Phụ nữ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ".
Mục lục |
[sửa] Từ nguyên
| Nội dung và quan điểm của bài hoặc đoạn này có thể thể hiện một tầm nhìn hẹp. Xin cải thiện bài này hoặc thảo luận về vấn đề này tại trang thảo luận. |
Trong tiếng Việt, chữ "phụ nữ" bắt nguồn từ chữ Hán 婦女. Chữ "phụ" có nghĩa là vợ hay nàng dâu, còn "nữ" có nghĩa là "con gái".
Trong tiếng Anh từ man (từ một từ trong nhóm ngôn ngữ Chung Đức (Urgermanisch) mannaz "con người") và những từ có gốc từ đó có thể được dùng trong nhiều hoặc thậm chí là tất cả con người không kể đến tuổi tác hay giới tính. Thực vậy, nó là cách dùng từ man cổ nhất trong tiếng Anh. Nó bắt nguồn từ từ gốc Ấn-Âu tiền sử (Proto-Indo-European) 'man, human' cùng họ hàng với từ tiếng Phạn manu, tiếng Slavơ Nhà thờ cổ (Old Church Slavonic language) mǫžĭ, 'man', 'husband'.
Trong tiếng Anh cổ từ wer và wyf (hay wæpman và wifman) được dùng để chỉ đến "a man" (một người đàn ông) và "a woman" (một người phụ nữ) một cách đầy tôn kính, và "man" chỉ đến cả hai một cách chung chung. Trong tiếng Anh trung cổ từ man thế từ wer trong việc chỉ con người gốc đực. ("Wif" thì phát triển thành từ "wife" (vợ). Man không còn tiếp tục vai trò chỉ đến con người, kết quả là một sự mất cân bằng, đôi khi bị chỉ trích là thành kiến giới tính.[1] (xem thêm Womyn.)
Trong một gốc chung rộng Âu-Ấn cho woman *gwen, là nguồn gốc cho từ tiếng Anh queen. (tiếng Anh cổ cwēn có nghĩa trước hết là woman, quý tộc hay bình dân; nó là điều vẫn còn áp dụng ở Đan Mạch, với cách viết hiện đại kvinde), cũng như là gynaecology (từ tiếng Hy Lạp gynē), banshee người phụ nữ xinh đẹp (từ tiếng Ireland bean woman phụ nữ, sí fairy xinh đẹp). Tiếng La Tinh fēmina, gốc của female, có thể có gốc từ fellāre (nghĩa là để bú mớm), chỉ đến việc nuôi con bằng sữa mẹ.[2][3]
Vật tượng trưng cho Sao Kim (tiếng Anh là Venus, tên của vị thần tình yêu và sắc đẹp) là một biểu tượng cho phái nữ. Nó là một kiểu biểu hiện lại gương cầm tay của nữ thần Venus hoặc là một biểu tượng có tính trừa tượng của Venus: một hình tròng có một chữ thập cắm vào bên dưới (Unicode: ♀). Biểu tượng của Venus còn biểu hiện nữ tính, và trong thuật giả kim cổ với đồng. Các Nhà Giả Kim làm biểu tượng này từ một vòng tròn, tượng trưng cho linh hồn) trên một chữ thập đều (tượng trưng cho vật chất).
[sửa] Các cách gọi với các ý nghĩa hơi khác nhau
- Nữ giới: viết, gọi tắt của phụ nữ, khi đặt trong quan hệ về mặt tổng thể với nam giới.
- Nữ nhi: thường nhắc tới khi nói về đàn bà, con gái còn trẻ
- Con gái: người nữ chưa quan hệ tình dục lần nào, chưa đẻ con
[sửa] Sinh học và giới tính
Về sinh học, cơ quan sinh dục nữ gồm trong hệ sinh sản, theo đó các đặc điểm sinh dục thứ hai có nhiệm vụ nuôi dưỡng đứa trẻ hay, trong một số nền văn hoá, thu hút nam giới. Buồng trứng, ngoài chức năng thường xuyên tạo hormone, còn tạo ra các giao tử nữ được gọi là trứng mà, khi được thụ tinh bởi các giao tử nam (tinh trùng), hình thành nên các cá nhân di truyền mới. Buồng trứng là một cơ quan có mô để bảo vệ và nuôi dưỡng bào thai đang phát triển và cơ để đẩy khi sinh đẻ. Âm đạo được sử dụng trong giao cấu và sinh đẻ (dù từ âm đạo thường được dùng một cách thông tục và không chính xác để chỉ âm hộ hay cơ quan sinh dục ngoài của phụ nữ, vốn cũng gồm môi âm hộ, âm vật, và niệu đạo nữ). Ngực phát triển từ tuyến mồ hôi để tạo sữa, một chất dinh dưỡng là đặc điểm riêng có của loài có vú, cùng với việc sinh con. Ở phụ nữ trưởng thành, vú nói chung có kích thước lớn hơn hầu hết các loài động vật có vú khác, kích thước lớn này, không cần thiết cho việc tạo sữa, có lẽ ít nhất một phần là kết quả của sự chọn lọc giới tính. (Về những điều khác biệt khác nữa về thể chất giữa nam và nữ, xem Nam.)
Một mức độ mất cân bằng hormone của người mẹ và một số loại hoá chất (hay thuốc) có thể làm thay đổi những đặc điểm giới tính thứ hai của bào thai. Đa số phụ nữ có karyotype 46,XX, nhưng khoảng một phần ngàn sẽ là 47,XXX, và một trên 2500 sẽ là 45,X. Nó trái ngược với karotype đặc trưng nam 46,XY; vì thế, X và các nhiễm sắc thể Y được gọi là nữ và nam. Bởi con người được thừa hưởng mitochondrial DNA chỉ từ tế bào trứng của mẹ, các cuộc nghiên cứu gene của phụ nữ thường có khuynh hướng tập trung vào mitochondrial DNA.
Các yếu tố sinh học không phải là các yếu tố đủ để quyết định liệu một người tự coi mình là một phụ nữ hay bị coi là một phụ nữ. Các cá nhân chuyển giới tính (Intersex), có lẫn các đặc điểm thể hình và/hay gene, có thể sử dụng tiêu chí khác trong việc xác định giới tính rõ ràng. Cũng có các phụ nữ lưỡng giới tính hay chuyển giới tính, những người khi sinh hay về thân thể được cho là nam giới lúc sinh, nhưng được xác định là nữ; có những định nghĩa xã hội, pháp lý và cá nhân khác nhau về các vấn đề đó. (Xem transwoman.)
Dù có ít nữ được sinh ra hơn nam (tỷ lệ khoảng 1:1.05), vì có tuổi thọ dài hơn chỉ có 81 nam giới ở hay trên độ tuổi 60 cho mỗi 100 phụ nữ ở cùng lứa tuổi. Phụ nữ thường có tuổi thọ dài hơn nam giới.[4] Điều này bởi sự tổng hợp các yếu tố: gene (có nhiều và đa dạng gene hiện diện trong các nhiếm sắc thể giới tính ở phụ nữ); xã hội học (như không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự ở hầu hết các quốc gia); các lựa chọn liên quan tới sức khoẻ (như tự tử hay hút thuốc lá, uống rượu); sự hiện diện của estrogen hormone nữ, vốn có hiệu ứng bảo vệ tim. và joêik ứmg kích thích tố nam cao ở nam giới. Trong tổng dân số nhân loại, có 101.3 nam trên mỗi 100 nữ (nguồn: 2001 World Almanac).
Đa số phụ nữ trải qua quá trình có kinh nguyệt và sau đó có thể mang thai và sinh đẻ.[5] Điều này nói chung đòi hỏi sự thụ tinh bên trong của trứng với tinh trùng của một người đàn ông qua quan hệ tình dục, dù thụ tinh nhân tạo hay cấy tinh trùng đã thụ tinh sẵn cũng có thể được thực hiện (xem kỹ thuật sinh sản). Việc nghiên cứu sinh sản nữ và các cơ quan sinh sản được gọi là phụ khoa.
Có một số bệnh chủ yếu ảnh hưởng tới nữ, như lupus. Tương tự, có một số bệnh liên quan tới giới tính thường xuyên hay chỉ xảy ra với nữ giới, ví dụ ung thư vú, ung thư cổ tử cung, hay ung thư buồng trứng. Phụ nữ và nam giới có thể có các triệu chứng bệnh khác nhau và có thể phản ứng khác nhau với việc điều trị y tế. Lĩnh vực này của nghiên cứu y học được gọi là y khoa dựa trên giới tính.
Trong giai đoạn đầu phát triển của bào thai, thai nhi ở cả hai giới tính thể hiện trung tính; việc sản sinh các hormone là cái làm thay đổi vẻ ngoài về hình thể của nam và nữ. Như trong trường hợp không có hai giới tính, các loài như vậy sinh sản vô tính, vẻ ngoài trung tính gần với nữ hơn là nam.
[sửa] Văn hoá và vai trò giới tính
|
Một phụ nữ đang dệt. Dệt theo lịch sử là một công việc của phụ nữ ở một số nền văn hoá.
|
|
Tập tin:Roundhouse wipers.jpg
Những phụ nữ làm công việc vệ sinh trong xưởng xe lửa đang ăn trưa, Chicago and North Western Railway, 1942. Trong Thế chiến II, phụ nữ đảm nhiệm nhiều công việc vốn trước kia chỉ dành cho đàn ông.
|
Trong nhiều nền văn hoá tiền sử, phụ nữ có một vai trò văn hoá riêng biệt. Trong các xã hội săn bắn hái lượm, phụ nữ nói chung hái lượm các loại cây lương thực, bắt các loại thú nhỏ, câu cá làm thức ăn và học sử dụng các sản phẩm sữa, trong khi đàn ông săn thịt từ các loại thú lớn.
Trong lịch sử gần đây hơn, các vai trò giới của phụ nữ đã thay đổi rất lớn. Theo truyền thống, phụ nữ tầng lớp trung lưu chủ yếu tham gia vào các trách nhiệm trong gia đình có nhấn mạnh tới việc chăm sóc trẻ em. Với phụ nữ nghèo hơn, đặc biệt là phụ nữ thuộc tầng lớp lao động, điều này vẫn thường chỉ là một hoàn cảnh lý tưởng,Bản mẫu:Specify bởi nhu cầu kinh tế buộc họ phải kiếm việc bên ngoài gia đình. Tuy nhiên, những công việc họ có thể làm thường bị trả lương thấp hơn so với nam giới.
Khi những thay đổi trong thị trường lao động cho phụ nữ diễn ra, những công việc họ có thể đảm nhiệm thay đổi từ chỉ những công việc "bẩn thỉu" kéo dài trong các nhà máy như các "lao công", trở thành các công việc văn phòng được tôn trọng nhiều hơn nơi cần các lao động có trình độ, sự tham gia của phụ nữ vào lực lượng lao động Hoa Kỳ đã tăng từ 6% năm 1900 lên 23% năm 1923. Những thay đổi đó trong lực lượng lao động đã dẫn tới những thay đổi trong thái độ của phụ nữ tại nơi làm việc, cho phép những sự phát triển khiến phụ nữ trở nên có định hướng về nghề nghiệp và giáo dục lớn hơn.
Các phong trào ủng hộ cơ hội bình đẳng cho cả hai giới và quyền bình đẳng không cần biết tới giới tính. Thông qua một sự phối hợp những thay đổi về kinh tế và những nỗ lực của phong trào nữ quyền,Bản mẫu:Specify trong những thập kỷ gần đây phụ nữ ở hầu hết các xã hội đã có quyền tiếp cận với nghề nghiệp bên ngoài công việc chăm sóc gia đình truyền thống.
Nhiều nhà quan sát [ai nói?], gồm cả các nhóm nữ quyền, vẫn cho rằng phụ nữ trong ngành công nghiệp và thương mại phải đối mặt với sự bất bình đẳng trong thăng tiến nghề nghiệp.
[sửa] Giáo dục và việc làm
[sửa] Các quốc gia OECD
- Giáo dục
Sự khác biệt giới tính tại các quốc gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã được giảm bớt trong 30 năm qua. Phụ nữ trẻ ngày nay hầu hết đều có trình độ giáo dục cấp ba: tại 19 trong số 30 nước thuộc OECD, số phụ nữ trong độ tuổi 25 tới 34 đã hoàn thành giáo dục cấp ba lớn gấp hai lần số phụ nữ trong độ tuổi 55 tới 64. Tại 21 trong 21 quốc gia OECD với dữ liệu có thể so sánh, số lượng phụ nữ tốt nghiệp các chương trình cấp đại học tương đương hay vượt quá số lượng nam giới. Các cô bé 15 tuổi thường có nhiều dự định nghề nghiệp hơn các cậu bé cùng độ tuổi.[6]
Tuy phụ nữ chiếm hơn một nửa số người tốt nghiệp đại học ở nhiều quốc gia OECD, họ chỉ nhận được 30% bằng cấp giáo dục cấp ba được trao về khoa học và kỹ sư, và phụ nữ chỉ chiếm 25% tới 35% số nhà nghiên cứu tại hầu hết các quốc gia OECD.[7]
[sửa] Xem thêm
[sửa] Đọc thêm
- Chafe, William H., "The American Woman: Her Changing Social, Economic, And Political Roles, 1920-1970", Oxford University Press, 1972. ISBN 0-19-501785-4
- Roget’s II: The New Thesaurus, (Boston: Houghton Mifflin, 2003 3rd edition) ISBN 0-618-25414-5
- McWhorter, John. 'The Uses of Ugliness', The New Republic Online, January 31, 2002. Retrieved May 11 2005 ["bitch" as an affectionate term]
- McWhorter, John. Authentically Black: Essays for the Black Silent Majority (New York: Gotham, 2003) ISBN 1-59240-001-9 [casual use of "bitch" in ebonics]
- Routledge international encyclopedia of women, 4 vls., ed. by Cheris Kramarae and Dale Spender, Routledge 2000
- Women in world history : a biographical encyclopedia, 17 vls., ed. by Anne Commire, Waterford, Conn. [etc.] : Yorkin Publ. [etc.], 1999 - 2002
[sửa] Tham khảo
- ^ http://dictionary.reference.com/search?q=man Dictionary.reference.com
- ^ http://www.bartleby.com/61/34/Q0023400.html Bartleby.com
- ^ http://www.bartleby.com/61/52/F0075200.html Bartleby.com
- ^ “Why is life expectancy longer for women than it is for men?”. Scientific American (30 tháng 8 năm 2004). Truy cập 17 tháng 10 năm 2009.
- ^ Menarche and menstruation are absent in many of the intersex and transgender conditions mentioned above and also in primary amenorrhea.
- ^ Education Levels Rising in OECD Countries but Low Attainment Still Hampers Some, Organisation for Economic Co-operation and Development, Publication Date: 14/09/2004. Retrieved December 2006.
- ^ Women in Scientific Careers: Unleashing the Potential, Organisation for Economic Co-operation and Development, ISBN 92-64-02537-5, Publication Date: 20/11/2006. Retrieved December 2006.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: |
| Wikiquote có sưu tập danh ngôn về: |
| Tra phụ nữ trong từ điển mở tiếng Việt Wiktionary |
- Lịch sử
- Women's History in America
- A History of Women’s Entrance into Medicine in France studies and digitized texts by the BIUM (Bibliothèque interuniversitaire de médecine et d'odontologie, Paris)see its digital library Medic@.
- Tôn giáo