Roger Federer
Federer tại Giải Vô địch Wimbledon 2009 |
|
| Quốc gia | |
|---|---|
| Nơi cư trú | Bottmingen, Thụy Sĩ |
| Ngày sinh | 8 tháng 8, 1981 |
| Nơi sinh | Basel, Thụy Sĩ |
| Chiều cao | 1.85 m |
| Năm chơi chuyên nghiệp | 1998[1] |
| Tay thuận | Tay phải (Trái tay một tay) |
| Tiền thưởng | $76,675,184 |
| Đánh đơn | |
| Thắng - Thua | 835–189 (81,38 %) |
| Vô địch | 75 (ATP World Tour và Grand Slam) |
| Thứ hạng cao nhất | Số 1 |
| Thứ hạng hiện tại | 1 (9 tháng 7, 2012) |
| Các giải Grand Slam | |
| Úc Mở rộng | Vô địch (2004, 2006, 2007, 2010) |
| Pháp mở rộng | Vô địch (2009) |
| Wimbledon | Vô địch (2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2009, 2012) |
| Mỹ Mở rộng | Vô địch (2004, 2005, 2006, 2007, 2008) |
| Các giải vô địch khác | |
| Tour Finals | Vô địch (2003, 2004, 2006, 2007, 2010, 2011) |
| Đánh đôi | |
| Thắng - Thua | 119–76 (61%) |
| Vô địch | 8 (ATP World Tour và Grand Slam) |
| Thứ hạng cao nhất | Số 24 (9 tháng 6, 2003) |
| Thứ hạng hiện tại | Số 137 (16 tháng 1, 2012) |
| Kết quả giải đôi Grand Slam | |
| Úc Mở rộng | V3 (2003) |
| Pháp mở rộng | V1 (2000) |
| Wimbledon | TK (2000) |
| Mỹ Mở rộng | V3 (2002) |
| Các giải vô địch đôi khác | |
| Cập nhật: 16 tháng 1, 2012. | |
| Huy chương Olympic | ||
| Vàng | 2008 Bắc Kinh | Đôi nam |
| Bạc | 2012 Luân Đôn | Đơn nam |
Roger Federer (sinh ngày 8 tháng 8 năm 1981 tại Basel, Thụy Sĩ) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Thụy Sĩ. Roger Federer được nhiều chuyên gia, cựu danh thủ cũng như nhiều tay vợt cùng thời xem là tay vợt xuất sắc nhất thế giới qua mọi thời đại. Federer hiện đang nắm giữ nhiều kỷ lục trong làng quần vợt, trong đó có việc đứng số 1 thế giới trong bảng xếp hạng của ATP 237 tuần liên tiếp từ 2/2/2004 tới 17/8/2008, và ngày 16/7/2012 vừa qua, chính thức phá vỡ kỉ lục 286 tuần ở vị trí số 1 thế giới của Pete Sampras khi có tuần thứ 287 ở vị trí số 1 thế giới, đồng thời là tay vợt duy nhất trong lịch sử đoạt 5 chức vô địch Wimbledon và Mỹ mở rộng liên tiếp. Federer đã đoạt 17 danh hiệu Grand Slam, vượt qua kỷ lục cũ của Pete Sampras là 14 danh hiệu, và là một trong 6 tay vợt trong lịch sử vô địch cả 4 giải Grand Slam. Sau khi thắng giải Wimbledon lần thứ 7 năm 2012, Roger Federer trở lại hạng số 1 trong bảng xếp hạng ATP và hiện tại có tổng cộng 302 tuần ở vị trí số 1 thế giới.
Cuộc sống cá nhân [sửa]
Thời niên thiếu [sửa]
Roger Federer sinh tại Basel, Thụy Sĩ, ngày 8 tháng 8 năm 1981. Anh là con trai của ông Robert Federer người Thụy Sĩ và bà Lynette người Nam Phi. Federer có một chị gái là Diana. Năm lên 8 tuổi Federer được nhận vào đội quần vợt trẻ của thành phố Basel. Ngoài quần vợt, một niềm đam mê khác của anh là bóng đá, tuy nhiên sau đó Federer đã quyết định tập trung vào sự nghiệp quần vợt. Thời niên thiếu Federer không tỏ ra đặc biệt nổi trội so với những tay vợt khác đồng trang lứa. Anh hay mất bình tĩnh, không kiểm soát được hành vi của mình trên sân đấu, thường chửi thề và đập vợt.
Từ 10 tuổi đến 14 tuổi, Roger Federer được huấn luyện bởi Peter Carter, người Úc. Peter Carter không chỉ giúp Federer tập kỹ năng chơi bóng mà còn chỉ ra điểm yếu trong tinh thần thi đấu của anh. Những chỉ bảo của huấn luyện viên Carter giúp Federer dần dần kiểm soát được tâm lý khi thi đấu.
Hôn nhân và gia đình [sửa]
Federer kết hôn với cựu tay vợt của WTA Mirka Vavrinec. Federer đã gặp Mirka tại Thế vận hội Mùa hè 2000 Sydney khi cả hai người đang thi đấu cho đội tuyển quần vợt Thụy Sĩ. Năm 2002, Mirka đã gặp chấn thương bàn chân và phải giải nghệ sớm.[2] Kể từ đó, cô làm quản lý về Mối quan hệ công chúng cho Federer. Họ đã kết hôn tại Basel vào ngày 11 tháng 4 năm 2009.[3] Vào ngày 20 tháng 7 năm 2009, Mirka đã sinh được hai bé gái sinh đôi: Myla Rose và Charlene Riva.[4]
Sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp [sửa]
Giai đoạn từ 1998 đến 2002 [sửa]
Tháng 7 năm 1998, Federer tham dự giải quần vợt ATP đầu tiên trong sự nghiệp của mình tại Gstaad, nơi anh đánh bại Lucas Arnold Ker với tỉ số 6-4, 6-4. Thụy Sĩ. Năm 1999, Federer được gọi vào đội tuyển quần vợt nam Thụy Sĩ trong trận đối đầu với đội Ý. Năm 2000, Federer lọt vào chung kết Marseille Open nhưng thất bại trước một tay vợt Thụy Sĩ khác là Marc Rosset. Anh là tay vợt trẻ nhất trong top 100 của ATP năm đó. Năm 2001, lần đầu tiên Federer giành được một danh hiệu ATP khi đánh bại Julien Boutter trong trận chung kết giải Milano. Cũng trong năm 2001, Federer có một chiến thắng được xem là bước ngoặt trong sự nghiệp khi anh đánh bại Pete Sampras, khi đó là đương kim vô địch, tại vòng 4 giải Wimbledon sau 5 set đấu. Đây là trận đấu chính thức duy nhất giữa hai tay vợt kiệt xuất này. Chiến thắng của Federer cũng chấm dứt chuỗi 31 trận bất bại tại giải Wimbledon của Sampras. Tuy nhiên anh bị loại ở ngay vòng đấu sau đó. Năm 2002, Federer giành danh hiệu ATP Master Series đầu tiên tại Hamburg khi giành chiến thắng trước Marat Safin.
Trong khoảng thời gian này, Federer lọt vào 10 trận chung kết với 4 thắng và 6 thua. Anh cũng lọt vào 6 trận chung kết đôi.
Năm 2003 [sửa]
Federer bị David Nalbandian đánh bại tại vòng 4 giải Úc mở rộng, giải Grand Slam đầu tiên trong năm. Anh cũng bị loại ngay từ vòng 1 giải Pháp mở rộng trước Luis Horna. Tuy nhiên tại Wimbledon, Federer đã giành được danh hiệu Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp, sau khi đánh bại Mark Philippoussi chỉ trong 3 set. Tại giải đấu này Federer chứng tỏ ưu thế tuyệt đối khi chỉ để thua 1 set duy nhất trước Mardy Fish tại vòng 3. Tại giải Mỹ mở rộng, Federer một lần nữa để thua trước David Nalbandian ở vòng 4. Federer kết thúc năm đó với chức vô địch tại giải Tennis Masters Cup.
Năm 2004 [sửa]
Năm 2004 đánh dấu một trong những năm thi đấu thành công nhất của Roger Federer, khởi đầu một thời kỳ kéo dài hơn 4 năm trong đó Federer trở thành tay vợt thống trị tuyệt đối làng quần vợt thế giới. Anh trở thành tay vợt đầu tiên sau Mats Wilander năm 1988 giành chiến thắng 3 trong số 4 giải Grand Slam trong cùng 1 năm. Federer không thua bất kỳ một tay vợt nào xếp trong top 10 ATP năm đó, và giành thắng lợi trong tất cả các trận chung kết mà anh tham dự. Anh dành 11 danh hiệu và chỉ chịu thua có 6 trận.
Roger Federer giành danh hiệu Úc mở rộng đầu tiên trong sự nghiệp sau khi đánh bại Marat Safin trong trận chung kết. Trên đường đến giải Pháp mở rộng, Federer giành hai chức vô địch ATP Master Series tại Indian Wells và Hamburg. Tại giải Pháp mở rộng, Federer thua tay vợt từng 3 lần vô địch giải đấu này Gustavo Kuetern tại vòng 3. Anh bảo vệ thành công chức vô địch Wimbledon, rồi sau đó đoạt chức vô địch Mỹ mở rộng đầu tiên. Trong trận chung kết Mỹ mở rộng với Lleyton Hewitt, Federer giành chiến thắng áp đảo với tỷ số 6-0, 7-6, 6-0. Federer bị loại sớm tại Olympic Athens, sau khi thua Tomas Berdych ngay vòng 2. Federer vô địch Tennis Masters Cup lần thứ 2 liên tiếp sau khi đánh bại Lleyton Hewitt trong trận chung kết.
Năm 2005 [sửa]
Năm 2005 tiếp tục là một năm thi đấu thành công của Federer. Sau khi không bảo vệ được chức vô địch Úc mở rộng vì thua Marat Safin tại trận bán kết, Federer giành 3 chiến thắng liên tiếp tại các giải Masters Series ở Indian Wells, Miami, Hamburg. Tại giải Pháp mở rộng, anh thua tay vợt về sau là nhà vô địch Rafael Nadal tại bán kết. Federer sau đó bảo vệ thành công cả hai chức vô địch tại Wimbledon và Mỹ mở rộng. Tuy nhiên tại giải đấu Tennis Masters Cup diễn ra tại Thượng Hải, Federer thua David Nalbandian sau 5 set đấu kịch tính.
Năm 2006 [sửa]
Năm 2006, Federer lập lại kỳ tích năm 2004 khi giành 3 trên 4 danh hiệu Grand Slam trong năm. Anh kết thúc năm với 8300 điểm trên bảng xếp hạng ATP, nhiều hơn bất kỳ tay vợt nào khác kể từ khi hệ thống tính điểm được áp dụng từ năm 1990. Trong cả năm 2006, Federer chỉ chịu thua trước hai tay vợt là Rafael Nadal và Andy Murray. Federer lần thứ 2 vô địch giải Úc mở rộng, thắng Marcos Baghdatis sau 4 set. Anh lọt vào chung kết giải Pháp mở rộng lần đầu tiên trong sự nghiệp, nhưng lại chịu thua Rafael Nadal. Sau đó Federer vô địch Wimbledon lần thứ 4 liên tiếp, đánh bại Nadal trong trận chung kết, và vô địch giải Mỹ mở rộng lần thứ 3 liên tiếp, đánh bại Andy Roddick. Tại giải Tennis Masters Cup, Federer vô địch sau khi chiến thắng James Blake.
Năm 2007 [sửa]
Năm 2007 Federer tiếp tục giành 3 trên 4 giải Grand Slam trong năm, kết thúc năm 2007 với vị trí số 1 trên bảng xếp hạng ATP năm thứ 4 liên tiếp. Nhưng cũng năm 2007, Federer đã bộc lộ những dấu hiệu xuống dốc trong sự nghiệp. Trên con đường bảo vệ chức vô địch Úc mở rộng, Federer không để thua một set đấu nào. Anh là tay vợt đầu tiên kể từ Bjorn Borg năm 1980 đoạt được một danh hiệu Grand Slam mà không thua một set đấu nào. Sau chiến thắng tại giải Úc mở rộng, Federer bất ngờ chịu hàng loạt trận thua liên tiếp, và trải qua 4 giải đấu liên tiếp mà không đoạt được chức vô địch nào. Federer lần thứ 2 liên tiếp vào chung kết Pháp mở rộng nhưng lần thứ 2 liên tiếp thua Rafael Nadal. Anh vô địch Wimbledon, Mỹ mở rộng và Tennis Masters Cup.
Năm 2008 [sửa]
Năm 2008 trở thành năm thi đấu sa sút nhất của Federer kể từ năm 2003. Mặc dù vẫn đoạt được 1 danh hiệu Grand Slam tại giải Mỹ mở rộng, thành tích chung cả năm của Federer rất kém. Anh thua 13 trận trong năm, chỉ thắng có 65 trận và giành 4 chức vô địch ATP. Nhiễm virut và gánh nặng tuổi tác được xem là nguyên nhân chính khiến Federer sa sút phong độ.
Tại giải Úc mở rộng, Federer thua Novak Djokovic 3 sét trắng tại bán kết. Trước khi giải đấu diễn ra, anh đã phải vào bệnh viện vì ngộ độc thực phẩm. Anh thua Rafael Nadal ở trận chung kết Pháp mở rộng.Tại Wimbledon,anh thua Nadal sau 1 trận CK lịch sử kéo dài gần 5h với tỉ số 4-6, 4-6, 6-7, 6-7, 7-9 nhưng bảo vệ thành công chức vô địch Mỹ mở rộng sau khi đánh bại Andy Murray 6-2, 7-5, 6-2 trong trận chung kết. Đây là chức vô địch thứ 5 liên tiếp của anh tại Mỹ mở rộng. Tại Olympic Bắc kinh nội dung đánh đơn, Federer thua James Blake tại vòng tứ kết, nhưng giành được huy chương vàng đôi nam cùng với Stanislas Wawrinka. Ngày 17/8/2008, Federer mất vị trí số 1 thế giới vào tay Rafael Nadal.Tại giải thi đấu trong nhà Basel, Thụy Sĩ, Federer giành chức vô địch đơn thứ tư trong năm sau khi đánh bại David Nalbandian trong trận chung kết với tỷ số 6-3, 6-4. Trong trận đấu này Federer không phải đối mặt với một điểm break nào. Tuy nhiên tại giải đấu quan trọng cuối cùng trong năm là Tennis Masters Cup, Federer thua 2 trong 3 trận đã đấu và bị loại ngay sau vòng bảng.
Năm 2009 [sửa]
Sau mùa giải được đánh giá là thất vọng trong năm 2008, Federer trở lại mạnh mẽ trong làng quần vợt thế giới với việc giành lại vị trí số 1 trong bảng xếp hạng các tay vợt nam ATP, vô địch giải Pháp mở rộng lần đầu tiên và lần thứ 6 vô địch Wimbledon. Cũng trong năm 2009 Federer nhận được sự công nhận rộng rãi từ phía các chuyên gia, những người hâm mộ và các tay vợt còn đang thi đấu rằng anh là tay vợt xuất sắc nhất từ trước đến nay.
Giải đấu chính thức đầu tiên Roger Federer tham dự trong năm 2009 là giải Qatar mở rộng. Federer đã vào đến trận bán kết trước khi để thua tay vợt đang lên người Anh Andy Murray sau 3 set, với tỷ số các set là 7-6 (6), 2-6, 2-6. Trước đó anh cũng thua Murray trong một trận đấu trình diễn tại giải Abu Dhabi. Roger Ferderer tham dự giải Úc mở rộng và thua Rafael Nadal ở trận chung kết sau 5 set đấu căng thẳng. Trong buổi lễ trao giải Federer đã không kìm được cảm xúc và bật khóc. Federer tiếp tục chuỗi trận thi đấu thất vọng khi anh liên tục để thua các giải đấu sau đó, trước khi bất ngờ giành chiến thắng quan trọng trước Rafael Nadal ngay trên mặt sân đất nện tại Madrid Master trong trận chung kết với tỉ số 6-4, 6-4[5]. Federer tham dự giải Pháp mở rộng 2009 với tư cách là tay vợt hạt giống số 2 của giải. Tại vòng 4 giải Pháp mở rộng anh thắng Tommy Haas với các tỉ số 6–7(4), 5–7, 6–4, 6–0, 6–2. Trận tiếp theo anh có chiến thắng 3-0 với các tỉ số 7–6(6), 6–2, 6–4 trước Gael Monfils.Tại trận bán kết anh thắng Juan Martin del Potro với các tỉ số 3–6, 7–6(2), 2–6, 6–1, 6–4. Trong trận chung kết, anh thắng tay vợt Thụy Điển Robin Soderling với 3 set trắng ( 6-1, 7-6 (7-1), 6-4),chiến thắng này giúp anh đoạt được Grand Slam duy nhất còn thiếu trong sự nghiệp lẫy lừng của mình đồng thời cân bằng kỷ lục 14 lần vô địch Grand Slam của Pete Sampras. Tại Wimbledon 2009, Roger Federer đã đoạt chức vô địch lần thứ 6 sau trận chung kết nghẹt thở dài 4 giờ 17 phút với Andy Roddick với các tỉ số 5-7,7-6,7-6,3-6,16-14. Với chiến thắng này, Federer đã đi vào lịch sử với 15 lần đoạt chức vô địch Grand Slam và phá kỉ lục cũ của Pete Sampras với 14 lần vô địch. Anh đã để thua Jo-Wilfried Tsonga tại tứ kết giải Montreal Masters (còn gọi là Rogers Cup). Tuy nhiên, anh đã nhanh chóng lên ngôi tại Cincinnati Masters sau trận chung kết với Novak Djokovic với tỉ số 6-1 7-5. Tại Mỹ mở rộng 2009, anh đã để thua Juan Martin Del Potro với tỉ số 3-6 7-6(5) 4-6 7-6(4) 6-2 và để lỡ cơ hội san gằng kỉ lục vô địch Mỹ mở rộng 6 lần liên tiếp của Bill Tilden. Bên cạnh đó, Del Potro cũng trở thành người thứ 2 sau Rafael Nadal có thể đánh bại Roger Federer trong 1 trận chung kết Grand Slam.
Năm 2010 [sửa]
Tại giải Grand Slam đầu tiên trong năm Australian Open, Federer đã đánh bại Andy Murray với các tỷ số 6-3; 6-4; 7-6(13-11) để giành Grand Slam thứ 16 trong sự nghiệp sau 2h41' tại sân đấu trung tâm Rod Laver Arena.
Tại giải vô địch Pháp mở rộng Roland Garros 2010, Federer thua Robin Soderling trong vòng tứ kết với tỉ số 3-6, 6-3, 7-5, 6-4. Đây là lần đầu tiên trong 23 giải Grand Slam quần vợt liên tiếp mà Federer không vào được vòng bán kết. Tại giải Wimbledon, Federer thua Tomas Berdych ở vòng tứ kết. Đây là lần đầu tiên trong 8 năm liền (từ năm 2003) mà Federer không vào chung kết ở Wimbledon. Giải quần vợt Mỹ Mở rộng 2010, tại vòng bán kết Federer thua hạt giống số 3 Novak Djokovic sau 5 set với tỉ số 7-5, 1-6, 7-5, 2-6, 5-7. Đây là lần đầu tiên trong 7 năm Federer không vào đến chung kết giải Mỹ mở rộng. Thất bại này cũng lần đầu tiên kể từ năm 2003 đưa anh xuống vị trí số 3 (nhường vị trí số 2 cho chính Djokovic) của bảng tổng sắp ATP. Sau thất bại tại Mỹ mở rộng, Federer lại có những bước trở lại đầy ấn tượng. Anh giành chức vô địch tại Stockholm và quê nhà Basel, đồng thời giúp anh lấy lại vị trí số 2 thế giới từ Djokovic. Bước vào giải đấu ATP World Tour Finals tại London, giải đấu lớn cuối cùng trong năm giành cho 8 tay vợt đứng xếp hạng cao nhất trên bảng tổng sắp ATP của năm, Federer đã lần lượt vượt qua các tay vợt David Ferrer, Andy Murray và Robin Soderling và đứng đầu vòng loại. Tại bán kết, anh nhanh chóng loại Djokovic và bước vào trận chung kết cùng kỳ phùng địch thủ Rafael Nadal. Cả hai đã cống hiến một trận đấu tuyệt vời và phần thắng đã thuộc về Federer sau 3 set đấu. Cùng với Ivan Lendl và Pete Sampras, Federer trở thành người thứ ba trong lịch sử 5 lần vô địch giải đấu danh giá này. Anh kết thúc năm 2010 với vị trí số 2 bảng tổng sắp ATP và là năm thứ 8 liên tiếp đứng ở top 2 tay vợt hàng đầu thế giới.
Năm 2011 [sửa]
Năm 2011, theo sự đánh giá của các chuyên gia, là một năm thất bát của Roger Federer trên bình diện Grand Slam. Anh bị đánh bại bởi tay vợt Novak Djokovic sau 3 sét trắng trong trận bán kết tại Australian Open, người mà sau này giành chức vô địch, thất bại này cũng đánh dấu lần đầu tiên kể từ tháng bảy năm 2003 rằng anh không giành được một danh hiệu nào trong 4 kỳ Grand Slam liên tiếp. Trong trận bán kết Pháp mở rộng, Federer đã kết thúc mạch 43 trận thắng liên tiếp của tay vợt Novak Djokovic sau trận đấu 4 sét. Tuy nhiên, Federer sau đó thua trong trận chung kết với Rafael Nadal sau 4 sét đấu căng thẳng với tỷ số 5-7, 6-7(3), 7-5, 1-6. Tại Wimbledon, Federer đánh dấu cột mốc lọt vào vòng tứ kết của các kỳ Grand Slam 29 lần liên tiếp, tuy nhiên anh để thua Jo-Wilfried Tsonga. Trận thua này cũng đánh dấu thất bại đầu tiên của Federer trong một giải Grand Slam sau khi anh dẫn trước đối thủ 2 sét đấu. Tại US Open, Federer tiếp tục để thua trong trận bán kết với Novak Djokovic, sau khi phung phí 2 điểm matchpoint trong sét đấu thứ 5, đồng thời cũng đánh dấu trận thua thứ 2 của Federer trong một giải Grand Slam sau khi anh dẫn trước đối thủ 2 sét đấu. Thất bại tại Flushing Meadows cũng đồng nghĩa rằng Federer không giành được danh hiệu Grand Slam nào trong 1 năm, lần đầu tiên kể từ năm 2002.
Trong mùa giải 2011, Federer đã giành được chiến thắng tại Qatar Open, đánh bại Nikolay Davydenko trong trận chung kết với tỷ số 6-3,6-4. Tuy nhiên, anh lại để thua trong trận chung kết ở Dubai trước Djokovic với tỷ số 3–6, 3–6 và thua trong các trận bán kết tại Miami Masters và Madrid Open trước Rafael Nadal. Sau thất bại tại Thượng Hải Masters 2011, Federer đã bị loại ra khỏi Top 3 tay vợt xuất sắc nhất thế giới lần đầu tiên kể từ tháng 6 năm 2003. Tuy nhiên Roger Federer đã có sự “hồi sinh thần kỳ” trở lại trong tháng 11, chấm dứt cơn khát danh hiệu sau 10 tháng liên tiếp, anh thắng tới 3 giải liền là Basel mở rộng tại quê nhà khi đánh bại tay vợt người Nhật Bản Kei Nishikori với tỷ số 6-1, 6-3 trong trận chung kết; Sau đó là Paris Masters 1000 đầu tiên trong sự nghiệp khi đánh bại Jo-Wilfried Tsonga với tỷ số 6-1, 7-6(3) và cuối cùng là ATP World Tour Finals tại London cũng trước tay vợt người Pháp Jo-Wilfried Tsonga sau 3 sét đấu kịch tính với tỷ số là 6-3,6-7(6),6-3. Như vậy huyền thoại người Thụy Sỹ đã chính thức bước vào ngôi đền lịch sử tennis thế giới với tư cách tay vợt đầu tiên giành được tổng cộng 06 danh hiệu này, đồng thời Federer xếp vị trí thứ 4 trong danh sách những tay vợt có nhiều danh hiệu nhất từ Kỉ nguyên Open với tròn 70 danh hiệu. Chiến thắng này cũng giúp Federer giành lại vị trí số 3 thế giới từ Andy Murray và anh kết thúc năm 2011 trong top 3 trong vòng 9 năm liên tiếp.
Năm 2012 [sửa]
Sau những thành công vào cuối năm 2011, Federer tự tin bước vào mùa giải mới. Anh bắt đầu mùa giải năm 2012 bằng giải đấu Qatar Open 2012, tuy nhiên anh đã xin rút lui trước khi trận bán kết giữa anh và Jo-Wilfried Tsonga vì lý do chấn thương. Sau đó anh tham dự giải Úc mở rộng năm 2012, anh lọt tới trận bán kết gặp tay vợt Nadal, đánh dấu lần gặp nhau thứ 27 trong sự nghiệp giữa hai tay vợt, anh để thua Nadal sau 4 set đấu căng thẳng với tỷ số 6-7 (5), 6-2, 7-6 (5), 6-4. Anh tham dự giải đấu ABN AMRO World Tennis Tournament lần đầu tiên kể từ năm 2005 và đánh bại tay vợt Del Potro trong trận chung kết với tỷ số 6-1, 6-4 để giành danh hiệu này lần thứ 2 tại Rotterdam. Tại giải Dubai mở rộng, anh giành chiến thắng trước tay vợt Vương quốc Anh là Andy Murray với tỷ số 7-5, 6-4 để đánh dấu danh hiệu thứ 5 tại giải đấu này, đồng thời rút ngắn tỷ số đối đầu giữa hai tay vợt là 7-8. Federer tiếp tục tham gia giải Indial Wells –n giải Master 1000 đầu tiên trong năm, anh đánh bại Nadal tại bán kết và đánh bại tay vợt nước chủ nhà John Isner với tỷ số 7-6(7), 6-3, với chiến thắng này anh cân bằng kỷ lục đạt 19 danh hiệu ATP Masters 1000 của Rafael Nadal. Sau đó anh để thua tay vợt Andy Roddick trong 3 set tại giải Sony Ericsson Open với tỷ số 6-7(4), 1-6, 6-4.
Bắt đầu mùa giải đất nện, Federer tham dự giải đấu Madrid Masters 1000 với mặt sân màu xanh lạ lẫm, giải đấu mà cả Nadal và Novak Djokovic đều bị loại sớm, Federer vượt qua Milos Raonic, Richard Gasquet, David Ferrer, Janko Tipsarević và Tomáš Berdych trong trận chung kết để lần thứ 3 đăng quang trên sân đấu Madrid khi xuất sắc lội ngược dòng đánh bại Berdych với tỷ số 3-6, 7-5, 7-5. Với chiến thắng này anh đã nâng số danh hiệu ATP 1000 giành được lên con số 20 và giành ngôi số 2 thế giới của Rafael Nadal. Anh tiếp tục tham dự giải đấu Rome Masters và để thua tay vợt Novak Djokovic trong trận bán kết với tỷ số 6-2, 7-6 (4). Tại giải Pháp mở rộng, Federer tiếp tục để thua tay vợt Novak Djokovic trong trận bán kết một cách khó hiểu sau 3 sét trắng với tỷ số 6-4 7-5 6-3.
Federer khởi động mùa giải sân cỏ bằng việc tham dự giải Halle ở Đức và để thua trong trận chung kết trước tay vợt Tommy Haas với tỷ số 7-6(5), 6-4. Bước vào giải Wimbledon, giải Grand Slam danh giá nhất trong năm và cũng là giải đấu mà Federer đặt hy vọng nhiều nhất. Anh vượt qua các tay vợt Albert Ramos, Fabio Fognini, Julien Benneteau, Xavier Malisse, và Mikhail Youzhny để gặp tay vợt đầy duyên nợ Novak Djokovic trong trận bán kết, anh vượt qua Djokovic sau 4 set đấu căng thẳng với tỷ số 6-3, 3-6, 6-4, 6-3 để tiến vào trận chung kết thứ 8 tại Wimbledon gặp Andy Murray. Trong trận chung kết, với lối đánh thông minh cùng những pha xử lý chính xác, tinh tế, Federer đã thi đấu trên cơ Murray, qua đó giành chiến thắng một cách xứng đáng với các tỉ số 4-6, 7-5, 6-3, 6-4. Với danh hiệu này, anh đã xác lập thêm một loạt các kỷ lục: giành danh hiệu Grand Slam thứ 17 trong sự nghiệp; san bằng kỉ lục về số lần vô địch tại nơi đây của huyền thoại người Mỹ - Pete Sampras với 7 danh hiệu. Ngoài ra, Federer với việc soán ngôi số 1 trên bảng xếp hạng ATP của Djokovic, ngôi vị anh đã mất vào tay Nadal tháng 07/2010 và cũng san bằng nốt kỉ lục 286 tuần giữ ngôi số 1 thế giới của Sampras và chắc chắn sẽ xô đổ kỉ lục này. Theo thống kê, Federer là người già thứ hai trong lịch sử giữ ngôi số 1 thế giới (sau Agassi với 33 tuổi 131 ngày). Chưa hết, Federer còn là tay vợt nam thứ 3 trong lịch sử hơn 30 tuổi mà vẫn đăng quang tại Wimbledon, sau 2 huyền thoại Rod Laver và Arthur Ashe.
Bốn tuần sau trận chung kết Wimbledon, Federer lại đối mặt với Murray trên sân trung tâm tại Wimbledon nhưng lần này là trong trận chung kết Tại thế vận hội Mùa hè Olympics 2012. Sau khi trải qua trận bán kết lịch sử trước Juan Martin del Potro với thời gian 4 giờ 26 phút, riêng trong set cuối có tỷ số 19-17, Federer để thua Murray trong trận chung kết và giành được Huy chương Bạc cho đoàn thể thao Thụy Sỹ.
Sau giải đấu, Federer không tham dự giải đấu Rogers Cup.Tuy nhiên đến giải đấu Cincinnati Masters, anh đánh bại Novak Djokovic trong trận chung kết với điểm số 6-0,7-6. Với chiến thắng này, Federer trở thành tay vợt đầu tiên lần thứ 5 đoạt danh hiệu vô địch Cincinnati. Đây cũng là danh hiệu Master 1000 lần thứ 21 của Federer và anh đã sánh ngang với Nadal là người có nhiều danh hiệu Master 1000 nhất. Bước vào US Open – giải Grand Slam cuối cùng trong năm, Federer với hi vọng giành danh hiệu Mỹ mở rộng lần thứ 6 đã bị đánh bại bởi tay vợt CH Séc Tomáš Berdych tại vòng Tứ kết. Tại giải đấu Shanghai Rolex Masters, anh đánh bại tay vợt đồng hương Stanislas Wawrinka tại vòng ba, và chính thức đánh dấu kỷ lục với tuần thứ 300 ở vị trí số 1 thế giới. Tuy nhiên anh để thua tay vợt Andy Murray tại vòng bán kết. Sau đó để thua tay vợt Juan Martin del Potro trong trận chung kết tại giải đấu Swiss Indoors tại quê nhà Basel. Anh không tham dự giải Master 1000 cuối cùng của năm là Paris Master, và để mất ngôi vị số 1 thế giới vào tay Novak Djokovic, tuy nhiên anh cũng lập kỷ lục giữ ngôi số 1 thế giới mới với 302 tuần.
Giải đấu cuối cùng trong năm ATP World Tour Finals – giải đấu qui tụ 8 tay vợt hàng đầu thế giới, Federer để thua trước Novak Djokovic trong trận chung kết với tỷ số 6–7 (9), 5–7.
Năm 2013 [sửa]
Lối đánh của Roger Federer [sửa]
Federer có phong cách thi đấu điềm tĩnh, biến hóa, ổn định và đẹp mắt. "Đẹp mắt" trở thành một đặc điểm trong phong cách thi đấu của Federer, phân biệt anh với tất cả các tay vợt còn lại trong lịch sử quần vợt. Phong cách này dựa trên một nền tảng kỹ thuật xuất sắc và một tâm lý thi đấu vững vàng.
Giao bóng [sửa]
Federer sở hữu một trong những cú giao bóng tốt nhất trong các tay vợt đã từng thi đấu. Cú giao bóng của Federer không đặc biệt mạnh (trung bình khoảng 170 km/h) nhưng có vị trí rơi rất hiểm. Rất khó có thể đoán hướng giao bóng của Federer trước khi bóng rời vợt, vì vai của anh giữ nguyên trong mọi tình huống, chỉ đến khi chạm bóng Federer mới lựa chọn điểm rơi bằng cách xoay vợt. Cú giao bóng lần 1 của Federer thường sát góc chữ T, nhờ vậy Federer có nhiều cú giao bóng ăn điểm trực tiếp. Cú giao bóng lần 2 có tốc độ không cao nhưng xoáy, khó chịu và thường đi vào góc hiểm. Nó khiến cho đối thủ trả bóng ra ngoài hoặc lỏng giúp Federer có cú "penalty" ăn điểm. Tuy nhiên, cú giao bóng của Federer lại bị chậm lại trên sân đất nện khiến giảm lượng giao bóng ăn điểm trực tiếp và độ khó của cú giao bóng.
Cú thuận tay [sửa]
Cú đánh thuận tay là một trong những điểm mạnh nhất của Federer, và cũng là một trong những cú thuận tay hay nhất trong lịch sử quần vợt .Federer cầm vợt trong cú thuận tay nghiêng về semi-western (giữa số 3 và 4 với người thuận tay phải, giữa số 6 và 7 với người thuận tay trái) giống như đa số tay vợt hiện tại đang sử dụng.Nhưng có một điểm khác biệt trong kiểu cầm vợt của Federer so với những tay vợt cũng cầm semi-western đó là Federer để một phần bàn tay ra ngoài cán vợt. Điều này sẽ phần nào giúp Federer vươn xa hơn trong cú thuận tay (tăng chiều dài cánh tay đòn). Khi chuẩn bị để đánh một cú thuận tay, Federer xoay cả hai vai, đồng thời di chuyển chéo lên phía trước để đón bóng. Lối di chuyển này giúp anh tiếp cận bóng sớm. Khi xoay vai, Federer vẫn giữ đầu tương đối thẳng, trong khi mắt không rời trái bóng. Federer thường đánh bóng ngay khi bóng vừa nẩy lên. Cú thuận tay của Federer tạo độ xoáy bóng rất lớn và có điểm rơi sát đường biên rất khó đánh trả [6].
Federer thường có một bước dậm đà bật nhảy khi tiếp xúc bóng, điều này giúp Federer truyền thêm lực vào cú thuận tay. Ngay thực hiện xong cú thuận tay và tiếp đất trở lại, tư thế của Federer rất thanh thoát nhờ bộ chân linh hoạt [6].
Cú trái tay [sửa]
Không giống nhiều tay vợt khác cùng thời dùng cả hai tay để đánh trái tay, Federer chỉ dùng một tay. Dùng một tay để đánh bóng trái tay cần phải canh điểm thời gian chính xác hơn hai tay, nhưng mặt khác lại linh hoạt hơn, tiếp cận được bóng với khoảng cách xa hơn. Khi chuẩn bị đánh cú trái tay, Federer xoay toàn bộ vai, vẫn giữ tay trái trên vợt và để vợt thẳng. Đầu gối trái của anh khuỵu xuống sát mặt sân. Khi đánh, tay trái anh rời vợt nhưng không xa thân mình tạo thế để kiểm soát độ thăng bằng của cơ thể. Cầm vợt kiểu Eastern Backhand của Federer, sử dụng lực vai ít hơn. Cách cầm vợt kiểu này giúp cho bóng nảy cao về phía trái tay, cầm vợt kiểu này dễ đè bóng xuống hơn đồng thời chuyển qua cắt nhanh hơn, đối thủ khó đoán được động tác chuyển từ "bung" sang "cắt". Nhược điểm của cách cầm vợt náy là tạo ít topspin hơn. Cú tay trái mặc dù hay nhưng tương đối bị coi là một "yếu điểm" của Federer. Khi đánh trái tay, Federer phần lớn chỉ đánh trả bóng chứ không đủ lực "tấn công" như cú tay thuận. Vì thế anh thường chạy vòng quanh qua bên trái sân để dùng tay thuận tiếp bóng thay vì dùng trái tay. Các đối thủ hay của Federer như Rafael Nadal biết trái tay của anh không có "uy lực" như cú thuận tay nên họ hay tấn công vào bên trái sân của Federer trong những điểm quan trọng. Tuy nhiên, kể từ cuối mùa giải 2010, từ khi có huấn luyện viên mới là Paul Annacone, Federer đã có sự thay đổi mạnh mẽ đối với cú trái tay, anh đã có cú bung trái rất mạnh mẽ và giành nhiều điểm thắng từ cú trái tay, điều đó thể hiện rất rõ trong trận chung kết ATP World tour Final dành cho 8 cây vợt hàng đầu vào cuối năm.
Di chuyển [sửa]
Di chuyển là điểm độc đáo nhất và là yếu tố đặc biệt quan trọng trong việc định hình phong cách thi đấu của Federer. Federer di chuyển như một vũ công ballet. Anh chạy trên các ngón chân dù với tốc độ nào. Khi chuyển từ chạy sang đánh bóng, Federer trụ bằng chân trái trong khi chân phải hoạt động như một lực đẩy xoay chuyển toàn thân. Trong lịch sử quần vợt hầu như không có tay vợt nào có lối di chuyển tương tự.
Các kỷ lục của Federer [sửa]
Federer hiện đang nắm giữ nhiều kỷ lục trong làng quần vợt thế giới. 17 Grand Slam của Federer: Wimbledon 2003-2007, 2009, 2012; Mỹ mở rộng 2004-2008; Australian mở rộng 2004, 2006, 2007, 2010; Roland Garros 2009.
- Năm 2003, Federer trở thành tay vợt Thụy Sĩ đầu tiên vô địch một giải Grand Slam sau khi đánh bại Mark Philippoussis trong trận CK Wimbledon.
- Federer là tay vợt duy nhất 5 lần liên tiếp vô địch ở hai Grand Slam khác nhau - Wimbledon and US Open.
- Federer là tay vợt đầu tiên đoạt cú đúp Wimbledon-Mỹ mở rộng trong 4 năm liên tiếp.
- Federer là tay vợt duy nhất ở kỷ nguyên mở rộng hai lần đoạt 3 giải lớn liên tiếp khi anh đoạt chức vô địch Australian mở rộng năm 2007.
- Federer đã cân bằng kỷ lục 5 lần vô địch Wimbledon liên tiếp của Bjorn Borg vào năm 2007.
- Chuỗi 10 lần liên tiếp lọt vào chung kết một giải Grand Slam của Federer đã bị dừng lại bởi Novak Djokovic tại bán kết Australian mở rộng 2008.
- Cuộc chiến kéo dài 5 set trong trận chung kết Wimbledon 2008 được nhiều người coi là trận đấu hay nhất trong lịch sử tennis. Khi đó, Federer đã thất bại trước Rafael Nadal.
- Chức vô địch Roland Garros năm 2009 đã giúp Federer trở thành tay vợt thứ 6 sau Fred Perry, Don Budge, Rod Laver, Roy Emerson và Andre Agassi đoạt đủ 4 Grand Slam trong sự nghiệp. Sau đó, Nadal là người thứ bảy lập được kỳ tích này.
- Federer đã phá kỷ lục đoạt 14 Grand Slam của Pete Sampras khi anh lần thứ 15 vô địch một giải lớn sau khi đăng quang tại Wimbledon năm 2009.
- Năm 2009, Federer đã trở thành tay vợt đầu tiên 7 lần liên tiếp lọt vào chung kết Wimbledon kể từ năm 1922. Với việc lần thứ 8 lọt vào chung kết Wimbledon trong năm 2012 này, Federer cũng gia tăng kỷ lục về số lần đi tới trận đấu cuối cùng ở các giải lớn lên con số 24.
- Kỷ lục 23 lần liên tiếp lọt vào bán kết một giải Grand Slam của Federer đã bị Robin Soderling ngăn chặn ở vòng tứ kết Roland Garros năm 2010. Kỷ lục cũ của Ivan Lendl chỉ là 10 lần.
- Federer đã trở thành tay vợt thứ 23 dẫn đầu BXH ATP vào năm 2004 và giữ vị trí đó trong 237 tuần liên tiếp – một kỷ lục. Anh đồng thời cũng trở thành tay vợt ở vị trí số 1 thế giới nhiều nhất trong lịch sử ATP khi có tuần thứ 287 đứng đầu bảng xếp hạng vào ngày 16/7/2012 vừa qua, chính thức phá vỡ kỉ lục của Pete Sampras.
- Federer hiện đang giữ kỷ lục 24 chiến thắng liên tiếp ở các trận chung kết. Kỷ lục này chỉ bị chặn khi Federer thất bại trước David Nalbandian trong trận chung kết Masters Cup 2005.
- Năm 2006, Federer đã lọt vào chung kết cả 4 giải Grand Slam và đã vô địch ở Australia, Wimbledon và Mỹ.
- Federer hiện đang giữ kỷ lục 65 chiến thắng liên tiếp trên mặt sân cỏ kể từ kỷ nguyên mở rộng. Kỷ lục này chỉ bị phá khi Federer thất bại trước Nadal trong trận CK Wimbledon 2008.
- Là tay vợt có số tuần giữ vị trí số 1 thế giới liên tiếp lâu nhất (237 tuần liên tiếp, kỷ lục cũ là 160 tuần của Jimmy Connors)
- Là tay vợt có số tuần giữ vị trí số 1 thế giới nhiều nhất (302 tuần, vượt qua thành tích 286 tuần của Pete Sampras)
- 23 lần liên tiếp lọt vào bán kết các giải Grand Slam (người đứng thứ 2 Ivan Lendl, 10 lần liên tiếp)
- 10 lần liên tiếp lọt vào chung kết các giải Grand Slam (người đứng thứ 2 là ... chính Federer - 8 lần, kỉ lục cũ thuộc về Jack Crawford * 7 lần liên tiếp)
- 23 lần lọt vào chung kết các giải Grand Slam trong sự nghiệp (đứng thứ 2 là Ivan Lendl với 19 lần)
- Tay vợt duy nhất trong lịch sử 3 lần giành được 3 danh hiệu Grand Slam một năm (2004, 2006, 2007)
- Tay vợt giành được tổng tiền thưởng nhiều nhất trong lịch sử quần vợt. Sau vòng 2 giải Mỹ mở rộng 2009, anh đã trở thành tay vợt đầu tiên trong lịch sử chạm mốc 50.000.000 đô la tiền thưởng. Anh đang là người giành được nhiều tiền thưởng nhất lịch sử với 67,4 triệu đô la Mỹ. Người xếp thứ nhì là Rafael Nadal với 45 triệu sau đó là Pete Sampras với 43 triệu (tính tới hết năm 2011)[7].
- Tay vợt duy nhất trong lịch sử quần vợt giành được ít nhất 10 danh hiệu trong 3 năm liên tiếp (2004: 11, 2005: 11, 2006: 12).
- Tay vợt giữ kỷ lục về chuỗi trận thắng liên tiếp trên mặt sân cỏ: 65 trận liên tiếp từ vòng 1 Wimbledon 2003 tới bán kết Wimbledon 2008).
- Tay vợt giữ kỷ lục chuỗi trận thắng liên tiếp trên mặt sân cứng: 56 trận (2005-2006)
- Tay vợt có số chức vô địch ATP World Tour Final (trước đây là Tennis Master Cup) nhiều nhất, với 6 lần đoạt chức vô địch.
- Tay vợt đầu tiên lọt vào tất cả các trận chung kết Master 1000 ở 11 địa điểm khác nhau: Indian Well, Miami, Monte Carlo, Rome, Madrid, Hamburg, Toronto, Montreal, Cincinnati, Thượng Hải, Paris.
- Federer là người có vinh dự giành 4 giải Laureus của Viện hàn lâm thể thao Anh, liên tiếp (2005-2008) cho VĐV nam xuất sắc nhất năm.[8]
Vị trí trong làng quần vợt thế giới [sửa]
Roger Federer được thừa nhận một cách rộng rãi là tay vợt vĩ đại nhất thế giới trong kỉ nguyên Mở rộng, khi mà các tay vợt chuyên nghiệp được quyền dự tranh 4 giải đấu Grand Slam. Andre Agassi gọi Federer là đỉnh Everest của làng quần vợt trong cuốn tự truyện "Open" phát hành tháng 11 năm 2009.
Ngày càng nhiều tay vợt, các nhà chuyên môn và các fan hâm mộ đồng ý rằng anh là tay vợt xuất sắc nhất trong lịch sử quần vợt, kể cả tính đến trước kỉ nguyên Mở rộng. Sự phân biệt giữa thời đại trước và sau Mở rộng không chỉ xuất phát từ quy định cấm các tay vợt chuyên nghiệp thi đấu 4 giải Grand Slam, mà còn vì trước thập niên 70 thế kỷ 20, các giải đấu quần vợt chưa được hệ thống hóa và quản lý bởi một tổ chức thống nhất như hiện nay (ATP ở giải nam và WTA ở giải nữ). Việc thống kê số liệu không được tiến hành một cách đầy đủ, hệ thống tính điểm để xác định thứ hạng của các tay vợt chưa được áp dụng, vì vậy vị trí các tay vợt hàng đầu chỉ được xắp xếp theo cảm tính và gây nhiều tranh cãi. Pancho Gonzales và Rod Laver đều được "tin" là tay vợt số 1 thế giới trong 8 năm, bởi một vài nhà quan sát. Sự thiếu quy chuẩn hóa hệ thống các giải đấu khiến nảy sinh rất nhiều giải đấu nhỏ với chỉ một vài tay vợt tham dự, thậm chí đôi khi chỉ mang tính giao hữu, và do vậy các tay vợt hàng đầu có thể giành được đến 100-150 danh hiệu. Ngay cả các giải đấu lớn cũng chỉ quy tụ rất ít tay vợt thi đấu, khiến cho giá trị của chúng khó có thể xếp ngang bằng với kỉ nguyên Mở rộng. Sự khó khăn trong việc định lượng một cách thuyết phục vị trí các tay vợt trước kỉ nguyên Mở rộng khiến cuộc tranh luận về tay vợt số 1 qua mọi thời đại trở nên khó khăn và dường như không thể kết thúc.
Thành tích của Roger Federer khiến nhiều nhà quan sát đặt anh lên trên sự rắc rối trong quá trình phát triển bộ môn quần vợt và công nhận anh là tay vợt số 1. Tuy không phải là tay vợt mang đến 1 sự thay đổi mang tính cách mạng cho làng quần vợt như Ivan Lendl ("cha đẻ của lối đánh tấn công cuối sân hiện đại") hay Jack Kramer (người đầu tiên lấy S&V làm nền tảng cho phong cách thi đấu), nhưng Federer là tay vợt kết hợp 1 cách hoàn hảo nhất tất cả các phong cách thi đấu và đẩy nó lên 1 tầm cao mới. Sự hoà quyện giữa lối chơi hoa mỹ và hiệu quả trong thi đấu giúp anh thống trị làng quần vợt theo cách mà thế giới chưa từng được chứng kiến, và giúp anh phá vỡ những kỷ lục quan trọng nhất như tổng số Grand Slam giành được, số lần liên tiếp vào sâu trong các giải đấu lớn hay số tuần liên tiếp đứng trên vị trí số 1.
Roger Federer cũng là một trong số ít ngôi sao quần vợt có khả năng giao tiếp tốt với báo chí. Với việc thông thạo 3 ngoại ngữ: tiếng Thụy Sĩ-Đức, Pháp và Anh, Roger Federer đã trở thành một trong những ngôi sao sáng nhất thế giới cả ở trong và ngoài sân quần vợt. Anh là biểu tượng của rất nhiều hãng thời trang, thể thao và xe hơi nổi tiếng của thế giới. Roger luôn chiếm được cảm tình của giới truyền thông vì tính cách thật thà, hiền hậu và nhiệt thành của anh. Anh được tạp chí Forbes xếp hạng 47 trong số 100 người nổi tiếng nhất mọi thời đại. Roger cũng là một trong những vận động viên thể thao có thu nhập cao nhất thế giới.
Đánh giá về Roger Federer [sửa]
| Thông tin trong bài này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. |
- "Anh ta nhắm mắt cũng có thể đánh bại 1 nửa số tay vợt hiện nay." – John McEnroe, bình luận trực tiếp trên đài BBC, Wimbledon 2006
- "Federer là tay vợt xuất sắc nhất trong lịch sử, chưa ai có được tài năng như vậy." – Rafael Nadal, sau khi vô địch Pháp mở rộng 2006
- "Tôi cảm thấy vinh dự khi được đem ra so sánh với Roger Federer. Anh ta có tài năng khó tin, và có thể làm mọi thứ." – Rod Laver, 11 lần vô địch Grand Slam
- "Roger Federer giống như rượu vang đỏ ngon, thời gian chỉ khiến chất lượng tốt thêm." – Tony Roche, cựu huấn luyện viên của Roger Federer
- "Tôi chưa từng thích thú được xem ai thi đấu như với Roger Federer. Tôi bị choáng ngợp. Pete Sampras cũng hay nhưng anh dựa quá nhiều vào cú giao bóng, trong khi Federer có thể làm mọi thứ với vẻ thanh thoát, tao nhã và thanh lịch, như một bản giao hưởng trong tennis. Roger Federer có thể đánh những cú mà người ta phải xếp vào loại bất hợp pháp (vì nó quá hay)." – Tracy Austin, cựu tay vợt nữ 2 lần vô địch US Open
- "Tôi biết nói gì đây? Anh ấy là Roger." – Mario Ancic, sau khi thua Federer tại tứ kết Wimbledon 2006
- "Tôi nghĩ rằng bạn phải công nhận thôi. Người ta nói rằng Laver và Nadal thì hay hơn anh ấy. Nhưng nhớ rằng anh ấy đã có tất cả, 15 Grand Slam bây giờ và sắp sửa giành thêm mấy cái nữa trong tương lai gần. Theo quan điểm của tôi, anh ấy là vĩ đại nhất." – Pete Sampras, 14 lần vô địch Grand Slam
- "Tôi nghĩ không ai có thể đánh được những quả bóng như anh ấy làm. Chắc chắn rằng, nếu bạn có thể có những cú serve của Roddick, tốc độ của Hewitt, những cú trả bóng của Agassi và những cú volley của tôi, bạn mới có thể có cơ hội chiến thắng Federer." – Tim Henman, cựu số 4 thế giới
- "Federer hiển nhiên là 1 vận động viên đầu tàu trong số tất cả các môn thể thao. Anh ấy đã làm được những việc thật kinh ngạc. Tôi thích được xem anh ấy thi đấu. Tôi đã học được nhiều thứ từ Federer." – Serena Williams, 14 lần vô địch Grand Slam
- "Những gì anh ấy làm được trong tennis, tôi nghĩ còn tuyệt vời hơn những gì tôi làm được trong golf." – Tiger Woods, vua golf
- "Tôi muốn trở thành những đôi giày của anh ấy để có thể cảm nhận những bước chạy của một huyền thoại như thế nào." – Mats Wilander, 7 lần vô địch Grand Slam
Thành tích [sửa]
Grand Slam (24) [sửa]
Vô địch (17) [sửa]
| Năm | Giải đấu | Đối thủ | Tỷ số |
| 2003 | Wimbledon | 7-6, 6-2, 7-6 | |
| 2004 | Úc Mở rộng | 7-6, 6-4, 6-2 | |
| 2004 | Wimbledon (2) | 4-6, 7-5, 7-6, 6-4 | |
| 2004 | Mỹ Mở rộng | 6-0, 7-6, 6-0 | |
| 2005 | Wimbledon (3) | 6-2, 7-6, 6-4 | |
| 2005 | Mỹ Mở rộng (2) | 6-3, 2-6, 7-6, 6-1 | |
| 2006 | Úc Mở rộng (2) | 5-7, 7-5, 6-0, 6-2 | |
| 2006 | Wimbledon (4) | 6-0, 7-6, 6-7, 6-3 | |
| 2006 | Mỹ Mở rộng (3) | 6-2, 4-6, 7-5, 6-1 | |
| 2007 | Úc Mở rộng (3) | 7-6, 6-4, 6-4 | |
| 2007 | Wimbledon (5) | 7-6, 4-6, 7-6, 2-6, 6-2 | |
| 2007 | Mỹ Mở rộng (4) | 7-6 (4), 7-6 (2), 6-4 | |
| 2008 | Mỹ mở rộng (5) | 6–2, 7–5, 6–2 | |
| 2009 | Pháp mở rộng | 6–1, 7–6, 6–4 | |
| 2009 | Wimbledon (6) | 5–7, 7–66, 7–65, 3–6, 16–14 | |
| 2010 | Úc Mở rộng (4) | 6-3,6-4,7-611 | |
| 2012 | Wimbledon (7) | 4–6, 7–5, 6–3, 6–4 |
Á quân (7) [sửa]
| Năm | Giải đấu | Đối thủ | Tỷ số |
| 2006 | Pháp Mở rộng | 6–1, 1–6, 4–6, 6–7 | |
| 2007 | Pháp Mở rộng | 3–6, 6–4, 3–6, 4–6 | |
| 2008 | Pháp Mở rộng | 1–6, 3–6, 0–6 | |
| 2008 | Wimbledon | 4–6, 4–6, 7–65, 7–68, 7-9 | |
| 2009 | Úc Mở rộng | 5-7, 6-3, 6-73, 6-3, 2-6 | |
| 2009 | Mỹ Mở rộng | 6-3, 6-7, 6-4, 6-7, 2-6 | |
| 2011 | Pháp Mở rộng | 5-7, 6-73, 7-5, 1-6 |
ATP World Tour Finals/Masters Cup (8) [sửa]
Vô địch (6) [sửa]
| Năm | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|
| 2003 | Houston | 6–3, 6–0, 6–4 | |
| 2004 | Houston | 6–3, 6–2 | |
| 2006 | Thượng Hải | 6–0, 6–3, 6–4 | |
| 2007 | Thượng Hải | 6–2, 6–3, 6–2 | |
| 2010 | London | 6–3, 3–6, 6–1 | |
| 2011 | London | 6–3, 6–76, 6–3 |
Á quân (2) [sửa]
| Năm | Địa điểm | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|
| 2005 | Thượng Hải | 7-64, 7-611, 2-6, 1-6, 6-73 | |
| 2012 | London | 6–78, 5–7 |
ATP World Tour Masters 1000/ATP Master Series (33) [sửa]
Vô địch (21) [sửa]
| Năm | Giải đấu | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|
| 2002 | Hamburg | 6-1, 6-3, 6-4 | |
| 2004 | Indian Wells | 6-3, 6-3 | |
| 2004 | Hamburg (2) | 4-6, 6-4, 6-2, 6-3 | |
| 2004 | Toronto | 7-5, 6-3 | |
| 2005 | Indian Wells (2) | 6-2, 6-4, 6-4 | |
| 2005 | Miami | 2-6, 6-7(4), 7-6(5), 6-3, 6-1 | |
| 2005 | Hamburg (3) | 6-3, 7-5, 7-6(4) | |
| 2005 | Cincinnati | 6-3, 7-5 | |
| 2006 | Indian Wells (3) | 7-5, 6-3, 6-0 | |
| 2006 | Miami (2) | 7-6(5), 7-6(4), 7-6(6) | |
| 2006 | Toronto (2) | 2-6, 6-3, 6-2 | |
| 2006 | Madrid | 7-5, 6-1, 6-0 | |
| 2007 | Hamburg (4) | 2-6, 6-2, 6-0 | |
| 2007 | Cincinnati (2) | 6-1, 6-4 | |
| 2009 | Madrid Master | 6-4, 6-4 | |
| 2009 | Cincinati (3) | 6-1, 7-5 | |
| 2010 | Cincinati (4) | 6-7(5), 7-6(1), 6-4 | |
| 2011 | Paris Masters | 6-1, 7-6(3) | |
| 2012 | Indian Wells (4) | 7–67, 6–3 | |
| 2012 | Madrid Masters (2) | 3–6, 7–5, 7-5 | |
| 2012 | Cincinati (5) | 6-0, 7-6(7) |
Á quân (12) [sửa]
| Năm | Giải đấu | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|
| 2002 | Miami | 3–6, 3–6, 6–3, 4–6 | |
| 2003 | Roma | 5–7, 2–6, 6–78 | |
| 2006 | Monte Carlo | 2–6, 7–62, 3–6, 6–75 | |
| 2006 | Roma (2) | 7–67, 6–75, 4–6, 6–2, 6–75 | |
| 2007 | Monte Carlo (2) | 4–6, 4–6 | |
| 2007 | Montréal | 6–72, 6–2, 6–72 | |
| 2007 | Madrid | 6–1, 3–6, 3–6 | |
| 2008 | Monte Carlo (3) | 5–7, 5–7 | |
| 2008 | Hamburg | 5–7, 7–63, 3–6 | |
| 2010 | Madrid Masters | 4-6, 6-7 | |
| 2010 | Toronto | 5–7, 5–7 | |
| 2010 | Thượng Hải | 3-6, 2-6 |
Toàn bộ (114) [sửa]
Vô địch đơn (76) [sửa]
|
|
|
| TT | Ngày | Giải đấu | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 4 tháng 2, 2001 | Milano, Ý | Trải thảm (i) | 6-4, 6-7(7), 6-4 | |
| 2. | 13 tháng 1, 2002 | Sydney, Úc | Cứng | 6-3, 6-3 | |
| 3. | 19 tháng 5, 2002 | Hamburg, Đức | Đất nện | 6-1, 6-3, 6-4 | |
| 4. | 13 tháng 10, 2002 | Vienna, Áo | Cứng (i) | 6-4, 6-1, 3-6, 6-4 | |
| 5. | 16 tháng 2, 2003 | Marseille, Pháp | Cứng (i) | 6-2, 7-6(6) | |
| 6. | 2 tháng 3, 2003 | Dubai, UAE | Cứng | 6-1, 7-6(2) | |
| 7. | 4 tháng 5, 2003 | Munich, Đức | Đất nện | 6-1, 6-4 | |
| 8. | 15 tháng 6, 2003 | Halle, Đức | Cỏ | 6-1, 6-3 | |
| 9. | 6 tháng 7, 2003 | Wimbledon, London, Vương quốc Anh | Cỏ | 7-6(5), 6-2, 7-6(3) | |
| 10. | 12 tháng 10, 2003 | Vienna, Áo | Cứng (i) | 6-3, 6-3, 6-3 | |
| 11. | 16 tháng 11, 2003 | Tennis Masters Cup, Houston, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3, 6-0, 6-4 | |
| 12. | 1 tháng 2, 2004 | Úc Mở rộng, Melbourne, Úc | Cứng | 7-6(3), 6-4, 6-2 | |
| 13. | 7 tháng 3, 2004 | Dubai, UAE | Cứng | 4-6, 6-1, 6-2 | |
| 14. | 21 tháng 3, 2004 | Indian Wells, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3, 6-3 | |
| 15. | 16 tháng 5, 2004 | Hamburg, Đức | Đất nện | 4-6, 6-4, 6-2, 6-3 | |
| 16. | 13 tháng 6, 2004 | Halle, Đức | Cỏ | 6-0, 6-3 | |
| 17. | 5 tháng 7, 2004 | Wimbledon, London, Vương quốc Anh | Cỏ | 4-6, 7-5, 7-6(3), 6-4 | |
| 18. | 11 tháng 7, 2004 | Gstaad, Thụy Sĩ | Đất nện | 6-2, 6-3, 5-7, 6-3 | |
| 19. | 1 tháng 8, 2004 | Toronto, Canada | Cứng | 7-5, 6-3 | |
| 20. | 12 tháng 9, 2004 | Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ | Cứng | 6-0, 7-6(3), 6-0 | |
| 21. | 3 tháng 10, 2004 | Bangkok, Thái Lan | Cứng (i) | 6-4, 6-0 | |
| 22. | 21 tháng 11, 2004 | Tennis Masters Cup, Houston, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3, 6-2 | |
| 23. | 9 tháng 1, 2005 | Doha, Qatar | Cứng | 6-3, 6-1 | |
| 24. | 20 tháng 2, 2005 | Rotterdam, Netherlands | Cứng (i) | 5-7, 7-5, 7-6(5) | |
| 25. | 27 tháng 2, 2005 | Dubai, UAE | Cứng | 6-1, 6-7(6), 6-3 | |
| 26. | 20 tháng 3, 2005 | Indian Wells, Hoa Kỳ | Cứng | 6-2, 6-4, 6-4 | |
| 27. | 3 tháng 4, 2005 | Miami, Hoa Kỳ | Cứng | 2-6, 6-7(4), 7-6(5), 6-3, 6-1 | |
| 28. | 15 tháng 5, 2005 | Hamburg, Đức | Đất nện | 6-3, 7-5, 7-6(4) | |
| 29. | 13 tháng 6, 2005 | Halle, Đức | Cỏ | 6-4, 6-7(6), 6-4 | |
| 30. | 3 tháng 7, 2005 | Wimbledon, London, Vương quốc Anh | Cỏ | 6-2, 7-6(2), 6-4 | |
| 31. | 21 tháng 8, 2005 | Cincinnati, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3, 7-5 | |
| 32. | 11 tháng 9, 2005 | Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3, 2-6, 7-6(1), 6-1 | |
| 33. | 2 tháng 10, 2005 | Bangkok, Thái Lan | Cứng (i) | 6-3, 7-5 | |
| 34. | 8 tháng 1, 2006 | Doha, Qatar | Cứng | 6-3, 7-6(5) | |
| 35. | 29 tháng 1, 2006 | Úc Mở rộng, Melbourne, Úc | Cứng | 5-7, 7-5, 6-0, 6-2 | |
| 36. | 19 tháng 3, 2006 | Indian Wells, Hoa Kỳ | Cứng | 7-5, 6-3, 6-0 | |
| 37. | 2 tháng 4, 2006 | Miami, Hoa Kỳ | Cứng | 7-6(5), 7-6(4), 7-6(6) | |
| 38. | 18 tháng 6, 2006 | Halle, Đức | Cỏ | 6-0, 6-7(4), 6-2 | |
| 39. | 9 tháng 7, 2006 | Wimbledon, London, Vương quốc Anh | Cỏ | 6-0, 7-6(5), 6-7(2), 6-3 | |
| 40. | 13 tháng 8, 2006 | Toronto, Canada | Cứng | 2-6, 6-3, 6-2 | |
| 41. | 10 tháng 9, 2006 | Mỹ Mở rộng, New York, Hoa Kỳ | Cứng | 6-2, 4-6, 7-5, 6-1 | |
| 42. | 8 tháng 10, 2006 | Tokyo, Japan | Cứng | 6-3, 6-3 | |
| 43. | 22 tháng 10, 2006 | Madrid, Tây Ban Nha | Cứng (i) | 7-5, 6-1, 6-0 | |
| 44. | 29 tháng 10, 2006 | Basel, Thụy Sĩ | Trải thảm (i) | 6-3, 6-2, 7-6(3) | |
| 45. | 19 tháng 11, 2006 | Tennis Masters Cup, Thượng Hải, Trung Quốc | Cứng (i) | 6-0, 6-3, 6-4 | |
| 46. | 28 tháng 1, 2007 | Úc Mở rộng, Melbourne, Úc | Cứng | 7-6(2), 6-4, 6-4 | |
| 47. | 3 tháng 3, 2007 | Dubai, UAE | Cứng | 6–4, 6–3 | |
| 48. | 20 tháng 5, 2007 | Hamburg, Đức | Đất nện | 2–6, 6–2, 6–0 | |
| 49. | 8 tháng 7, 2007 | Wimbledon, London, Great Britain | Cỏ | 7–6(7), 4–6, 7–6(3), 2–6, 6–2 | |
| 50. | 19 tháng 8, 2007 | Cincinnati, Hoa Kỳ | Cứng | 6–1, 6–4 | |
| 51. | 9 tháng 9, 2007 | US Open, New York, Hoa Kỳ | Cứng | 7–6(4), 7–6(2), 6–4 | |
| 52. | 28 tháng 10, 2007 | Basel, Thụy Sĩ | Cứng (i) | 6–3, 6–4 | |
| 53. | 18 tháng 11, 2007 | Tennis Masters Cup, Thượng Hải, Trung Quốc | Cứng (i) | 6–2, 6–3, 6–2 | |
| 54. | 20 tháng 4, 2008 | Estoril, Bồ Đào Nha | Đất nện | 7–6(5), 1–2 nghỉ | |
| 55. | 15 tháng 6, 2008 | Halle, Đức | Cỏ | 6–3, 6–4 | |
| 56. | 8 tháng 9, 2008 | US Open, New York, Hoa Kỳ | Cứng | 6–2, 7–5, 6–2 | |
| 57. | 26 tháng 10, 2008 | Basel, Thụy Sĩ | Cứng (i) | 6–3, 6–4 | |
| 58. | 20 tháng 5, 2009 | Giải Madrid Master, Madrid,Tây Ban Nha | Đất nện | 6-4,6-4 | |
| 59. | 6 tháng 6, 2009 | Giải Roland Garros, Philippe Mont Charier, Paris, Pháp | Đất nện | 6-1,7-6,6-4 | |
| 60. | 5 tháng 6, 2009 | Wimbledon, Centre Court, London, Anh | Cỏ | 5-7,7-6,7-6,3-6,16-14 | |
| 61. | 23 tháng 8, 2009 | Giải Cincinnati Master, Cincinnati, Hoa Kỳ | Cứng | 6-1,7-5 | |
| 62. | 31 tháng 1, 2010 | Giải Úc Mở rộng, Melbourne, Úc | Cứng | 6-3,6-4,7-6(11) | |
| 63. | 22 tháng 8, 2010 | Giải Cincinnati Master, Cincinnati, Hoa Kỳ | Cứng | 6-7(5), 7-6(1),6-4 | |
| 64. | 24 tháng 10, 2010 | Giải Stockholm, Thụy Điển | Cứng(i) | 6–4, 6–3 | |
| 65. | 8 tháng 11, 2010 | Giải Davidoff swiss indoors, Basel, Thụy Sĩ | Cứng(i) | 6-4,3-6,6-1 | |
| 66. | 29 tháng 11, 2010 | Giải ATP World Tour Finals, London, Anh | Cứng | 6-3,3-6,6-1 | |
| 67. | 8 tháng 1, 2011 | Doha, Qatar | Cứng | 6-3,6-4 | |
| 68. | 6 tháng 11, 2011 | Giải Davidoff swiss indoors, Basel, Thụy Sĩ | Cứng(i) | 6-1,6-3 | |
| 69. | 13 tháng 11, 2011 | Giải Paris Master, Pháp | Cứng(i) | 6-1, 7-6(3) | |
| 70. | 28 tháng 11, 2011 | Giải ATP World Tour Finals, London, Anh | Cứng | 6-3,6-7(6),6-3 | |
| 71. | 19 tháng 2, 2012 | Rotterdam, Hà Lan | Cứng (i) | 6–1, 6–4 | |
| 72. | 2 tháng 3, 2012 | Dubai, UAE | Cứng | 7–5, 6–4 | |
| 73. | 18 tháng 3, 2012 | Indian Wells, Hoa Kỳ | Cứng | 7–67, 6–3 | |
| 74. | 13 tháng 5, 2012 | Madrid, Tây Ban Nha | Đất nện | 3-6, 7-5, 7-5 | |
| 75. | 8 tháng 7, 2012 | Giải Wimbledon, Anh | Cỏ | 4-6,7-5,6-3,6-4 | |
| 76. | 19 tháng 8, 2012 | Cincinati, Hoa Kỳ | Cứng | 6-0,7–67 |
Á quân đơn (34) [sửa]
| TT | Ngày | Giải đấu | Mặt sân | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 13 tháng 2, 2000 | Marseille, Pháp | Trải thảm (i) | 2-6, 6-3, 7-6(5) | |
| 2. | 29 tháng 10, 2000 | Basel, Thụy Sĩ | Trải thảm (i) | 6-2, 4-6, 7-6(4), 1-6, 6-1 | |
| 3. | 25 tháng 2, 2001 | Rotterdam, Hà Lan | Cứng (i) | 7-5, 3-6, 7-6(5) | |
| 4. | 28 tháng 10, 2001 | Basel, Thụy Sĩ | Trải thảm (i) | 6-3, 6-4, 6-2 | |
| 5. | 3 tháng 2, 2002 | Milano, Ý | Trải thảm (i) | 7-6(2), 4-6, 6-1 | |
| 6. | 31 tháng 3, 2002 | Miami, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3, 6-3, 3-6, 6-4 | |
| 7. | 11 tháng 5, 2003 | Rome, Ý | Đất nện | 7-5, 6-2, 7-6(10) | |
| 8. | 13 tháng 7, 2003 | Gstaad, Thụy Sĩ | Đất nện | 5-7, 6-3, 6-3, 1-6, 6-3 | |
| 9. | 20 tháng 11, 2005 | Tennis Masters Cup, Thượng Hải, Trung Quốc | Trải thảm (i) | 6-7(4), 6-7(11), 6-2, 6-1, 7-6(3) | |
| 10. | 5 tháng 3, 2006 | Dubai, UAE | Cứng | 2-6, 6-4, 6-4 | |
| 11. | 23 tháng 4, 2006 | Monte Carlo, Monaco | Đất nện | 6-2, 6-7(2), 6-3, 7-6(5) | |
| 12. | 14 tháng 5, 2006 | Rome, Ý | Đất nện | 6-7(0), 7-6(5), 6-4, 2-6, 7-6(5) | |
| 13. | 11 tháng 6, 2006 | Giải quần vợt Pháp Mở rộng, Paris, Pháp | Đất nện | 1-6, 6-1, 6-4, 7-6(4) | |
| 14. | April 22, 2007 | Monte Carlo, Monaco | Đất nện | 6–4, 6–4 | |
| 15. | June 10, 2007 | French Open, Paris | Đất nện | 6–3, 4–6, 6–3, 6–4 | |
| 16. | August 12, 2007 | Montréal, Canada | Cứng | 7–6(2), 2–6, 7–6(2) | |
| 17. | October 21, 2007 | Madrid, Spain | Cứng (trong nhà) | 1–6, 6–3, 6–3 | |
| 18. | April 27, 2008 | Monte Carlo, Monaco | Đất nện | 7–5, 7–5 | |
| 19. | May 18, 2008 | Hamburg, Germany | Đất nện | 7–5, 6–7(3), 6–3 | |
| 20. | June 8, 2008 | French Open, Paris | Đất nện | 6–1, 6–3, 6–0 | |
| 21. | July 6, 2008 | Wimbledon, London | Cỏ | 6–4, 6–4, 6–7(5), 6–7(8), 9–7 | |
| 22. | 1 tháng 2,2009 | Australian Open, Úc | Cứng | 5-7 , 6-3 , 6-7 , 6-3 , 2-6 | |
| 23. | 14 tháng 9,2009 | US Open, New York, Hoa Kỳ | Cứng | 6-3 , 6-7 , 6-4 , 6-7 , 2-6 | |
| 24. | 8 tháng 11, 2009 | Basel, Thụy Sĩ | Cứng (i) | 4-6, 6-4, 2-6 | |
| 25. | 16 tháng 5, 2010 | Madrid , Tây Ban Nha | Đất nện | 4-6, 6-7 | |
| 26. | 13 tháng 6, 2010 | Halle, Đức | Cỏ | 6-3, 6-7(4), 4-6 | |
| 27. | 15 tháng 8, 2010 | Toronto , Canada | Cứng | 5-7, 5-7 | |
| 28. | 17 tháng 10, 2010 | Thượng Hải , Trung Quốc | Cứng | 3-6, 2-6 | |
| 29. | 26 tháng 2, 2011 | Dubai, UAE | Cỏ | 3–6, 3–6 | |
| 30. | 5 tháng 6, 2011 | French Open, Paris | Đất nện | 5–7, 6–7(3–7), 7–5, 1–6 | |
| 31. | 17 tháng 6, 2012 | Halle, Đức | Cỏ | 6-7(5), 4-6 | |
| 32. | 5 tháng 8, 2012 | Olympics, Luân Đôn, Anh | Cỏ | 2-6, 1-6, 4-6 | |
| 33. | 28 tháng 10, 2012 | Basel, Thụy Sĩ | Cứng (i) | 4–6, 7–6(5), 6–7(7) | |
| 34. | 12 tháng 11, 2012 | Giải ATP World Tour Finals, London, UK | Cứng (i) | 6-7(9), 5-7 |
Vô địch đôi (8) [sửa]
| TT | Ngày | Giải đấu | Mặt sân | Đồng đội | Đối thủ | Tỷ số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1. | 25 tháng 2, 2001 | Rotterdam, Hà Lan | Cứng (i) | 6-3, 6-0 | ||
| 2. | 15 tháng 7, 2001 | Gstaad, Thụy Sĩ | Đất nện | 0-1 bỏ cuộc | ||
| 3. | 24 tháng 2, 2002 | Rotterdam, Hà Lan | Cứng (i) | 4-6, 6-3, 10-4 | ||
| 4. | 6 tháng 10, 2002 | Moskva, Nga | Trải thảm (i) | 6-4, 7-6(0) | ||
| 5. | 30 tháng 3, 2003 | Miami, Hoa Kỳ | Cứng | 7-5, 6-3 | ||
| 6. | 12 tháng 10, 2003 | Vienna, Áo | Cứng (i) | 7-6(7), 7-5 | ||
| 7. | 12 tháng 6, 2005 | Halle, Đức | Cỏ | 7-5, 6-7(6), 6-3 | ||
| 8. | 16 tháng 8, 2008 | Olympics, Bắc Kinh, Trung Quốc | Cứng | 6–3, 6–4, 6–7(4), 6–3 |
Bảng tổng kết [sửa]
| Giải đấu | 2013 | 2012 | 2011 | 2010 | 2009 | 2008 | 2007 | 2006 | 2005 | 2004 | 2003 | 2002 | 2001 | 2000 | 1999 | 1998 | Tổng cộng |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Úc mở rộng | BK | BK | BK | VĐ | CK | BK | VĐ | VĐ | BK | VĐ | TK | TK | V3 | V3 | - | - | 4 |
| Pháp mở rộng | BK | CK | TK | VĐ | CK | CK | CK | BK | V3 | V1 | V1 | TK | V4 | V1 | - | 1 | |
| Wimbledon | VĐ | TK | TK | VĐ | CK | VĐ | VĐ | VĐ | VĐ | VĐ | V1 | TK | V1 | V1 | - | 7 | |
| Mỹ mở rộng | TK | BK | BK | CK | VĐ | VĐ | VĐ | VĐ | VĐ | V4 | V4 | V4 | V3 | - | - | 5 | |
| Tennis Masters Cup | CK | VĐ | VĐ | BK | VB | VĐ | VĐ | CK | VĐ | VĐ | BK | - | - | - | - | 6 | |
| Indian Wells | VĐ | BK | V3 | BK | BK | V2 | VĐ | VĐ | VĐ | V2 | V3 | V1 | - | - | - | 4 | |
| Miami | V3 | BK | V4 | BK | TK | V4 | VĐ | VĐ | V3 | BK | CK | TK | V2 | V1 | - | 2 | |
| Monte Carlo | - | TK | - | V3 | CK | CK | CK | TK | - | - | V2 | TK | V1 | V1 | - | 0 | |
| Roma | BK | V3 | V2 | BK | TK | V3 | CK | - | V2 | CK | V1 | V3 | V1 | - | - | 0 | |
| Hamburg | ATP 500 | CK | VĐ | - | VĐ | VĐ | V3 | VĐ | V1 | V1 | - | - | 4 | ||||
| Madrid | VĐ | BK | CK | VĐ | BK | CK | VĐ | - | - | BK | TK | V2 | V2 | - | - | 3 | |
| Toronto / Montreal | - | V3 | CK | TK | V2 | CK | VĐ | - | VĐ | BK | V1 | - | V1 | - | - | 2 | |
| Cincinnati | VĐ | TK | VĐ | VĐ | V3 | VĐ | V2 | VĐ | V1 | V2 | V1 | - | V1 | - | - | 5 | |
| Thượng Hải | BK | - | CK | - | - | - | |||||||||||
| Paris | - | VĐ | BK | V2 | TK | V3 | - | - | - | TK | TK | V2 | V1 | - | - | 1 | |
| Tham dự | 17 | 16 | 18 | 15 | 19 | 16 | 17 | 15 | 17 | 23 | 25 | 21 | 28 | 14 | 3 | 247 | |
| Á quân | 4 | 2 | 4 | 3 | 4 | 4 | 4 | 1 | 0 | 2 | 2 | 2 | 2 | 0 | 0 | 30 | |
| Vô địch | 6 | 4 | 5 | 4 | 4 | 8 | 12 | 11 | 11 | 7 | 3 | 1 | 0 | 0 | 0 | 70 | |
| Sân cứng thắng-thua | 5-1 | 41-7 | 46-7 | 47-7 | 36-10 | 34-10 | 44-6 | 59-2 | 50-1 | 46-4 | 46-11 | 30-11 | 21-9 | 24-15 | 7-7 | 2-2 | 492–102 |
| Sân đất nện thắng-thua | 15-3 | 12-4 | 10-4 | 18-2 | 21-4 | 16-3 | 16-3 | 15-2 | 16-2 | 15-4 | 12-5 | 9-5 | 3-7 | 0-4 | 0-1 | 163–50 | |
| Sân cỏ thắng-thua | 15-2 | 6-1 | 8-2 | 7-0 | 11-1 | 6-0 | 12-0 | 12-0 | 12-0 | 12-0 | 5-3 | 9-3 | 2-3 | 0-2 | 0-0 | 102–15 | |
| Sân trải thảm thắng-thua | 0-0 | 0-0 | 0-0 | 0-0 | 0-0 | 2-0 | 5-0 | 4-1 | 0-0 | 5-2 | 11-4 | 10-4 | 7-4 | 6-4 | 0-0 | 50–19 | |
| Tổng thắng-thua | 71-12 | 64-12 | 65-13 | 61-12 | 66-15 | 68-9 | 92-5 | 81-4 | 74-6 | 78-17 | 58-22 | 49-21 | 36-30 | 13-17 | 2-3 | 807–186 | |
| Vị trí vào cuối năm | 2 | 3 | 2 | 1 | 2 | 1 | 1 | 1 | 1 | 2 | 6 | 13 | 29 | 64 | 301 | -- | |
Với: V1,2,3,4: vòng 1,2,3,4; VB: Vòng bảng (ở cúp Tennis masters); TK: tứ kết, BK: bán kết, CK: chung kết, VĐ: vô địch; --: không có thông tin, -: không tham gia; *: chưa xác định
Tổng tiền thưởng [sửa]
| Năm | Grand Slams | Vô địch ATP | Tổng cộng | Thu nhập ($) | Xếp hạng tiền thưởng |
|---|---|---|---|---|---|
| 1999 | 0 | 0 | 0 | 225.139[9] | 97[9] |
| 2000 | 0 | 0 | 0 | 623.782[10] | 27[10] |
| 2001 | 0 | 1 | 1 | 865.425[11] | 14[11] |
| 2002 | 0 | 3 | 3 | 1.995.027[12] | 4[12] |
| 2003 | 1 | 6 | 7 | 4.000.680[13] | 1[13] |
| 2004 | 3 | 8 | 11 | 6.357.547[14] | 1[14] |
| 2005 | 2 | 9 | 11 | 6.137.018[15] | 1[15] |
| 2006 | 3 | 9 | 12 | 8.343.885[16] | 1[16] |
| 2007 | 3 | 5 | 8 | 10.130.620[17] | 1[17] |
| 2008 | 1 | 3 | 4 | 5.886.879[18] | 2 [18] |
| 2009 | 2 | 2 | 4 | 8.768.110[19] | 1[19] |
| 2010 | 1 | 4 | 5 | 7.698.289[20] | 2[20] |
| 2011 | 0 | 4 | 4 | 5.744.576[21] | 3 [21] |
| 2012 | 1 | 5 | 6 | 7,424,842[22] | 2[22] |
| Sự nghiệp | 17 | 59 | 76 | $74,854,777[23] | 1[23] |
- Cập nhật ngày 12 tháng 11, 2012.
Ghi chú [sửa]
- ^ Huấn luyện viên Nick Bollettieri: To me, he's the best that's ever played.
- ^ Cựu danh thủ Jack Kramer: I have never seen anyone play the game better than Federer.
- ^ David Ferrer: Federer is the best in history.
- ^ Federer rolls past Murray to win 13th Grand Slam title
- ^ The Forehand of Roger Federer
- ^ Federer tops ATP career money list
- ^ Nadal outlasts Federer in epic final to halt streak at five
Chú thích [sửa]
- ^ “ATP website profile of Roger Federer”. ATP World Tour. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2009.
- ^ Brian Viner (2 tháng 7 năm 2005). “Roger Federer: A Smashing Guy”. The Independent (London). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2009.
- ^ “Off Court — Mr. and Mrs. Federer”. Roger Federer Official Website. 11 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2009.
- ^ “Roger Federer and wife are proud parents of twins”. OneIndia. 24 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009.
- ^ thắng Nadal trong trận chung kết Madrid Master
- ^ a b Po La (8 tháng 10 năm 2011). “Forehand của Federer - Tuyệt đỉnh công phu”. Trang TTĐT 24h. Truy cập 9 tháng 4 năm 2013.
- ^ Thể thao
- ^ Djokovic đoạt giải thưởng cá nhân cao quý nhất - VnExpress
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/13/99” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/18/00” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “Prize money leaders 11/19/01” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/09/02” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/15/03” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/13/04” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/19/05” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/18/06” (TXT). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2007.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/24/07” (TXT). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/29/08” (PDF). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010.
- ^ a b “ATP Prize Money for 12/28/2009” (TXT). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2010.
- ^ a b “ATP 2010 Prize Money for 12/27/2010” (TXT). Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2011.
- ^ a b “ATP 2011 Prize Money for 11/28/2011” (TXT). Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2011.
- ^ a b “ATP 2012 Prize Money for 11/12/2012” (TXT). Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2011.
- ^ a b “Career ATP Prize Money Leaders” (PDF). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2012.
Liên kết ngoài [sửa]
- Trang chủ của Roger Federer
- Lịch sử gọi tên Roger Federer trên trang Thể thao của Việt Nam Net ngày 28 tháng 1 năm 2007.
| Vị trí thể thao | ||
|---|---|---|
| Tiền nhiệm: Andy Roddick Rafael Nadal |
Tay vợt nam số 1 thế giới 2 tháng 2 năm 2004-18 tháng 8 năm 2008 6 tháng 7 năm 2009-7 tháng 6 năm 2010 |
Kế nhiệm: Rafael Nadal Rafael Nadal |
| Giải thưởng và thành tích | ||
| Hiệp hội quần vợt nhà nghề 10 tay vợt nam hàng đầu tính đến 12 tháng 11 năm 2012 |
|||||
|---|---|---|---|---|---|
|
|
|||||
|
|||||
|
|||||
|
|||||
|
|||||
|
|||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Roger Federer. |