arsenal, một phần do tuổi tác, một phần do không được phép chơi bóng tự do như tại câu lạc bộ cũ. Tuy nhiên anh cũng có những đóng góp đáng kể cho Barcelona, cùng câu lạc bộ này dành cú ăn ba lịch sử (vô địch La Liga, Copa del Rey và UEFA Champions League trong năm 2009). Trên góc độ tuyển thủ quốc gia anh là tiền đạo ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Pháp trong lịch sử với 48 lần lập công sau trên 100 trận. Anh có những bàn thắng hết sức quan trọng cho đội tuyển Pháp như tại trận bán kết Euro 2000 trước đội tuyển Bồ Đào Nha và tứ kết World Cup 2006 trước đội tuyển Brazil. Cùng đội tuyển Pháp, Thiery Henry giành chức vô địch World Cup năm 1998, về nhì năm 2006; vô địch Euro 2000.

Anh đã từ giã sự nghiệp bóng đá vào ngày 16 tháng 12 năm 2014 sau khi kết thúc hợp đồng với câu lạc bộ New York Red Bulls tại giải vô địch quốc gia Mỹ - Major League Soccer (MLS). Ngay sau khi kết thúc sự nghiệp bóng đá, Thierry Henry đã ký hợp đồng trị giá 24 triệu bảng Anh trong vòng 6 năm với kênh truyền hình Sky Sports. Tại đây, Henry sẽ bắt đầu một công việc mới, đó là làm BLV bóng đá và đại sứ cho kênh truyền hình nổi tiếng này.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu Henry thi đấu cho một số đội bóng nghiệp dư Les Ulis, Pallaiseau, Viry Chatillon.

Năm 15 tuổi anh được tuyển vào học viện bóng đá danh tiếng Claire Fontaine cùng lứa với những Trezeguet,Gallas.

Anh bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp từ năm 1995 cho Monaco, tại đây anh đã phần nào thể hiện được khả năng của mình bằng 20 bàn thắng trong 110 lần được ra sân, cùng với CLB đoạt được 1 chức Vô địch quốc gia và 1 Cúp quốc gia Pháp.

Năm 1998 anh chuyển sang câu lạc bộ Juventus sau khi toả sáng bằng 3 bàn thắng ở World Cup. Nhưng tại đây anh đã không thích nghi được với lối chơi của Juve và chỉ ghi được 3 bàn qua 16 trận.

Ngay sau khi kết thúc mùa giải anh đã bị đẩy sang Arsenal với giá chuyển nhượng là 10,5 triệu bảng. Huấn luyện viên Arsene Wenger là người có công đưa Henry từ một cầu thủ bị cho là có lối chơi thiếu sáng tạo và khả năng phát triển là hạn chế, trở thành một trong những tiền đạo toàn diện, đa năng và nguy hiểm nhất thế giới.

Kết quả là Henry đã được tạo nhiều cơ hội dứt điểm (khoảng 300 quả) và đã có được 26 bàn trên mọi mặt trận (khoảng 38 trận giải bóng đá Anh và 26 trận tranh đấu cúp) ngay trong mùa bóng đầu tiên. Qua hơn 8 năm gắn bó với The Gunners, anh đã dần tiến bộ để thoát khỏi hình ảnh "chân gỗ" và đã ghi dấu ấn tại đây với hơn 200 bàn, phá vỡ kỉ lục của Ian Wright để trở thành chân sút ghi được nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử Arsenal. Henry còn được biết đến là một cầu thủ rất nguy hiểm trong các tình huống cố định nhờ khả năng sút phạt trực tiếp hàng đầu thế giới.

Arsenal (1999-2007)[sửa | sửa mã nguồn]

Thierry Henry khi còn chơi cho Arsenal

Không thi đấu tốt ở Ý, Henry chuyển từ Juventus trong tháng Tám 1999 tới Arsenal với giá chuyển nhượng £10.5 triệu bảng Anh, một lần nữa thi đấu dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên Arsène Wenger.[3] Với vai trò là cầu thủ thay thế cho Nicolas Anelka, Henry được Wenger xếp ngay vào vị trí tiền đạo, một quyết định mà sau này đã giúp Henry tiến bộ rất nhiều và thành công trong suốt quãng thời gian còn lại của sự nghiệp thi đấu. Trong thời gian đầu, nhiều người đã nhận thấy Henry chỉ biết chạy và chạy, còn kỹ năng xử lý bóng và quan sát đồng đội khá kém. Tuy vậy Wenger đã rất khôn ngoan khi tạo mọi điều kiện cho Henry tiến bộ, mặc dù Henry không thể ghi nổi bàn thắng trong suốt mười trận đấu đầu tiên cho Arsenal [2].

Mùa hè sau đó, Henry đứng trong hàng ngũ đội tuyển Pháp tham dự Euro 2000. Anh ghi được ba bàn thắng, trong đó có bàn quan trọng gỡ hòa trong trận đấu với Bồ Đào Nha trong trận bán kết. Henry là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất, ngang với 1 cầu thủ khác trong đội, cho Pháp trong Euro 2000.[4] Pháp sau đó đã thắng hiệp phụ nhờ bàn thắng penalty của Zinedine Zidane. Pháp tiến vào trận chung kết và thắng Ý sau hiệp phụ, và Henry nhận huy chương quốc tế quan trọng thứ hai trong sự nghiệp của mình- huy chương vàng Euro.[5]

Mùa giải thứ hai ở Arsenal là mùa giải thành công lớn nhất đối với Henry khi anh trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho câu lạc bộ, với sự hỗ trợ tận tình của cả đội như đã nói ở trên. Trong mùa giải 2001-2002 này, Henry thi đấu 64 trận, ghi được 32 bàn thắng tính trên tất cả các giải đấu, anh đưa Arsenal double and his first silverware with the club.[3] Mặc dù vậy, World Cup 2002 năm 2002 đã chứng kiến việc Đội tuyển quốc gia Pháp cùng Henry -với tư cách là nhà đương kim vô địch, bị loại sớm đầy bất ngờ sau vòng bảng không ghi được bàn thắng nào.[6] Sau khi Pháp thua trận đấu vòng bảng đầu tiên, Henry phải nhận thẻ đỏ cho một pha bóng nguy hiểm trong trận đấu gặp Uruguay. Pháp hòa 0-0 và Henry không được thi đáu trận cuối cùng do thẻ phạt, Pháp thua Đan Mạch 0-2.

Mặc dù sự nghiệp thi đấu quốc tế tạo nhiều thất vọng (hiệu suất khoảng 6 trận/bàn với vị trí tiền đạo), trong mùa giải 2002-2003 Henry thi đáu rất hiệu quả, với 42 bàn thắng tính trên tất cả các giải đấu (kể cả đội tuyển quốc gia, cúp quốc gia, cúp C1,...), ngoài ra anh còn có công đóng góp cho Arsenal 23 bàn thắng ở giải Ngoại hạng Anh. Mùa đó, Arsenal rất mạnh và Henry cũng đang trên đà cải thiện, đã đưa đến cho Arsenal một chiếc Cúp Vô địch FA.[7] Mùa hè năm sau đó, anh quay trở lại trong hàng ngũ đội tuyển Pháp tham dự Confederations Cup 2003, một đội hình không có ZidanePatrick Vieira và đã giúp đội tuyển giành chiến thắng. Đây có lẽ là thời kỳ phong độ cao nhất của Henry, sau khi đã được Wenger giúp mài dũa rất nhiều ở Arsenal. Trong trận chung kết, Henry ghi bàn thắng vàng trong hiệp phụ, gíup đội chủ nhà vượt qua Cameroon với tỉ số 1-0. Với bốn bàn thắng, anh là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất giải đấu này.

Henry là đội trưởng của Arsenal sau khi Patrick Viera ra đi vào đầu mùa bóng 2005-2006

Thành công còn tiếp tục đến với Henry ở mùa giải 2003-2004. Vào năm đó đội hình Arsenal dưới sự chỉ đạo của Arsene Wenger đã đạt vào độ chín. Cùng với những Dennis Bergkamp, Patrick Vieira, Robert Pires, Ashley Cole, Sol Campbell, Ljungberg... Henry đã biến Arsenal trở thành một đội bóng không thể đánh bại với kì tích trở thành đội bóng đầu tiên sau gần một thế kỉ vô địch mà không trải qua bất cứ một thất bại nào ở Premier League.[8] Với tổng cộng 39 bàn thắng trong cả mùa giải, Henry đã đoạt được danh hiệu Chiếc giày vàng Châu Âu. Tuy nhiên, cũng giống như năm 2002, Henry cũng không thể giúp đội tuyển Pháp làm nên thành tích như mong đợi tại Euro 2004 sau khi bị Hy Lạp(đội sau đó đã lên ngôi vô địch) loại ở vòng tứ kết. Đó chính là nguyên nhân chính khiến Henry một lần nữa phải về nhì trong cuộc cạnh tranh danh hiệu lớn của năm là cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 2004 sau Ronaldinho của Barcelona.

Sau Euro 2004 thất bại với đội tuyển Pháp, Henry trở lại Arsenal và tiếp tục thi đấu vô cùng thành công dù không thể giúp cho đội bóng tiếp tục giành chức vô địch bóng đá Anh. Bằng chứng là ở hai mùa giải kế tiếp 04/05 và 05/06 Henry liêp tiếp giành danh hiệu vua phá lưới giải ngoại hạng Anh.

Đặc biệt mùa bóng 05/06 Henry đã góp một phần rất lớn vào việc Arsenal lọt vào chung kết cúp C1. Đáng tiếc Arsenal của anh đã để thất bại trước Barcelona trong trận chung kết với tỷ số 1-2.

Barcelona (2007-2010)[sửa | sửa mã nguồn]

New York Red Bulls (2010–nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Được chơi theo dạng cho mượn tại Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 6 tháng 1 năm 2012 anh trở lại thi đấu cho Arsenal trong thời gian 2 tháng theo một hợp đồng cho mượn với New York Red Bull. Trong trận đấu đầu tiên được cho mượn, anh đã ghi bàn duy nhất giúp Arsenal đánh bại Leeds United tại vòng 3 cúp FA.

Bàn thắng đầu tiên của anh tại Premier League trong dịp trở lại là bàn thắng ấn định chiến thắng 7-1 cho Arsenal trong trận đẫu với Blackburn Rovers, và ở vòng đấu tiếp theo, anh ghi bàn ấn định chiến thắng 2-1 cho Arsenal trước Sunderland ở những phút cuối cùng, trước khi quay trở lại khoác áo New York Red Bulls

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiếc giày vàng châu Âu: 2004, 2005
  • Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất FA Premier League: 2001–02, 2003–04, 2004–05, 2005–06
  • Onze d'Or: 2003, 2006
  • PFA Cầu thủ của năm: 2002–03, 2003–04
  • FWA Footballer Of The Year: 2002–03, 2003–04, 2005–06
  • Đội hình tiêu biểu PFA: 2001,2002,2003,2004,2005,2006
  • Bản thắng của mùa giải (UK): 2003
  • Đội hình tiểu biểu UEFA: 2001,2002,2003,2004,2006
  • Cầu thủ trẻ tiểu biểu Ligue 1: 1996-1997
  • Vua phá lưới Confederations Cup: 2003
  • Quả bóng vàng Confederations Cup: 2003
  • Cầu thủ bóng đá Pháp của năm: 2000, 2003, 2004, 2005, 2006
  • Top 100 FiFa
  • Quả Bóng Bạc Fifa: 2003,2004
  • Quả Bóng Bạc Châu Âu: 2003
  • Quả Bóng Đồng Châu Âu: 2006
  • Đội hình tiêu biểu World Cup: 2006
  • Tiền đạo số 1 thế giới: 2006
  • Đội hình tiêu biểu cầu thủ ngoại hạng giai đoạn 1992-2002
  • Cầu thủ được yêu thích nhất mọi thời đại Premier League

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

(Cập nhật ngày 23 tháng 12 2009)'[1][9][10][11]
CLB Mùa Giải Cup[12] Europe Tổng cộng
Trận Bàn thắng Kiến tạo Trận Bàn thắng Kiến tạo Trận Bàn thắng Kiến tạo Trận Bàn thắng Kiến tạo
Monaco 1994–95 8 3 1 0 0 0 0 0 0 8 3 1
1995–96 18 3 5 3 0 1 1 0 0 22 3 6
1996–97 36 9 8 3 0 1 9 1 4 48 10 13
1997–98 30 4 9 5 0 2 9 7 1 44 11 12
1998–99 13 1 3 1 0 0 5 0 2 19 1 5
Tổng 105 20 26 12 0 4 24 8 7 141 28 37
Juventus 1998–99 16 3 2 3 0 0 0 0 0 19 3 2
Tổng 16 3 2 3 0 0 0 0 0 19 3 2
Arsenal 1999–2000 31 17 9 5 1 0 11 8 2 47 26 11
2000–01 35 17 3 4 1 0 14 4 0 53 22 3
2001–02 33 24 5 5 1 2 11 7 0 49 32 7
2002–03 37 24 23 6 1 0 12 7 1 55 32 24
2003–04 37 30 9 4 4 2 10 5 3 51 39 14
2004–05 32 25 15 2 0 1 8 5 1 42 30 17
2005–06 32 27 7 2 1 0 11 5 2 45 33 9
2006–07 17 10 6 3 1 1 7 1 0 27 12 7
Tổng 254 174 77 31 10 6 84 42 9 369 226 92
Barcelona 2007–08 30 12 9 7 4 0 10 3 2 47 19 11
2008–09 29 19 8 1 1 0 12 6 4 42 26 12
2009–10 21 4 2 3 0 0 8 0 1 32 4 3
Tổng 80 35 19 11 5 0 30 9 7 121 49 26
New York Red Bulls 2010 11 2 3 1 0 0 0 0 0 12 2 3
2011 26 14 4 3 1 1 0 0 0 29 15 5
Tổng 37 16 7 4 1 1 0 0 0 41 17 8
Arsenal (mượn) 2011–12 0 0 0 1 1 0 0 0 0 1 1 0
Tổng sự nghiệp 492 248 130 62 17 11 138 59 23 692 322 166

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă "Goal.com Profile: Thierry Henry" (web archive). Goal.com. 25 June 2007. Retrieved 23 September 2007.
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên tea
  3. ^ a ă â Thierry Henry, soccernet.espn.go.com.
  4. ^ Pháp 2-1 Bboof Đào Nha, uefa.com.
  5. ^ Pháp 2-1 Ý
  6. ^ Korea/Japan 2002, fifaworldcup.com.
  7. ^ Freedman, Dan, "Gunners take home Cup", thefa.com.
  8. ^ Hughes, Ian, "Arsenal the Invincibles", BBC Sport, 15 May 2004, accessed 26 March 2007.
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên data
  10. ^ "Thierry Henry History". ESPN Soccernet. Bản lưu 23 tháng 12 năm 2011.
  11. ^ Barcelona FC's player statistic for Thierry Henry, www.fcbarcelona.com, accessed 5 June 2009
  12. ^ Includes French Cup, French League Cup, Coppa Italia, FA Cup, League Cup, FA Community Shield and Supercopa de España.