La Paz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
La Paz
Chuqiyapu
Nuestra Señora de La Paz
Lá cờ La Paz
Lá cờ
Con dấu chính thức của La Paz
Con dấu
Khẩu hiệu: "Los discordes en concordia, en paz y amor se juntaron y pueblo de paz fundaron para perpetua memoria"
Tọa độ: 16°30′N 68°09′T / 16,5°N 68,15°T / -16.500; -68.150
Quốc gia Bolivia
Phân bộ La Paz Department (Bolivia)
Tỉnh Pedro Domingo Murillo Province
Thành lập October 20 1548
Incorporated (El Alto) 20th century
Chính quyền
 - Thị trưởng Juan Del Granado
Diện tích
 - Tổng cộng 470 km² (181,5 mi²)
Độ cao 3.640 m (11.942 ft)
Dân số (2006)
 - Tổng cộng 1.250.000 (2.005 est)
 - Mật độ 6.275,16/km² (16.252,6/mi²)
Mã điện thoại 2
Website: www.ci-lapaz.gov.bo/

La Paz là thủ đô hành chính của Bolivia, cùng là lỵ sở phân bộ La Paz. Theo thống kê năm 2001, dân số thành phố cùng vùng phụ cận (thị trấn El Alto và Viacha) là khoảng hơn 1 triệu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

La Paz nguyên thủy là ngôi làng "Chuquiago" của thổ dân châu Mỹ. Năm 1548 Alonso de Mendoza người Tây Ban Nha đến khai phá, đổi tên thị trấn thành Nuestra Señora de La Paz (nghĩa là "Đức Bà Hòa bình"; tiếng Việt thường dịch là "Nữ vương Hòa bình") để kỷ niệm ngày tái lập hòa bình sau vụ nổi loạn của Gonzalo Pizarro bốn năm trước. Địa vị quan trọng của La Paz là án ngữ huyết lộ đưa kim loại quý như vàng, bạc... từ mỏ trên núi vùng Potosí xuống vùng duyên hải Lima.

Kế hoạch xây dựng thành phố là do Juan Gutierrez đảm nhiệm. Các đồ án như công trường Murillo và dinh thự công quyền dần hình thành. Với sự phát triển đô thị, thị trấn La Paz biến thành trung tâm kinh tế địa phương vùng Altiplano. Ở vùng ngoại ô các chủ điền người Tây Ban Nha cho lập đồn điền rồi mướn thổ dân làm công. Cũng trong thời gian đó xã hội La Paz biến đổi với lớp người mestizo (người thổ dân lai người châu Âu) hình thành và lần hồi chiếm đa số.

Năm 1825 để kỷ niệm chiến thắng trận Ayacucho của lực lượng Cộng hòa đánh tan quân của triều đình Tây Ban Nha, tên thành phố lại đổi là La Paz de Ayacucho (Hòa bình Ayacucho). Đây là mốc lịch sử mở đầu cho nước Bolivia độc lập.

La Paz lớn dần và chiếm ưu thế làm trung tâm thương mại của nước Bolivia non trẻ. Thành phần dân ngụ cư quyền thế nhất là lớp chủ điền trong khi lớp tá điền thổ dân tiếp tục canh tác đất đai đồn điền ngoại vi. Những dinh thự tráng lệ nay còn thấy ở trung tâm thành phố là chứng tích sót lại của cuộc sống chủ điền giàu sang.

Bản đồ Bolivia trích từ CIA World Factbook.

Mặc dù phồn thịnh, thành phố La Paz và cả Bolivia nói chung vẫn kém về mặt xây dựng hạ tầng cơ sở. Đường sá nối liền La Paz và các tỉnh thường xấu nên khi Cuộc chiến Thái Bình Dương bùng nổ giữa ChileBolivia năm 1879, quân Chile nhanh chóng làm chủ tình hình vùng duyên hải và Bolivia mất đường thông ra biển. Trong bối cảnh khó khăn đó, La Paz lại phát triển mạnh và đoạt địa vị được lập làm thủ đô Bolivia năm 1898. Tuy nhiên thủ đô Sucre vẫn duy trì vai trò là thủ đô lập hiến với trụ sở Tối cao pháp viện của Bolivia vẫn lưu ở Sucre trong khi hai ngành lập pháphành pháp thì chuyển về La Paz. Việc chuyển thủ đô phản ảnh cán cân quyền lực và tài lực nghiêng hẳn về các mỏ thiếc vùng Ouro (gần La Paz) trong khi mỏ bạc vùng Potosí (gần Sucre) đã cạn kiệt.